ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ LINH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG
LĨNH VỰC AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế
HÀ NỘI – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Luận văn bảo đảm tính chính xác,tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Linh
MỤC LỤC
3.3. Sử dụng pháp luật vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm
3.4. Áp dụng pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
15
Error! Bookmark not defined.
4. Đặc điểm thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Error! Bookmark not
defined.
4.1. Về phạm vi điều chỉnh
Error! Bookmark not defined.
4.2. Về hệ thống pháp luật điều chỉnh
4.3. Về các chủ thể thực hiện
Error! Bookmark not defined.
Error! Bookmark not defined.
4.3.1. Đối với chủ thể là cơ quan nhà nước
Error! Bookmark not defined.
4.3.2. Đối với chủ thể là tổ chức Error! Bookmark not defined.
4.3.3. Đối với chủ thể là cá nhân Error! Bookmark not defined.
5. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm Error!
2.1.2. Nguyên nhân gây mất an toàn thực phẩm Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Thực trạng thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội
Error! Bookmark not defined.
2.2. Những quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm
Error! Bookmark
not defined.
2.2.1. Luật An toàn thực phẩm số 55/2010
Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi 2015 Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Nghị định số 178/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn
thực phẩm
Error! Bookmark not defined.
2.3. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà
Nội
Error! Bookmark not defined.
2.3.1 Những thuận lợi trong quá trình thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh thực
phẩm trên địa bàn Hà Nội Error! Bookmark not defined.
2.3.2. Những khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh thực
phẩm trên địa bàn Hà Nội Error! Bookmark not defined.
2.4. Kết quả đạt được
Error! Bookmark not defined.
3.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh, công bằng mọi hành vi
vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm
Error! Bookmark not defined.
3.2.6. Nâng cao vai trò của Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng trong việc thực hiện pháp luật
an toàn vệ sinh thực phẩm
Error! Bookmark not defined.
3.2.7. Đảm bảo và nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ trong công tác thực hiện
pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm Error! Bookmark not defined.
3.3. Giải pháp đối với Hà Nội
KẾT LUẬN
Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
66
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
An toàn vệ sinh thực phẩm hay an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một
môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm
bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra.
Vệ sinh an toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế
biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe tiềm ẩn nghiêm trọng. Hiểu
theo nghĩa rộng, vệ sinh an toàn thực phẩm là toàn bộ những việc cần làm liên quan
đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người
lý của các cơ quan chức năng nhà nước. Muốn làm tốt công tác quản lý vệ sinh an
toàn thực phẩm thì trước tiên phải có các văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ
ràng về vấn đề này. Sau đó là khâu áp dụng và thực hiện. Thực hiện pháp luật tốt,
có những quy định, chế tài nghiêm minh cộng với công tác tuyên truyền và phổ
biến giáo dục pháp luật đến người dân thì mới có thể đảm bảo hiệu quả của an toàn
vệ sinh thực phẩm.
Do nhận thức và trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn
thấp, đôi khi chạy theo lợi nhuận, cố tình sản xuất, kinh doanh thực phẩm không
đảm bảo an toàn, thực phẩm không đảm bảo chất lượng mà người tiêu dùng không
biết hoặc biết không đầy đủ về chất lượng sản phẩm nên đã sử dụng những sản
phẩm đó.
An toàn vệ sinh thực phẩm là một vấn đề quan trọng có tính chất sống còn đối
với sức khỏe của người dân nói riêng và sự phát triển giống nòi của cả dân tộc nói
chung. Tuy nhiên trên thực tế việc thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm trong phần
lớn các bộ phận người dân, từ người sản xuất cho đến kinh doanh hàng hóa thực
phẩm và người tiêu dùng còn rất thấp. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm như hiện nay bắt nguồn từ sự bất cập của
các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này. Tình trạng một sản phẩm thực phẩm chịu
sự quản lý và giám sát cùng lúc của 3-4 bộ, ngành khác nhau dẫn đến tình trạng “cha
chung không ai khóc”. Tuy có rất nhiều văn bản, nhưng vừa chồng chéo, không
phân định rõ ràng trách nhiệm quản lý giữa các bộ, ngành lại vừa thiếu sót, chưa phủ
hết các lĩnh vực, có khoảng trống giữa các khâu trong trách nhiệm quản lý liên tục
một loại sản phẩm. Một số lĩnh vực mới phát sinh (như thực phẩm chức năng, một
số độc chất và vi chất) chưa được hướng dẫn quản lý cụ thể, chi tiết nên địa phương
rất khó thực hiện. Bên cạnh đó, có những quy định không phù hợp với thực tế như:
hiện tuyến xã không thể nào có đủ cán bộ chuyên môn để thực hiện việc khám sức
khỏe, thẩm định cơ sở, cấp giấy phép theo quy định; những thử nghiệm cho kết quả
ngay thì không đủ cơ sở pháp lý để xử phạt và xử lý ngay, nhằm tránh ngộ độc thực
định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong Luật Hình sự Vệt Nam. Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” Luận văn thạc sỹ Hoàng Trí Ngọc năm 2009, khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Có thể thấy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề an
toàn vệ sinh thực phẩm. Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu sâu về vấn đề
thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội một vấn đề hết sức nóng và luôn cần thiết, liên quan mật thiết đến hiệu quả của
việc thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Bởi muốn thực hiện tốt công tác vệ sinh
an toàn thực phẩm thì ngoài ý thức tự giác của mỗi công dân nhà nước cần phải có
chế tài nghiêm khắc được thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật buộc mỗi
công dân phải tuân thủ chấp hành. Chỉ có như vậy thì công tác vệ sinh an toàn thực
phẩm mới có thể có những bước tiến mới, quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm mới
có thể kiểm soát được từ khâu sản xuất đến tiêu dùng.
Vì vậy tôi chọn đề tài này với mong muốn có thể phân tích và chỉ ra những tồn
tại, hạn chế trong hệ thống pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như việc thực
hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Đề tài không mới nhưng có tính ứng dụng cao. Rất
mong những nghiên cứu, những vấn đề đưa ra và giải quyết trong đề tài sẽ góp phần
chỉ ra những tồn đọng, bất cập trong việc thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực
phẩm trên địa bàn Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung. Tiến tới để mỗi công dân
đều được hưởng những sản phẩm thực phẩm sạch và an toàn. Những cơ sở lý luận đã
được học, được tiếp cận sẽ giúp tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này. Phần nào
đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà nội đã thực
sự tốt hay chưa?
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ
bản về việc thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội
trong bối cảnh chung của cả nước. Đánh giá thực trạng chung về việc thực hiện
pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm của Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp
để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của thực tại, hoàn thiện hệ thống pháp luật.
chất sử dụng như dược phẩm. [37]
Vệ sinh thực phẩm (food higyene) là một khái niệm khoa học để nói thực
phẩm không chứa vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố. Ngoài ra khái niệm
vệ sinh thực phẩm còn bao gồm cả những nội dung khác như tổ chức vệ sinh trong
bảo quản và chế biến thực phẩm. [31, 5-6]
An toàn thực phẩm (food safety) là khái niệm khoa học có nội dung rộng hơn
khái niệm vệ sinh thực phẩm. An toàn thực phẩm được hiểu như khả năng không
gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người. Nguyên nhân gây ra ngộ độc thực
phẩm không chỉ ở vi sinh vật mà còn được mở rộng ra do các chất hóa học, các yếu
tố vật lý. Khả năng gây ngộ độc không chỉ ở thực phẩm mà còn xem xét cả một
quá trình sản xuất trước thu hoạch. [31, 5-6]
Theo nghĩa rộng an toàn thực phẩm còn được hiểu là khả năng cung cấp đầy
đủ và kịp thời về số lượng chất lượng thực phẩm một khi quốc gia gặp thiên tai hay
một lý do nào đó. [31, 5-6]
Như vậy an toàn thực vệ sinh phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ
khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm
bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng
người tiêu dùng. Vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia
của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ
sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng.
Bảo đảm chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong sự
nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát
triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế,
văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh. Mặc dù cho đến nay đã có khá
nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo vệ và an toàn vệ sinh thực
phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như ban hành luật, điều lệ và thanh
tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng các bệnh do kém chất lượng về vệ
sinh thực phẩm và thức ăn vẫn chiếm tỷ lệ khá cao. Thực phẩm là nguồn cung cấp
chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo sức khỏe con người nhưng
đồng thời cũng là nguồn có thể gây bệnh nếu không đảm bảo vệ sinh. Không có
cũng như nước ta. Mục tiêu đầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo cho
người ăn tránh bị ngộ độc do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc; thực
phẩm phải đảm bảo lành và sạch.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của nước ta chuyển sang cơ chế thị
trường. Các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và nước ngoài nhập vào
Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng và nhiều chủng loại. Việc sử dụng các
chất phụ gia trong sản xuất trở nên phổ biến. Các loại phẩm màu, đường hóa học
đang bị lạm dụng trong pha chế nước giải khát, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn
sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai … Nhiều loại thịt bán trên thị trường không qua
kiểm duyệt thú y. Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất
lượng và không theo đúng thành phần nguyên liệu cũng như quy trình công nghệ
đã đăng ký với cơ quan quản lý. Nhãn hàng và quảng cáo không đúng sự thật vẫn
xảy ra.
Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm thuốc trừ sâu, diệt
cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không theo đúng quy định
gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các hóa chất này trong thực phẩm. Việc
bảo quản lương thực thực phẩm không đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn
và nấm mốc phát triển đã dẩn đến các vụ ngộ độc thực phẩm. Các bệnh do thực
phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn là các
bệnh mãn tính do nhiễm và tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào
thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim
mạch và ung thư.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá các chương trình hành động
đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên toàn cầu đã xác định được
nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em là các bệnh đường ruột, phổ biến là tiêu
chảy. Đồng thời cũng nhận thấy nguyên nhân gây các bệnh trên là do thực phẩm bị
nhiễm khuẩn.
Ở Việt Nam, Theo thống kê của của Bộ Y tế, từ năm 2004-2009 đã có 1.058
Tỷ lệ mắc bệnh giun sán ở nước ta còn rất cao. Có tới hơn 60.000.000 người
đang mang giun sán trong người do tập quán ăn uống mất vệ sinh (ăn gỏi cá, ăn rau
sống, ăn tiết canh, nộm...). Nhiều bệnh ký sinh trùng gây tác hại rất lớn cho sức
khỏe: gây thiếu máu, suy dinh dưỡng, viêm và áp xe gan, rối loạn tiêu hóa, thần
kinh và vận động. Bệnh sán lá gan lớn có ở 18 tỉnh, tỷ lệ mắc có nơi tới 37% như
Nam Định, Phú Yên... Bệnh sán lá gan nhỏ có ở 24 tỉnh, tỷ lệ nhiễm rất cao như
Hà Tây (40%), Thanh Hóa (38%), Nam Định (37%), Ninh Bình (30%), Phú Yên
(37%), Bình Định (30%). Ngoài ra, các bệnh ký sinh trùng khác như: giun đũa,
giun xoắn, giun kim, bệnh ấu trùng sán, giun cũng còn phổ biến. Đây là các bệnh
mà nguồn lây truyền chủ yếu qua đường thực phẩm, ăn uống. [3]
Hiện nay chúng ta đang đứng trước nhiều thách thức mới. Đó là Sự bùng nổ
dân số cùng với đô thị hóa nhanh dẫn đến thay đổi thói quen ăn uống của nhân dân,
thúc đẩy phát triển dịch vụ ăn uống trên hè phố tràn lan, khó có thể đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm. Thực phẩm chế biến ngày càng nhiều, các bếp ăn tập thể
gia tăng … là nguy cơ dẩn đến hàng loạt vụ ngộ độc. Bên cạnh đó, sự gia tăng
nhanh dân số còn làm khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, trong đó nguồn nước sạch
sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống thiếu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ô nhiễm môi trường: sự phát triển của các ngành công nghiệp dẩn đến môi
trường ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến vật nuôi và cây trồng. Mức độ thực
phẩm bị nhiễm bẩn tăng lên, đặc biệt là các vật nuôi trong ao hồ có chứa nước thải
công nghiệp, lượng tồn dư một số kim loại nặng ở các vật nuôi cao.
Sự phát triển của khoa học công nghệ: việc ứng dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật mới trong chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất, chế biến thực phẩm làm cho
nguy cơ thực phẩm bị nhiễm bẩn ngày càng tăng do lượng tồn dư thuốc bảo vệ
thực vật, hóa chất bảo quản trong rau, quả; tồn dư thuốc thú y trong thịt, thực phẩm
sử dụng công nghệ gen, sử dụng nhiều hóa chất độc hại, phụ gia không cho phép,
cũng như nhiều quy trình không đảm bảo vệ sinh gây khó khăn cho công tác quản
lý, kiểm soát.
2. Khái niệm thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm
riêng ngành y tế nên công tác chỉ đạo, huy động sự tham gia của các cơ quan liên
quan chưa quyết liệt. Đầu tư kinh phí từ ngân sách còn thấp, trang thiết bị và nhân
lực còn hạn chế.
3. Các hình thức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã
xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:
Thứ nhất, tuân thủ pháp luật;
Thứ hai, thi hành pháp luật;
Thứ ba, sử dụng pháp luật;
Thứ tư, áp dụng pháp luật.
Do đó cũng có 4 hình thức thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm:
3.1.Tuân thủ pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm
Là một hình thức thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó các
chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật vệ sinh
an toàn thực phẩm cấm. Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể pháp luật vệ
sinh an toàn thực phẩm thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, dưới dạng không
hành động.
Ví dụ: Điều 5 - Luật An toàn thực phẩm số 55/2010 quy định những hành vi
bị cấm trong an toàn vệ sinh thực phẩm. Do đó một công dân không thực hiện
những hành vi vi phạm được qui định tại điều này, tức là công dân đó tuân thủ
những qui định của luật này.
Những hành vi bị cấm:
- Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực
phẩm.
- Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc,
xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử
dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng
3.3. Sử dụng pháp luật vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm
1. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
2. Thủy Anh, “Góp ý về chính sách, pháp luật an toàn thực phẩm”, Báo
Đại Đoàn Kết, truy cập ngày 03 tháng 12 năm 2015.
3. Bộ y tế, Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và
tầm nhìn 2020, tháng 03 năm 2011.
4. Bộ y tế, Quyết định về việc ban hành quy định về các điều kiện vệ sinh
chung đối với cơ sở sản xuất thực phẩm, số 39/2005/QĐ-BYT, ngày 28
tháng 11 năm 2005.
5. Bộ Y tế, Quyết định Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế về công bố tiêu chuẩn
sản phẩm thực phẩm, số 42/2005/QĐ-BYT, ngày 08 tháng 12 năm 2005.
6. Bộ Y tế, Quyết định Bộ Y tế về việc ban hành Quy định điều kiện vệ sinh
an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, phục vụ ăn uống,
số 41/2005/QĐ-BYT, ngày 08 tháng 12 năm 2005.
7. Bộ Y tế, Quyết định Bộ y tế về việc ban hành Quy định yêu cầu kiến thức
về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với người trực tiếp sản xuất, kinh
doanh thực phẩm, số 43/2005/QĐ-BYT, ngày 20 tháng 12 năm 2005.
8. Bộ Y Tế, Quyết định Bộ Y tế về việc ban hành Quy định danh mục các
chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm, số 3742/2001/QĐBYT, ngày 31 tháng 08 năm 2001.
9. Bộ Y tế, Quyết định Bộ Y tế về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Cục an toàn vệ sinh thực phẩm thuộc Bộ y tế,
số 48/2008/QĐ-BYT, ngày 30 tháng 12 năm 2008.
10.Bộ Y tế, Quyết định về việc ban hành quy định về điều kiện bảo đảm an
toàn thực phẩm tại các nhà ăn, bếp ăn tập thể và cơ sở kinh doanh chế
biến suất ăn sẵn, số 4128/2001/QĐ-BYT, ngày 03/10/2001.
11.Bộ Y tế, Quyết định về việc ban hành quy định về điều kiện bảo đảm an
toàn thực phẩm tại các nhà ăn, bếp ăn tập thể và cơ sở kinh doanh chế
biến suất ăn sẵn, số 4128/2001/QĐ-BYT, ngày 03/10/2001.
23.ThS. Phạm Hồng Hiếu, “Bài giảng Vệ sinh an toàn thực phẩm”, Chương
6 - Mô tả tài liệu.
24.Cao Thị Hoa (2015), “Thực trạng và hiệu quả giải pháp can thiệp thực
thi pháp luật an toàn thực phẩm của một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn
uống tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội”, Luận án tiến sỹ Y học, Ngành Vệ
sinh xã hội học và Tổ chức Y tế, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.
25.“Kết quả thanh tra, kiểm tra An toàn thực phẩm trong dịp Tết năm 2014”,
truy cập ngày 19 tháng 03 năm 2014, .
26.“Kết quả thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất,
kinh doanh thực phẩm chức năng năm 2014”, VFA, Bộ Y tế, Cục An
toàn thực phẩm, truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2014, .
27.Nguyễn Đức Lươ ̣ng và Pha ̣m Minh Tâm
(2002), “Vê ̣ sinh và an toàn
thực phẩm”, NXB ĐH Quố c Gia TPHCM, TPHCM.
28.Nguyễn Đức Lượng, Phạm Minh Tâm (2005),Vệ sinh và an toàn thực
phẩm, Đại học Bách khoa Tp.HCM.
29.Đàm Sao Mai, Trần Thị Mai Anh, Vũ Chí Hải (2010),Vệ sinh và an toàn
thực phẩm, NXB Đại học quốc gia Tp.HCM.
30. TS.Trần Thị Phúc Nguyệt, Điều tra ngộ độc thực phẩm, Đại học Y Hà Nội.
31.Hoàng Trí Ngọc (2009), “Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực
phẩm trong Luật Hình sự Vệt Nam. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
Luận văn thạc sỹ, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
32.Lương Đức Phẩm (1980),“Vi sinh vật học và an toàn vệ sinh thực
phẩm”, Đại học Bách khoa Tp.HCM.
33.Quốc hội, “Bộ luật hình sự 1999”, (Số: 15/1999/QH10), ngày 21 tháng
12 năm 1999 (Luật này đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật
Số: 37/2009/QH12, ngày 19 tháng 06 năm 2009.