LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG của học VIÊN học VIỆN CẢNH sát NHÂN dân - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Cuộc sống hiện đại đòi hỏi mỗi cá nhân phải không ngừng cập nhật giá trị
và hoàn thiện giá trị của mình. Để tồn tại và phát triển, với bất kỳ ai, việc có
công việc làm để đảm bảo sự tồn tại của cuộc sống là vô cùng quan trọng. Đồng
thời với đó là yêu cầu học tập, bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng để nâng cao
chất lượng đời sống đó, để đời sống thực sự là “sống” chứ không là “tồn tại”.
Trong một môi trường thay đổi liên tục về CNTT, toàn cầu hóa ảnh
hưởng đến mọi mặt đời sống kinh tế - chính trị - xã hội, kỹ năng sống là một
phần thiết yếu của việc có thể để đáp ứng những thách thức của cuộc sống
ngày nay. Để đối phó với tốc độ ngày càng tăng và sự thay đổi của cuộc sống
hiện đại, sinh viên cần có kĩ năng như khả năng để đối phó với sự căng thẳng
và thất vọng. Ngày nay, học viên, sinh viên sẽ phải tham gia nhiều hoạt động
mới trong quá trình tham gia giáo dục của mình, đối mặt với nhiều áp lực của
việc học tập và giao tiếp xã hội...
Do vậy, để giúp học viên, sinh viên thích ứng với môi trường giáo
dục và xã hội hiện nay cần trang bị và đào tạo cho các em những kĩ năng cần
thiết để các em học tập và sinh hoạt trong môi trường hiện đại ngày nay. Ở
Việt Nam chúng ta hiện nay, Giáo dục - đào tạo còn đang quá chú trọng đến
trang bị kiến thức mà chưa chú trọng đến trang bị kĩ năng nói chung và kĩ
năng sống nói riêng. Nguyên nhân căn cốt đó là: Việc nhận diện cái cần rèn
luyện để trở thành chuyên nghiệp chưa được xác định đúng, kĩ năng cần có thì
không đảm bảo. Tại Mỹ, từ những năm 1916, người Mỹ đã nhận ra rằng tri
thức nhân loại là rất lớn nhưng để thực hành thành thạo và áp dụng, ứng dụng
vào cuộc sống thì thường không như mong muốn. Cho nên mỗi người dân lao
động tại Mỹ phải đảm bảo thực hành và phải được các tổ chức công nhận là
đã qua 13 kĩ năng bắt buộc. Đã đến lúc giáo dục Việt Nam cần nhìn nhận và
đưa vấn đề giáo dục kĩ năng nói chung và kĩ năng sống nói riêng vào các môn
3




Trên góc độ này, Học viện Cảnh sát nhân dân, đã nhận thức khá rõ vai
trò trong việc quản lý giáo dục kĩ năng sống của sinh viên Học viện. Đặc
trưng của lực lượng vũ trang, đặc điểm đào tạo theo quy chế ngành, điều lệnh
nội vụ Công an nhân dân, yêu cầu công tác của ngành là thế mạnh đặc trưng
để giáo dục kĩ năng sống cho sính viên của các trường thuộc lực lượng vũ
trang nói chung.
Tuy nhiên, trên thực tế kĩ năng sống của học viên vẫn chưa được đào tạo
để phát huy hết giá trị của nó trong hoạt động học tập của học viên và thực
tiễn công tác ngoài xã hội. Do vậy, quản lý giáo dục kĩ năng sống góp phần
phát triển toàn diện nhân cách cho học viên Học viện Cảnh sát nhân dân là
vấn đề cấp thiết đặt ra trong bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo.
Có thể nói, vấn đề giáo dục kĩ năng sống và quán lý giáo dục kĩ năng
sống nói chung đã được xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa có
công trình nào đề cập tới vấn đề quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên
ngành Công an nói chung và học viên Học viện Cảnh sát nhân dân nói riêng.
Chính vì vậy, vấn đề “Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên Học viện
Cảnh sát nhân dân” được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Quản lý giáo dục góp phần tăng cường phát triển toàn diện nhân cách cho học
viên Học viện trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin
truyền thông và hội nhập quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Những nghiên cứu ở nước ngoài
Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thông
qua con đường giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho việc
giải quyết khủng hoảng trong quá trình phát triển nhân cách của sinh viên.
Hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia
hội thảo về giáo dục kĩ năng sống cho thanh niên đã xác định mục tiêu của
giáo dục kĩ năng sống cho giáo dục của các nước trong vùng Châu Á – Thái
5

6


năng sống được mở rộng, trong khi một số nước xác định nội hàm của khái
niệm kĩ năng sống chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội.
Quan niệm, nội dung giáo dục kĩ năng sống được triển khai ở các nước
vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù (những nét riêng) của từng quốc
gia. Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục kĩ năng sống trong
lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Do
phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục kĩ năng sống nên
những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa
toàn diện và sâu sắc. Cho đến nay chưa có quốc gia nào đưa được kinh
nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng.
*Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, kĩ năng sống đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhà
trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kĩ năng học tập và chính trị, còn việc
giáo dục kĩ năng sống chưa được quan tâm nhiều. Theo chuyên viên tâm lý
Huỳnh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: "hiện
nay, thuật ngữ kĩ năng sống được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị
"lạm dụng" khi chính những người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹ
cũng chưa thật hiểu gì về nó". Theo Vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh Sinh
viên (Bộ Giáo Dục và Đào tạo) Phùng Khắc Bình, trong tương lai và về lâu
dài cần xây dựng chương trình môn học giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
lớp 1 đến lớp 12 .
Thuật ngữ kĩ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ
chương trình của Unicef (1996) “giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và
phòng chống HIV/ AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường [10].
Thông qua quá trình thực hiện chương trình này. Nội dung của khái niệm kĩ
năng sống và giáo dục kĩ năng sống ngày càng được mở rộng.
Tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị

Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành tài liệu tập huấn
“Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị, kĩ năng sống và
8


giao tiếp ứng xử trong quản lí” do các tác giả Lục Thị Nga và Nguyễn Thanh
Bình biên soạn để triển khai trong ngành giáo dục.
Từ năm 2010 đến nay, nhiều tác giả đã chọn các đề tài có liên quan đến
quản lý giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành quản lý giáo dục.
Tác giả Nguyễn Hữu Đức, với đề tài luận văn quản lý giáo dục : “Quản
lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học phổ thông Trần
Hưng Đạo – Nam Định trong giai đoạn hiện nay” (2010).
Đề tài: “Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ
thông” - Mã số B2005-75-126, (Nguyễn Thanh Bình chủ nhiệm) cho thấy
rằng: học sinh trung học phổ thông có nhu cầu rất cao về kỹ năng sống;
(THPT Nguyễn Tất Thành, Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) và THPT Mỹ Hào
(Hưng Yên). Trong đó có 4 kỹ năng được học sinh xác định là rất cần được
giáo dục như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng ra
quyết định, giải quyết vấn đề và đã thiết kế một số chủ đề cốt lõi như: Kỹ
năng tự nhận thức; Kỹ năng xác định mục tiêu cho cuộc sống; Kỹ năng ra
quyết định và giải quyết vấn đề; Kỹ năng kiên định.
Tóm lại, trong những năm qua, giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường
đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu. Các công trình trên rất đa dạng,
phong phú, đã phân tích vấn đề giáo dục giá trị sống dưới nhiều góc độ khác
nhau và có chiều sâu. Đã làm rõ được nhiều vấn đề về cơ sở lý luận và thực
tiễn của giáo dục kĩ năng sống.
Qua việc nghiên cứu, tham khảo các công trình nghiên nêu trên, có thể
rút ra một số nhận xét sau đây:
Một là, vấn đề giáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục kĩ năng sống

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ một số vấn đề lý luận quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học
viên, sinh viên ở các trường đại học;
- Phân tích thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học viên và quản lý
giáo dục kĩ năng sống cho học viên ở Học viện Cảnh sát nhân dân;
10


- Đề xuất hệ thống biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học
viên ở Học viện Cảnh sát nhân dân hiện nay.
- Khảo nghiệm tính cần thiết và tính 3khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục kĩ năng sống cho học viên hệ đào tạo chính quy ở
Học viện CSND.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên sỹ quan Cảnh sát, hệ chính
quy ở Học viện CSND.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu về biện pháp quản lý giáo dục
kĩ năng sống cho học viên ở Học viện CSND.
- Về không gian, địa điểm: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý giáo
dục kĩ năng sống cho học viên sỹ quan Cảnh sát, hệ chính quy ở Học viện CSND.
- Về thời gian, các số liệu điều tra, khảo sát được giới hạn từ năm 2013
đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Giáo dục kĩ năng sống là một vấn đề rộng lớn và phức tạp. Chất lượng
giáo dục kĩ năng sống bị chi phối và phục thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có
quản lý giáo dục. Nếu trong quá trình quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học

báo cáo về giáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục kĩ năng sống của Học viện.
Nghiên cứu các giáo trình, sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý và
quản lý giáo dục; các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học có liên quan đến
đề tài nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí, báo, kỷ yếu hội thảo khoa học…
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: Điều tra xã hội học đối với 15 cán bộ quản lý,
200 giảng viên, 300 sinh viên để làm cơ sở đánh giá thực trạng, tìm nguyên
nhân và đề xuất các biện pháp trong quản lý giáo dục kĩ năng sống.
12


Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động lãnh đạo, hoạt động dạy
học của giảng viên, hoạt động học tập, rèn luyện của sinh viên để rút ra những
kết luận về nội dung nghiên cứu.
Phương pháp tọa đàm, trao đổi: Tọa đàm, trao đổi với cán bộ quản lý,
giảng viên và sinh viên từ đó rút ra những kết luận cho nhiệm vụ nghiên cứu.
Phương pháp tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu từ những vấn đề đã và
đang diễn ra nhằm đúc rút thành những kinh nghiệm về quản lý giáo dục kĩ
năng sống cho sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân.
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản
lý về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan trong quá trình nghiên
cứu đề tài.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán
học để xử lý, phân tích, tổng hợp kết quả điều tra. Các phương pháp này được
sử dụng ở chương 2 và 3 của luận văn.
7. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần phát triển và làm phong phú thêm cơ sở lý luận về
giáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh
viên. Đồng thời đóng góp những luận cứ khoa học cho lãnh đạo, giảng viên,
học viên, sinh viên, các lực lượng tham gia giáo dục kĩ năng sống và quản lý

- Con người trong các mối quan hệ với tự nhiên.
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia, Kĩ năng sống là một tập hợp các
kĩ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực
tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc
sống hàng ngày của con người.
Theo tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa “kĩ năng sống là "khả
năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó
hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày". Trong giáo
dục tiểu học và giáo dục trung học, kĩ năng sống có thể là một tập hợp
những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc
14


sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân),
chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kĩ năng tổ chức. Đôi khi kĩ
năng sống, nhưng không phải luôn luôn, khác biệt với các kĩ năng nghiệp
vụ (trong nghề nghiệp).
Theo UNICEF, giáo dục dựa trên Kĩ năng sống cơ bản là sự thay đổi
trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến
thức, thái độ và hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức
(phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng
vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào).
Theo WHO, kĩ năng sống được chia thành 2 loại là kĩ năng tâm lý xã
hội và kĩ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư
duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng
phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình
luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết.
Theo UNESCO, kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục:
- Học để biết (learn to know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy
phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định giải quyết vấn đề, nhận thức

và thi cử, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội.
+ Được tôn trọng và đối xử bình đẳng, không phân biệt nam nữ, dân
tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, được cung cấp đầy đủ thông tin về việc
học tập, rèn luyện.
+ Được tạo điều kiện trong học tập, tham gia hoạt động khoa học và
công nghệ, các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao.
+ Đóng góp ý kiến, tham gia quản lý và giám sát hoạt động giáo dục và
các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục.

16


+ Được hưởng chính sách đối với người học thuộc đối tượng hưởng ưu
tiên và chính sách xã hội.
+ Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật.
* Khái niệm Giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học
KNS không phải là một vấn đề mới nảy sinh mà là nhu cầu từ lâu
nhưng chưa thật sự được quan tâm đúng mức trong trường học. Giáo dục
KNS cho học viên, sinh viên là vấn đề đòi hỏi sự quan tâm, đánh giá đúng của
ngành giáo dục - đào tạo và toàn xã hội.
Kĩ năng sống là khái niệm xuất hiện trong thời hiện đại và có tính chất
toàn cầu. Kỹ năng sống là năng lực, là cách thức, là công cụ mọi người cần
phải có để đối phó và vượt qua những nguy cơ thời hiện đại, đồng thời góp
phần tích cực nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng, bảo vệ ngôi nhà
chung thế giới. “Giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học là một
quá trình tác động thống nhất giữa nhà giáo dục và sinh viên nhằm hình
thành ở sinh viên có những hiểu biết và những kĩ năng sống cơ bản của người
sinh viên đáp ứng đòi hỏi của xã hội và của ngành nghề được đào tạo trong
xã hội hiện nay”.
Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học là nhằm

các hoạt động xã hội và trong thực tiễn cuộc sống, thực tiễn hoạt động của
con người.
1.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh
viên đại học
Từ quan niệm về QLGDKNS cùng với các khái niệm công cụ trình bày
trên có thể khái quát:
Quản lý là “Hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của
chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)
trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của
tổ chức” [42, tr.326]

18


Quản lý giáo dục (cấp vĩ mô) là “Những tác động tự giác (có ý thức, có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả
các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường)
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo
thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [24. tr.36,37].
Quản lý giáo dục (cấp vi mô): là “Hệ thống những tác động tự giác (có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và
các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [24, tr.37,38].
Thực chất của quản lý giáo dục là những tác động có định hướng, có
mục đích, được xác lập kế hoạch cụ thể nhằm thực hiện các biện pháp quản lý
hướng tới hiệu quả cao nhất trong việc hình thành, phát triển và hoàn thiện
phẩm chất nhân cách của người học theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
Từ cách tiếp cận về kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống cho học viên,
sinh viên đại học, quản lý giáo dục như đã đề cập ở trên, chúng tôi quan niệm:

pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng hệ
thống công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã xác định. Hệ
thống công cụ quản lý gồm: các chỉ thị, nghị quyết của các tổ chức đảng; hiến
pháp, pháp luật của nhà nước; quy chế giáo dục - đào tạo... Sử dụng đồng bộ các
chức năng quản lý với các phương pháp quản lý cơ bản là: Phương pháp hành
chính; phương pháp giáo dục, thuyết phục, nêu gương; phương pháp kích thích
bằng vật chất, tinh thần.
Thời gian quản lý: bao gồm toàn bộ thời gian chính khoá, ngoại khoá, tự
học, tự rèn, thực hành trong suốt quá trình đào tạo.
1.2. Nội dung quản lý giáo dục

kĩ năng sống cho

học viên, sinh viên đại học
Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học có nhiều
nội dung, dưới đây là những nội dung cơ bản:
20


1.2.1. Kế hoạch quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên
Kế hoạch là sự sắp xếp công việc cụ thể cho một thời gian nhất định:
tuần, tháng, học kỳ, năm học. Kế hoạch QLGDKNS cho học viên, sinh viên là
một nội dung rất cần thiết cho các nhà quản lý giáo dục. Xây dựng được kế
hoạch chính là thiết kế trước được bước đi, biện pháp thực hiện các hoạt động
QLGDKNS cho học viên, sinh viên. Xây dựng kế hoạch phải dựa trên chỉ đạo
của Phòng GD&ĐT, chương trình môn học, nhiệm vụ chính trị, các chủ đề,
chủ điểm sinh hoạt. Xây dựng kế hoạch QLGDKNS phải trên cơ sở kế hoạch
chung và có sự phối hợp với kế hoạch của các bộ phận khác trong nhà trường
như: kế hoạch dạy học, kế hoạch cơ sở vật chất,…và phải căn cứ kết quả điều
tra cơ bản để xác định yêu cầu, nhiệm vụ, đề ra chỉ tiêu phấn đấu cho phù hợp

của đất nước, thời đại. Nội dung GDKNS cần quan tâm đến các giá trị truyền
thống của con người Việt Nam và giá trị phổ quát của nhân loại, những KNS
cần thiết cho học viên trong thời kì mới giúp các em phát triển hoàn thiện
nhân cách.
Tiếp cận giáo dục kĩ năng sống đề cập đến quá trình tương tác giữa dạy
học và học tập trung vào kiến thức, thái độ và kĩ năng cần đạt được để có
những hành vi giúp con người có trách nhiệm cao đối với cuộc sống bằng
cách lựa chọn cuộc sống lành mạnh, kiên định từ chối sự ép buộc tiêu cực và
hạn chế tối đa những hành vi có hại. Như vậy đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học là cách tiếp cận với kỹ năng sống trong giai đoạn hiện nay. Đi học là
niềm vui của con người, đi học để hưởng lợi từ giáo dục, học là để sống tốt
với thời đại. Thông qua lồng ghép, tích hợp kĩ năng sống vào chương trình ở
các cấp học từ tiểu học đến trung học phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp là
cách tiếp cận giáo dục kĩ năng sống khá phổ biến hiện nay.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và những biến đổi
nhanh chóng của đời sống xã hội hiện đại, trong công cuộc đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục, các nhà giáo dục phải chú ý đến chương trình, nội dung
22


giáo dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục tâm lí, giáo
dục phòng chống ma túy đặc biệt là giáo dục kĩ năng sống cho học viên.
Những nội dung giáo dục này còn mới mẻ, nên trong công tác quản lý còn
nhiều bất cập cần tìm cách tháo gỡ và giải quyết.
Nội dung quản lý chương trình, nội dung giáo dục kĩ năng sống bao
gồm: Quản lý việc khảo sát thực tiễn KNS của học viên làm cơ sở cho xây
dựng nội dung GDKNS; Quản lý việc tổ chức xây dựng chương trình, nội
dung GDKNS; Quản lý việc thử nghiệm các nội dung được xây dựng để rút
kinh nghiệm và hoàn chỉnh nội dung; Quản lý việc tổ chức, thực hiện chương
trình, nội dung GDKNS; Quản lý việc kiểm tra,đánh giá kết quả thực hiện nội

của Đoàn thanh niên, nhà quản lý cần nhận đầy đủ các yếu tố ảnh hướng tới
việc GDKNS ở Đoàn viên thanh niên Học viện, từ đó có những biện pháp
quản lý để tác động vào những yếu tố tích cực, phát huy hiệu quả giáo dục,
khắc phục và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực. Đồng thời quản lý tốt các
giờ sinh hoạt chi đoàn, các buổi chào cờ đầu tuần, các hoạt động chủ điểm,
chủ đề nhân các ngày lễ lớn trong năm, các hoạt động phối hợp với hội phụ
huynh học sinh, với giáo viên chủ nhiệm, giảng viên bộ môn, với các tổ chức
tập thể và cá nhân trong và ngoài Học viện.
Để tạo nên sức mạnh tổng thể trong công tác giáo dục đạo đức cho học
viên nói chung và GDKNS cho học viên nói riêng, học viện cần huy động các
lực lượng giáo dục trong và ngoài Học viện tham gia vào quá trình giáo dục
như hội phụ huynh học sinh, các cấp ủy Đảng, chính quyền nơi đơn vị đóng
quân, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn. Có như vậy nhân cách và lý tưởng
sống của học viên được giáo dục và rèn luyện mọi lúc, mọi nơi, đồng thời
giúp các học viên củng cố bổ sung và nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội, hoàn thiện các tri thức đã được học trên giảng
đường, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, biết vận dụng những tri
thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra. Chính vì
vậy, để công tác GDKNS cho học viên Học viện đạt hiệu quả cao Học viện
24


cần tạo dựng được sự chung tay ủng hộ và tham gia của các lực lượng xã hội
trong và ngoài Học viện.
- Quản lý đội ngũ cán bộ quản lý trong việc quản lý hoạt động GDKNS
- Quản lý đội ngũ giảng viên trong hoạt động GDKNS
- Quản lý đội ngũ cán bộ Đoàn và hoạt động Đoàn thanh niên trong
hoạt động GDKNS
- Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp trong hoạt động GDKNS
- Quản lý các lực lượng cộng tác tổ chức thực hiện hoạt động GDKNS

năng sống cho học viên, sinh viên
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học
viên, sinh viên trong nhà trường. Công tác này cần được tiếp tục tiến hành
thường xuyên,liên tục, phù hợp với đặc điểm về tâm sinh lí lứa tuổi, hoàn
cảnh, hoạt động của từng loại đối tượng, hệ đào tạo và mang tính mềm dẻo,
dưới nhiều hình thức, qui mô, loại hình hoạt động khác nhau qua hoạt động
các tổ chức đoàn thể với các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục kĩ
năng sống như sau:
- Các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên:
+ Có thể tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua khai thác tiềm năng
giáo dục trong nội dung môn học (Học phần hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp), qua phương pháp dạy học tích cực khuyến khích sự tương tác, cùng
tham gia, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo của học viên, sinh viên.
+ Giáo dục thông qua các chủ đề chuyên biệt về KNS dưới hình thức
hoạt động ngoài giờ lên lớp của các tổ chức Đoàn thanh niên, hội sinh viên.
+ Giáo dục KNS thông qua các tình huống giáo dục và các tình huống
trong thực tiễn cuộc sống
+ Giáo dục KNS qua tiếp cận 4 trụ cột: Học để biết (Kỹ năng nhận
thức) Học đẻ làm (Các kỹ năng thực tiễn) Học để cùng chung sống (Các kỹ
năng xã hội) Học để tự khẳng định bản thân (Các kỹ năng cá nhân)
+ Thông qua tham vấn trực tiếp với cá nhân hoặc nhóm học sinh, sinh viên
26


- Nội dung:
Tập trung vào những vấn đề xã hội đang diễn ra trong thực tiễn hiện
nay như: Giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, giáo dục phòng tránh ma túy, giáo
dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục bình
đẳng giới... Tổ chức cho học sinh sinh viên được trực tiếp trải nghiệm bằng
các hoạt động, các tình huống trong thực tiễn .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status