MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC CƠ SỞ
14
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
14
1.2. Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trung học cơ sở
22
1.3. Đặc điểm giáo dục kỹ năng sống và các yếu tố tác động
đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học
cơ sở
28
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIẼN QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC CƠ SỞ HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
38
2.1. Khái quát về kinh tế, xã hội và giáo dục của huyện Nam
Trực, tỉnh Nam Định
38
2.2. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các
trường trung học cơ sở của huyện Nam Trực hiện nay
44
2.3. Thực trạng và nguyên nhân của quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Nam
Trực, tỉnh Nam Định
53
nghiệp giáo dục đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho thế
hệ trẻ, trong đó có học sinh trung học cơ sở. Vấn đề trung tâm liên quan đến
việc giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ được quan tâm và chia sẻ là thế hệ
trẻ ngày nay thường phải đương đầu với những rủi ro, đe dọa sức khỏe và hạn
chế cơ hội học tập, do đó, nếu chỉ có thông tin không đủ bảo vệ thế hệ trẻ
tránh được những rủi ro này. Giáo dục kỹ năng sống hoặc giáo dục dựa trên
tiếp cận kỹ năng sống có thể cung cấp cho các em các kỹ năng để giải quyết
được các vấn đề nảy sinh từ các tình huống thách thức. Mặt khác, kỹ năng
sống là một thành phần quan trọng trong nhân cách con người trong xã hội
hiện đại. Muốn thành công và sống có chất lượng trong xã hội hiện đại, con
người phải có kỹ năng sống. Kỹ năng sống vừa mang tính xã hội vừa mang
tính cá nhân. Giáo dục kỹ năng sống trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ
trong giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh.
Do nhu cầu đổi mới giáo dục để đáp ứng sự phát triển đất nước và sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như đáp ứng nhu cầu của
người học, Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông; đổi mới mục
tiêu giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những
năng lực cần thiết cho họ: “năng lực hợp tác, có khả năng giao tiếp, năng lực chuyển
đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của thị trường lao động, năng lực quản lý, năng lực
phát hiện và giải quyết vấn đề; tôn trọng và nghiêm túc tuân theo pháp luật; quan tâm
3
và giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có tư duy phê phán, có khả năng
thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống” [9].
Trong quá trình đổi mới giáo dục, đào tạo chúng ta có nhiều thuận lợi
và cũng gặp không ít khó khăn, một trong những khó khăn đó là mặt trái của
cơ chế thị trường đang tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến thanh niên và học
trọng, có ý nghĩa quyết định.
Hiện nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh, nhưng phần lớn những nghiên cứu đó tiếp cận vấn đề
vừa nêu dưới góc độ giáo dục học, những nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh trung học cơ sở ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Quản lý giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Nam
Trực, tỉnh Nam Định”, làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất
hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, như chương trình “giáo
dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên
cứu về kỹ năng sống trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm
chung về kỹ năng sống cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kỹ năng sống cơ
bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống ở giai
đoạn này quan niệm về kỹ năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã
hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á
là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về
kỹ năng sống nêu trên.
Những năm đầu thập niên 90, một số nước Châu Á như Ấn Độ, Lào,
Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan,… tiến hành nghiên cứu, triển
khai chương trình dạy kỹ năng sống cho học sinh từ mầm non cho đến trung
học phổ thông. Nội dung giáo dục kỹ năng sống chủ yếu ở các nước này đó là
trang bị cho người trẻ tuổi những kỹ năng sống cần thiết để giúp họ thích nghi
dần với cuộc sống sau này. Mục tiêu chung của giáo dục kỹ năng sống được
5
trong xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài quản lý giáo dục kỹ năng số cho học sinh trung
6
học cơ sở.
* Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, năm 1996 thông qua chương trình của UNICEF “Giáo dục
kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu
niên trong và ngoài nhà trường”. Giai đoạn 1 của chương trình chỉ dành cho
một số đối tượng của ngành giáo dục và Hội chữ thập đỏ và được trang bị một
số kỹ năng như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng kiên định,
kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng xác định giá trị… Giai đoạn 2 của chương trình
đối tượng tập huấn được mở rộng và thuật ngữ kỹ năng sống được hiểu một
cách rộng rãi hơn “Kỹ năng sống là các kỹ năng thiết thực mà con người cần
đến để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh”.
Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh phổ thông qua dự án “Giáo dục sống khoẻ mạnh, kỹ năng sống
cho trẻ và vị thành niên” với sáng kiến và hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam.
Tham gia dự án có học sinh trung học cơ sở và trẻ em ngoài trường học ở một
số tỉnh, thành phố như Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội,
Gia Lai, Kon Tum, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang. Các em
được rèn luyện kỹ năng sống thiết thực để ứng phó với những vấn đề ảnh
hưởng đến cuộc sống an toàn, mạnh khoẻ của trẻ em như phòng chống
HIV/AIDS, ma tuý, sức khoẻ sinh sản, vấn đề quan hệ tình dục sớm… Mục
tiêu của Dự án là hình thành thái độ tích cực của học sinh đối với việc xây
dựng cuộc sống khoẻ về thể chất, mạnh về tinh thần, hiểu biết về xã hội; Nâng
cao nhận thức của cha mẹ học sinh về kỹ năng sống…để họ chủ động trong
việc truyền thụ kiến thức kỹ năng cho con em mình [6].
sở đó, tác giả đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học
phổ thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với các biện pháp cụ thể như:
tích hợp mục tiêu giáo dục kỹ năng sống với mục tiêu của hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp; thiết kế các chủ đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với các nội
dung; sử dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp để thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh.
Luận văn thạc sĩ giáo dục học, của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009), với
đề tài: “Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”, luận văn đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý
8
luận, khảo sát đánh giá thực trạng, từ đó xây dựng các biện pháp giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh tiểu học như thống nhất các lực lượng giáo dục kỹ
năng sống, tạo môi trường giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng sống nói chung
cho học sinh và kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng ra quyết định nói riêng,
thiết kế bài tập thực hành giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, đổi mới
phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo
hướng tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Trần Thị Mỹ Hạnh (2010), với đề tài luận văn: “Thực trạng quản lý
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh từ các lực lượng giáo dục của hiệu trưởng
các trường trung học cơ sở tại Quận 11- Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả đã
nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh từ các lực lượng giáo dục của hiệu trưởng, từ đó đề xuất các giải pháp để
tiến hành các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, như: nâng cao nhận thức
của các lực lượng giáo dục về ý nghĩa, lợi ích của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung
học cơ sở.
Khảo sát, phân tích thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và
quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở
huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các
trường trung học cơ sở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ
sở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
* Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi về nội dung: quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
10
Giới hạn phạm vi đối tượng khảo sát: khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên
,phụ huynh học sinh ở 5 trường trung học cơ sở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu: các tài liệu, số liệu được sử
dụng để phục vụ cho nghiên cứu đề tài được sử dụng từ năm 2012 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ
sở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Do vậy, nếu
nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, phụ huynh về giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh; tổ chức thực hiện nghiêm xây dựng, thực hiện kế hoạch
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát một số hoạt động của giáo
viên trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở một số lớp của trường trung
học cơ sở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định;
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: điều tra cán bộ quản lý giáo dục,
chuyên viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo giáo viên, phụ huynh học sinh
của các trường trung học cơ sở, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định;
Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm: tiến hành phỏng vấn một số cán bộ
quản lý giáo dục, giáo viên ở các trường trung học cơ sở huyện Nam Trực,
tỉnh Nam Định để tìm hiểu về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh;
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quản lý giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định;
Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến một số nhà khoa học, nhà quản lý,
về một số nội dung có liên quan đến đề tài;
Phương pháp sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu.
7. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống hóa, khái quát hóa lý luận, phân tích chỉ
rõ hạn chế trong quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học
cơ sở.
Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các
trường trung học cơ sở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
12
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở trong thực hiện quản lý giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được cấu trúc 3 chương.
thành năng lực hành động của cá nhân; kỹ năng luôn gắn với một hành động hoặc một
hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đã đặt ra.
Qua những lý luận ở trên, tôi cho rằng: Kỹ năng là năng lực thực hiện
14
một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng
những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra.
Bàn về kỹ năng sống, cho đến nay cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau tuỳ
theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, chẳng hạn:
Theo WHO (1993): Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng
phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
UNESCO (2003) quan niệm: Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện
đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả năng làm cho
hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người kiểm
soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày.
Theo chương trình giáo dục kỹ năng sống của Quỹ nhi đồng Liên hiệp
quốc (UNICEF, 1996), kỹ năng sống bao gồm: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt
mục tiêu.
UNICEF phân loại kỹ năng sống theo các mối quan hệ của cá nhân với các
nhóm kỹ năng sống: nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình; nhóm kỹ năng
nhận biết và sống với người khác; nhóm kỹ năng ra quyết định.
Theo tác giả Nguyễn Võ Kỳ Anh: “Kỹ năng sống là khả năng có được
giáo dục, người học được tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc
chung, những mục tiêu chung, những chuẩn mực giá trị chung và những biện pháp thực
hiện chung, nhờ vậy học sinh được giáo dục theo những tiêu chí chung.
Từ điển Từ và ngữ Hán Việt, thì: “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất
đạo đức và tri thức cần thiết để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội”
[44, tr.269].
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Giáo dục là quá trình tổng thể, của
các tác động sư phạm, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông
qua hoạt động của nhà giáo dục và đối tượng được giáo dục nhằm đào tạo những
con người có đủ phẩm chất năng lực, đáp ứng yêu cầu của xã hội” [53, tr.22].
Từ nội hàm của khái niệm kỹ năng sống và quan niệm về hoạt động
giáo dục, chúng tôi cho rằng: Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục
đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có kiến thức, thái độ, hành động
16
hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ phù hợp với mục tiêu phát triển toàn
diện nhân cách học sinh.
Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở, nhằm
trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp,
trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh,
tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các
tình huống và hoạt động hàng ngày; tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện
tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh
thần và đạo đức.
năng sống khác để giáo dục cho học sinh của trường, lớp mình cho phù hợp.
Chủ thể giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ
sở là giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, cán bộ của các tổ chức trong nhà
trường, các đoàn thể xã hội của địa phương và gia đình học sinh.
Đối tượng giáo dục kỹ năng sống là học sinh trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp
9), học sinh trung học cơ sở vừa là đối tượng giáo dục vừa là chủ thể của quá trình tự
giáo dục, tự rèn luyện kỹ năng sống được giáo dục.
Phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được sử dụng thông
qua phương pháp, hình thức tổ chức dạy học các môn văn hoá, sinh hoạt tập thể, tham
quan dã ngoại. Một số phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
được gắn kết chặt chẽ với các hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo quy định của
chương trình giáo dục phổ thông nhằm tác động vào ý thức, hành vi để hình thành, phát
triển và từng bước hoàn thiện kỹ năng ứng xử cũng như kích thích khả năng tự điều
chỉnh hành vi ứng xử của mỗi học sinh theo yêu cầu của nội dung giáo dục kỹ năng
sống đã đề ra.
Kết quả giáo dục kỹ năng sống là hệ thống kiến thức và sự phát triển tiếp theo về
phẩm chất nhân cách, đạo đức lối sống, giúp cho học sinh có khả năng về mặt tâm lý xã
hội để phán đoán và ra quyết định tích cực, để nói không với cái xấu. Kết quả giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh không phải là để cho học sinh đưa ra những lời giải đơn
giản cho những câu hỏi thông thường mà phải hướng vào xây dựng, phát triển, hoàn
thiện hành vi ứng xử của học sinh cho phù hợp với từng tình huống cụ thể nảy sinh
trong học tập, sinh hoạt hàng ngày.
18
Như vậy, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở, thể
hiện tính khoa học và nhân văn của giáo dục. Giáo dục kỹ năng sống giải quyết một
cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong pháp luật
Việt Nam và quốc tế. Giáo dục kỹ năng sống giúp con người sống an toàn, lành mạnh
đề ra” [38, tr.5].
Những khái niệm trên về quản lý khác nhau về cách diễn đạt, nhưng
đều thống nhất ở chỗ: quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có
hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt
ra trong điều kiện biến động của môi trường. Hoạt động quản lý phải là sự tác
động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch để đưa hệ thống vào một trật
tự ổn định, tạo đà cho một sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững.
Quản lý giáo dục kỹ năng sống chính là những công việc của nhà
trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản
lý để tổ chức, thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống. Đó chính là những
hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động
tới các giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường nhằm thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy kỹ năng sống cho
học sinh.
Từ đó có hiểu: “Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung
học cơ sở là những tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh, để đạt được mục tiêu giáo dục kỹ năng sống đã đề ra”.
Mục tiêu của quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ
sở là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giúp học sinh ứng xử và
giải quyết có hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Quản lý giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh được tiến hành với những chức năng cụ thể như lập
kế hoạch giáo dục, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện nội dung, chương
trình và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong
nhà trường. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được tiến hành trong
20
Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần xác định rõ
mục tiêu sẽ đạt được của từng nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
như kiến thức, phải trực tiếp góp phần nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền
thống của dân tộc, tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại; củng cố, mở
rộng kiến thức đã học trên lớp; có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình,
nhà trường, xã hội; phù hợp với khả năng thực tế của học sinh. Về kỹ xảo, kỹ
năng, củng cố vững chắc các kỹ xảo, kỹ năng cơ bản trong làm việc nhóm, kỹ
năng ứng xử với bạn bè, thày cô và những người xung quanh; hình thành và
phát triển các kỹ năng chủ yếu như kỹ năng tự hoàn thiện, kỹ năng thích ứng,
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoạt động trong tập thể, ngoài xã hội.
Kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần được xây dựng cụ thể
đến từng tuần, phải chỉ rõ nội dung giáo dục, thời gian tiến hành, nội quy, nền
nếp giáo dục học tập, đó là những quy định chung có tính bắt buộc được duy
trì đều đặn, thường xuyên theo kỷ luật nhất định.
Khi xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, cần đạt
được các yêu cầu cơ bản như: bảo đảm tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ
thể, có trọng tâm; mô tả rõ việc tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng sống
thông qua nội dung môn học, bài học hay tích hợp thông qua việc sử dụng,
vận dụng phương pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học, giáo dục; kế hoạch phải
phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém, củng cố ưu điểm,
vạch ra được chiều hướng phát triển trong việc hình thành kỹ năng sống ở học
sinh; kế hoạch phản ảnh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nội dung,
phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra,
đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở.
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong
nhà trường trung học cơ sở là chỉ huy, chỉ đạo cho các bộ phận trong nhà
trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục kỹ năng sống
diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo
23
Huy động các chuyên gia giỏi, có kinh nghiệm tổ chức nghe báo cáo
kinh nghiệm về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn học.
Huy động có hiệu quả các nguồn lực phục vụ hoạt động giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh. Huy động nguồn nhân lực tham gia giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học và các hoạt động khác của
nhà trường, huy động nguồn tài chính, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học,
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.2. Quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh trung học cơ sở
Mục tiêu quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh ở các trường trung học cơ sở là nhằm quản lý tốt hoạt động giáo dục
nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù
hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành
mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan
hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày. Tạo cơ hội để học sinh thực hiện
tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh
thần và đạo đức.
Quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở
các trường trung học cơ sở cần phải được xác định ngay từ đầu năm học của
từng khối, lớp học, đàu mỗi học kỳ và của từng tháng. Trên cơ sở các văn bản
hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng như
của Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu nhà trường cần xây dựng và
quản lý chặt chẽ các thành tố như mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương
pháp, phương tiện, giáo viên giảng dạy, đối tượng giáo dục và kết quả giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở.
Quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở
chức quản lý giáo dục một cách phù hợp nhất. Phương pháp, hình thức tổ
chức quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở gồm toàn
bộ những cách thức tổ chức, các thao tác và biện pháp tác động, điều khiển
của chủ thể quản lý giáo dục đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh thông qua hệ thống công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêu quản
lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở đã được xác định.
25
1.2.3. Quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh trung học cơ sở
Tất cả các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ
sở ở nhà trường phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất hiện có của nhà
trường, tránh đặt ra các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh quá
cao mà điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật hạn chế sẽ làm ảnh hưởng đến
chất lượng giáo dục kỹ năng sống của học sinh tại nhà trường.
Bảo đảm cơ sở vật chất cho quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
bao gồm các đồ dùng học cụ, những vật dụng phục vụ trực tiếp cho công tác
thực hành giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, các hoạt động giã ngoại và các
mặt bảo đảm khác. Bên cạnh đó, là khả năng phát huy đầy đủ tinh thần, trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân, các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham
gia xây dựng, quản lý đặc biệt nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính,
cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật một cách công khai, dân chủ có hiệu quả, đúng
pháp luật, đảm bảo tốt nhất cho quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở
trường trung học cơ sở.
Thực tiễn ở các trường trung học cơ sở, kinh phí bảo đảm cho quá trình
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được sử dụng theo kinh phí giáo dục
hàng năm nên có phần bị hạn chế trong chủ động tổ chức các sự kiến để giáo
dục cho học sinh. Tuy nhiên, các trường đã từng bước phát huy sự sáng tạo