3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.2. Nội dung, phương pháp, công cụ quản lý phát triển đội ngũ
13
13
giáo viên Trung học cơ sở
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển đội ngũ giáo
22
viên Trung học cơ sở
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
32
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN MÊ LINH
2.1. Thực trạng qui mô phát triển và chất lượng giáo dục tại các
37
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
93
97
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
83
88
4
Quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi sự nỗ lực của
toàn xã hội; trong đó, đội ngũ nhà giáo có vai trò hết sức quan trọng. Bởi
vì, họ chính là lực lượng trực tiếp đóng góp vào sự đổi mới , nhân tố quyết
định đến chất lượng giáo dục của mỗi nhà trường và của toàn bộ nền giáo
dục quốc dân. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đội ngũ giáo
viên cần phải đáp ứng được những yêu cầu cao về phẩm chất và năng lực
chuyên môn sư phạm.
Là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi
giáo dục, đào tạo (GD-ĐT) là quốc sách hàng đầu và là sự nghiệp của toàn
Đảng, toàn dân. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo
đội ngũ giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên trung học cơ sở nói riêng đủ
về số lượng, đáp ứng nhu cầu về chất lượng. Nhờ đó, phần lớn giáo viên trung
học cơ sở huyện Mê Linh hiện nay đều đã có trình độ đào tạo đạt chuẩn và
trên chuẩn, trong đó giáo viên THCS đạt 98,25%. Mặt khác, công tác bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đội ngũ giáo viên cũng được
ngành GD và ÐT chú trọng. Tỷ lệ giáo viên được bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ ở các các trường trung học cơ sở trong huyện hằng năm đều đạt
hơn 90%. Việc chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở không
chỉ tập trung phấn đấu để đạt trình độ đào tạo trở lên mà còn chủ yếu nhằm
hình thành ở họ lòng yêu nghề, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh
thần trách nhiệm cao trong công việc, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Do đó, năng lực sư phạm
6
của phần lớn giáo viên trung học cơ sở được nâng lên đáp ứng nhu cầu đổi
mới nội dung, phương pháp dạy học.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo
trong thời kỳ CNH, HÐH, đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở huyện Mê Linh
vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế. Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, nhất là
giáo viên có năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm tốt. Đội ngũ GV cơ bản
đủ về số lượng, song vẫn chưa đồng bộ về cơ cấu bộ môn, dẫn đến tình trạng
thiếu GV ở một số môn học. Cơ cấu giáo viên vẫn còn mất cân đối giữa các
môn học. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt
chưa đáp ứng yêu cầu. Phương pháp dạy học của nhiều giáo viên vẫn nặng về
truyền đạt lý thuyết mà ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ
năng thực hành của học sinh. Vẫn còn một số trường trung học cơ sở trong
huyện thiếu giáo viên các môn có tính đặc thù như âm nhạc, mỹ thuật, thể
dục, giáo dục công dân, ngoại ngữ... Mặt khác, tỷ lệ giáo viên có trình độ đạt
chuẩn cao nhưng chưa tương xứng với yêu cầu về chất lượng, về kỹ năng sư
thống đào tạo giáo viên chuyên nghiệp, nhà giáo thường xuất thân là các tu sĩ
và linh mục. Thời kỳ sau đó bắt đầu xuất hiện nhu cầu cần có hệ thống quản lý.
Tuy nhiên, thực tế việc đào tạo đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp trong hệ thống
các trường sư phạm chỉ mới được bắt đầu ở Séc vào cuối thế kỷ 17 theo tư
tưởng của nhà giáo dục học vĩ đại I.G Pectalogi (Áo).
Những năm gần đây, ở nước ngoài cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu
về quản lý đội ngũ giáo viên như: Giáo sư Cindy Epperson (2008) - Trường
Cao đẳng Cộng đồng St. Louis, Missouri, USA, nhận định về nguồn vốn con
người trong giáo dục: “là yếu tố quan trọng đối với mức độ phát triển giáo
dục của một quốc gia. Trình độ của nguồn nhân lực của một quốc gia xác định
vị trí của nền giáo dục quốc gia đó trên thế giới”. Kent Farnsworth (1996)–
Hiệp hội các trường cao đẳng cộng đồng Hoa Kỳ Tham luận: “Phát triển
8
nguồn nhân lực thông qua giáo dục”. Ông nhận định: “Nền kinh tế thế giới
đang thay đổi khi tri thức thay thế cho nguồn vốn tự nhiên để thành nguồn tài
sản hiện hành. Tri thức, các kỹ năng và tài tháo vát của con người đang ngày
càng trở nên quan trọng đối với nền kinh tế thế giới.” TS. Goerge Goerner –
Trường CĐCĐ Mohawk Valley, Hoa Kỳ có nghiên cứu: “Các yêu cầu đòi hỏi
giáo viên và sinh viên thay đổi trong nền kinh tế thị trường”. Tác giả đã nêu
yêu cầu: “Người thầy trong tương quan với toàn thế giới; thay đổi từ “nơi
dạy” thành “nơi học tập và giáo viên dạy sao cho học sinh có thể tồn tại được
trong môi trường thế giới hiện tại” . Trong công trình này, tác giả đã nhấn
mạnh đến yếu tố quản lý đội ngũ giảng viên nhằm củng cố sứ mệnh và giá trị
của trường đại học. Từ kết quả nghiên cứu của mình, tác giả cũng đã đề ra
những mục tiêu và giải pháp cụ thể đối với việc quản lý đội ngũ giáo viên.
John Murray, đại học Texas Tech University (Hoa Kỳ), với đề tài “Sự phát
triển đổi mới đội ngũ giảng viên”, đã xác định những bước cụ thể của quản lý
đội ngũ giáo viên như là chìa khóa dẫn đến thành công. Đavid C.B. (1979,
THCS. PGS. TS Hoàng Tâm Sơn trong nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Một số vấn
đề tổ chức khoa học lao động của người Hiệu trưởng” đã đưa ra các giải pháp
và kiến nghị về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục các tỉnh phía Nam
trước yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong những năm đầu
của thế kỷ XXI: “Đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn,
nghiệp vụ cho cán bộ quản lý giáo dục các trường từ Mầm non đến THCS,
Cao đẳng, Đại học nhằm tạo điều kiện cho cán bộ quản lý giáo dục không
ngừng nâng cao trình độ, tiếp cận với những kinh nghiệm tiên tiến nhất trong
việc tổ chức quản lý, giảng dạy và học tập ở nhà trường”. Luận văn Thạc sĩ:
“Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng
Trường THCS bán công trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Vũ
10
Thị Thu Huyền. “Các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý giai đoạn 2006-2010 trường THCS tỉnh Quảng Nam” của tác giả
Phạm Đình Ly. Trong công trình này đã nêu lên những ưu, nhược
điểm và các giải pháp trong công tác xây dựng và phát triển
đội ngũ GV trường THCS tỉnh Quảng Nam . Đề tài: “Thực trạng và
biện pháp QL đội ngũ giảng viên ở trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh” của tác giả Nguyễn Kỷ Trung. Trong công trình này, tác giả
đã đánh giá thực trạng, chỉ ra yêu cầu bức thiết của Thành
phố Hồ Chí Minh cần đưa ra các giải pháp cần thiết cho việc
quản lý đội ngũ giáo viên ở trường Đại học sư phạm. Tuy
nhiên, về công tác tổ chức cán bộ, mà cụ thể hơn là công tác
quản lý phát triển đội ngũ giảng viên của trường thì đề tài
trên chưa nghiên cứu sâu. Đề tài: “Một số giải pháp xây dựng và nâng
cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng,
thành phố Hồ Chí Minh” đã nêu lên những ưu, nhược điểm và các giải pháp
trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ GV tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học
cơ sở công lập trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong bối cảnh
hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu: Quản lý đội ngũ giáo viên THCS công lập huyện Mê
Linh, Thành phố Hà Nội.
* Đối tượng nghiên cứu: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS
công lập huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu:
12
- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu thực trạng
quản lý đội ngũ giáo viên trung học cơ sở công lập trên địa bàn huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội.
- Giới hạn về đơn vị khảo sát: Đề tài chỉ khảo sát việc quản lý phát triển
đội ngũ giáo viên trung học cơ sở công lập trên địa bàn huyện Mê Linh, thành
phố Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2009 đến 2013.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
công lập của huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội còn nhiều bất cập ở các khâu
quy hoạch, dự báo, tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên còn
nhiều hạn chế. Nếu khảo sát và đánh giá đúng thực trạng QL đội
ngũ GV THCS ở huyện Mê Linh thì có thể đề xuất được các
biện pháp QL đội ngũ GV phù hợp, khả thi, đáp ứng được yêu cầu
của đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường THCS của
huyện.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
tiễn quản lý phát triển đội ngũ GV THCS huyện Mê Linh; cung cấp những
luận cứ khoa học, giúp cho Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường, cấp uỷ, thủ
trưởng các cơ quan của Phòng Giáo dục, Sở Giáo dục trong lãnh đạo, chỉ đạo,
quản lý đội ngũ GV THCS huyện Mê Linh.
Sản phẩm của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà
trường trong huyện Mê Linh và thành phố Hà Nội.
8. Kết cấu của luận văn
Đề tài gồm: Phần mở đầu, 3 chương, kết luận và kiến nghị, danh mục
tài liệu tham khảo, phụ lục.
14
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
Đội ngũ: Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học nêu khái niệm: “Đội
ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một
lực lượng ” [ 29 ; 328]. Ở một nghĩa chung nhất có thể hiểu: Đội ngũ là tập
hợp một số đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều
chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục
đích xác định; họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật
chất và tinh thần cụ thể.
Đội ngũ giáo viên: Theo Điều 70, Luật GD sửa đổi – năm
2005: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, GD trong
nhà trường, cơ sở GD khác. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở
GD mầm non, GD phổ thông, GD nghề nghiệp gọi là GV; nhà
giáo giảng dạy ở các cơ sở GD đại học gọi là giảng viên.”
). Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo trong nhà
trường. Chất lượng của quá trình đó thể hiện chủ yếu ở chất lượng của sản
phẩm giáo dục, đó chính là nhân cách của học sinh sau khi kết thúc một
quá trình đào tạo. Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã chỉ ra rằng: "Giáo
viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn
vinh. Giáo viên phải có đủ đức, tài" [2,tr 40].
16
Giáo viên trung học cơ sở là loại giáo viên phổ thông, giảng dạy một
bộ môn trong trường trung học cơ sở. Tiêu chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung
học cơ sở được quy định theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT (22/10/2009)
của Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể tóm tắt ngắn gọn như sau:
Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống bao gồm Tiêu chí 1.
Phẩm chất chính trị; Tiêu chí 2. Đạo đức nghề nghiệp; Tiêu chí 3. ứng xử với học
sinh; Tiêu chí 4. ứng xử với đồng nghiệp; Tiêu chí 5. Lối sống, tác phong
Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục, bao
gồm Tiêu chí 6. Tìm hiểu đối tượng giáo dục; Tiêu chí 7. Tìm hiểu môi
trường giáo dục
Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học, bao gồm: Tiêu chí 8. Xây dựng kế
hoạch dạy học; Tiêu chí 9. Đảm bảo kiến thức môn học; Tiêu chí 10. Đảm bảo
chương trình môn học; Tiêu chí 11. Vận dụng các phương pháp dạy học; Tiêu
chí 12. Sử dụng các phương tiện dạy học; Tiêu chí 13. Xây dựng môi trường
học tập; Tiêu chí 14. Quản lý hồ sơ dạy học; Tiêu chí 15. Kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập của học sinh
Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục, bao gồm: Tiêu chí 16. Xây dựng kế
hoạch các hoạt động giáo dục; Tiêu chí 17. Giáo dục qua môn học; Tiêu chí
18. Giáo dục qua các hoạt động giáo dục; Tiêu chí 19. Giáo dục qua các hoạt
động trong cộng đồng; Tiêu chí 20. Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình
thức tổ chức giáo dục ; Tiêu chí 21. Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của
trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu
của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp. Đội ngũ giáo viên là
một bộ phận của nguồn nhân lực trong nhà trường phổ thông cơ sở. Phát triển
đội ngũ giáo viên Trường THCS là tạo ra một đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng,
đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu chuyên môn, độ tuổi, giới tính, thực hiện
có hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
18
Cụ thể, đủ về số lượng theo quy định của Điều lệ trường
THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có
nhiều cấp học ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐBGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ GD&ĐT và định mức theo
Thông
tư
liên
tịch
số
35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV
ngày
23/8/2006 giữa Bộ GD&ĐT và Bộ nội vụ. Đối với trường phổ thông
cơ sở, số lượng của đội ngũ giáo viên được xác định trên cơ sở tỷ lệ số học
sinh trên một giáo viên theo yêu cầu của trường trung học cơ sở chuẩn quốc
gia.
liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh. Có lối sống hòa nhập với cộng đồng, phù hợp với bản
sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội; biết ủng
hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến
bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ.
Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học; có
thái độ văn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp
với đồng nghiệp, với người học, giải quyết công việc khách
quan, tận tình, chu đáo. Trang phục, trang sức khi thực hiện
nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự, phù hợp với nghề
dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người
học. Đoàn kết, giúp đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm
vụ; đấu tranh ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và
các quy định nghề nghiệp. Quan hệ, ứng xử đúng mực, gần
gũi với nhân dân, phụ huynh HS, đồng nghiệp và người học;
kiên quyết đấu tranh với các hành vi trái pháp luật. Xây dựng
gia đình văn hóa, thương yêu, quý trọng lẫn nhau; biết quan
20
tâm đến những người xung quanh; thực hiện nếp sống văn
hóa nơi công cộng.
- Về phẩm chất chính trị: Chấp hành nghiêm chỉnh chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật.
Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận
chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, GD và đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Có ý thức tổ chức kỷ luật,
chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức; có ý
thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung. Gương mẫu thực hiện
Tổ
CM
1
Tổ
CM
2
Tổ
CM
3
Hội đồng trường
Hiệu phó 2
Tổ
CM
4
Các
ban
Chức
năng
Ban
HCQT
Quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường PTCS: Tổ chức
giáo viên cần có kiến thức sâu rộng và lòng nhân ái sư phạm cao. Phương tiện
lao động sư phạm cũng rất đặc thù. Đó là nhân cách người thầy cùng các thiết
bị dạy học, trong đó nhân cách người thầy có vai trò quan trọng nhất. Sản
phẩm lao động sư phạm là nhân cách học sinh phát triển toàn diện, đạt được
mục tiêu giáo dục của nhà trường. Lao động sư phạm của người giáo viên vừa
mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật và tính nhân đạo cao cả. Nó
mang tính đặc thù của nghề sư phạm đồng thời có sự liên kết, cộng tác, phối
hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Mục tiêu quản lý phát triển đội ngũ là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân
lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho
23
người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của
mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với
thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công
việc trong tương lai.
Như vậy có thể hiểu, Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS Huyện
Mê Linh, Thành phố Hà Nội là hệ thống những tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý làm cho đối tượng quản lý (đội ngũ giáo viên THCS Huyện Mê Linh,
Thành phố Hà Nội) chuyển biến theo chiều hướng tích cực, đủ về số lượng,
tăng về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, thay đổi cả về nội dung và hình thức
đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo của địa phương và đất nước.
Mục đích của quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS Huyện Mê Linh,
Thành phố Hà Nội là nhằm bảo đảm đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn
chất lượng từ đó góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT của địa phương.
Chủ thể lãnh đạo quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS Huyện Mê
Linh, Thành phố Hà Nội là tổ chức đảng, nhà quản lý các cấp, các cơ quan chức
năng và nhà trường.
đó là kế hoạch mang tính tổng thể, thống nhất với chiến lược về mục đích,
yêu cầu và là căn cứ để xây dựng kế hoạch.
Quy hoạch đội ngũ giáo viên là bản luận chứng khoa học về phát triển
đội ngũ đó để góp phần thực hiện các định hướng của địa phương và của
chính nhà trường về công tác nhân sự, phục vụ việc xây dựng kế hoạch đào
tạo và bồi dưỡng cán bộ, đồng thời làm nhiệm vụ điều khiển, điều chỉnh trong
công tác quản lý, chỉ đạo các cấp quản lý.
25
Quy hoạch đội ngũ giáo viên THCS là lập kế hoạch để đáp ứng những
nhu cầu hiện tại cũng như tương lai về đội ngũ giáo viên THCS khi tính đến
cả những nhân tố bên trong và những nhân tố của môi trường bên ngoài.
- Nội dung của quy hoạch đội ngũ giáo viên THCS bao gồm:
+ Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên THCS;
+ Dự báo quy mô giáo viên về số lượng, cơ cấu, chất lượng;
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng đội ngũ
giáo viên THCS;
+ Xây dựng các biện pháp thực hiện quy hoạch.
Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên chuyên ngành phải đảm bảo
được yêu cầu về chuyên môn vừa phải đảm bảo yêu cầu về năng lực sư phạm,
khuyến khích những giáo viên thật sự tâm huyết, trách nhiệm với nghề, cống
hiến tài năng cho sự nghiệp giáo dục đồng thời có cơ sở để thay thế những giáo
viên, cán bộ quản lý không đủ phẩm chất, năng lực công tác. Trên cơ sở đó xây
dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn chất lượng đội ngũ nhà giáo và
giáo viên chuyên ngành.
- Phải tổ chức điều tra, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ giáo viên
chuyên ngành về tình hình tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, phương pháp giảng dạy...
- Hàng năm phải rà soát, bố trí, sắp xếp lại những giáo viên không đáp
thời chú ý đến thực trạng là ở cùng một môn học nhưng trường thì thiếu,
trường thì thừa giáo viên.
Hai là, công tác tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giáo viên
Công tác tuyển chọn đội ngũ giáo viên: Để có một đội ngũ giáo viên có
đủ trình độ, năng lực thì việc tuyển chọn đội ngũ giáo viên phải được tiến
hành theo một trình tự nhất định, hợp lý và khách quan.
Tuyển chọn bao gồm hai bước: Tuyển mộ và lựa chọn, trong đó tuyển mộ
là một tiến trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến
27
đăng kí, nộp đơn xin việc làm, sau đó tập hợp danh sách lại xem xét trong số đó
ai là người hội tụ đủ các tiêu chuẩn theo yêu cầu rồi quyết định tuyển.
Lựa chọn giáo viên là quá trình xem xét những người có đủ tiêu chuẩn
làm giáo viên theo qui định của ngành, của cấp học, của các nhà trường. Căn cứ
vào Luật Giáo dục, Pháp lệnh công chức và nhu cầu sử dụng của nhà trường để
đưa ra các tiêu chuẩn lựa chọn giáo viên.
Thực tế cho thấy, hiệu quả của việc tuyển chọn giáo viên không chỉ phụ
thuộc vào việc tuyển chọn mà còn ở chỗ người đứng đầu đơn vị và các tổ
chức trong nhà trường có trách nhiệm giúp đỡ họ thích ứng với nghề nghiệp
thông qua các khâu bố trí công việc ban đầu.
Công tác sử dụng đội ngũ giáo viên: Sử dụng đội ngũ giáo viên là sắp
xếp, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm giáo viên và giao nhiệm vụ, gắn với chức danh
cụ thể, nhằm phát huy khả năng hiện có của đội ngũ giáo viên để vừa hoàn
thành được mục tiêu của tổ chức và tạo ra sự đồng thuận trong cơ quan đơn
vị, hạn chế sự bất mãn ít nhất.
Để sử dụng đội ngũ giáo viên có hiệu quả thì phải giao đúng người,
đúng việc. Nếu bố trí sử dụng giáo viên hợp lý thì sẽ phát huy được những
khả năng tiềm ẩn, vốn có của từng giáo viên. Thực hiện tốt việc này đòi hỏi
người quản lý cần: