BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HIẾU HẢO
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC QUẢN TRỊ ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY.
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HIẾU HẢO
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC QUẢN TRỊ ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY.
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số:
60340201
1.6. Kết cấu của luận văn ........................................................................................... 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ....................... 7
2.1. Các lý thuyết liên quan ....................................................................................... 7
2.1.1.
Lý thuyết cấu trúc quản trị doanh nghiệp ........................................... 7
2.1.2.
Lý thuyết đại diện..................................................................................... 8
2.1.3.
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependence theory)..... 11
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ giữa cấu trúc
quản trị và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp ................................................. 13
2.3. Phát triển các giả thuyết ................................................................................... 14
2.3.1.
Giả thuyết về sự đa dạng giới tính trong HĐQT .............................. 14
2.3.2.
Giả thuyết về quy mô của HĐQT ........................................................ 16
2.3.3.
Giả thuyết về thành viên HĐQT không tham gia điều hành .......... 18
4.3.1.
Thống kê mô tả ....................................................................................... 45
4.3.2.
Ma trận tương quan ............................................................................... 48
4.3.3.
Kết quả hồi quy đa biến và thảo luận ................................................. 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU ............... 61
5.1. Kết luận ................................................................................................................ 61
5.2. Hạn chế ................................................................................................................ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HOSE
Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
HNX
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HĐQT
Tóm tắt các yếu tố của cấu trúc quản trị tác động đên hiệu quả tài
chính
Phân ngành của các công ty niêm yết ở Việt Nam
Tóm tắt định nghĩa các biến trong bài nghiên cứu
Kết quả hồi quy xác định độ trễ
Kết quả kiểm định DWH về tính nội sinh
Thống kê mô tả
Ma trận tương quan
Kết quả hồi quy System GMM với trong trường hợp độ sử dụng độ
trễ của biến phụ thuộc là 1 năm
Kết quả hồi quy của 3 phương pháp trong trường hợp độ trễ 1 năm
Kết quả hồi quy System GMM với trong trường hợp độ sử dụng độ
trễ của biến phụ thuộc là 1 năm và 2 năm
Kết quả hồi quy của 3 phương pháp trong trường hợp độ trễ 1 năm
và 2 năm
1
TÓM TẮT
Mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chính của công ty đã được
nhiều nghiên cứu trước đây của cáctác giả khác nhau xem xét.Nhiều nhà nghiên
cứu đã kiểm định thực nghiệm mối quan hệ này cho một số quốc giakhác nhau
trên thế giới và đạt được các kết quả nghiên cứu trái ngược với nhau.Một số tác
giả cho rằng mối quan hệ này là cùng chiều, nhưng một số tác giả khác lại cho
rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa chúng.Thậm chí, có một số nghiên cứu
lại chỉ ra là không có bất kỳ một mối quan hệ nào giữa cấu trúc quản trị và hiệu
quả tài chính của công ty.
Vậy tại Việt Nam, mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chính sẽ
được thể hiện như thế nào?Câu hỏi này sẽ được làm rõ trong luận văn này.Luận
tài chính của một công ty.Một vài nghiên cứu về đề tài này cũng đã được thực hiện
tại Việt Nam.Tuy nhiên, các nghiên cứunày chưa giải quyết triệt để vấn đề nội
sinh.Do vậy, bài nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm định mối quan hệ giữa cấu
trúc quản trị và hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam trong bối
cảnh đã giải quyết triệt để vấn đề nội sinh này. Bài nghiên cứu sử dụng tóm tắt các
lý thuyết đã có, và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới để phát
triển các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị
doanh nghiệp và hiệu quả tài chính của công ty.
3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này tập trung vào mối quan hệ giữa cấu
trúc quản trị và hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Một trong những thách thức lớn nhất trong các nghiên cứu thực nghiệm về
cấu trúc quản trị là làm thế nào để giải quyết triệt để vấn đề nội sinh của các biến
cấu trúc quản trị.Những nghiên cứu lý thuyết của Harris và Raviv (2008);
Hermalin và Weisbach (1998); và Raheja (2005) nhấn mạnh rằng bản chất mối
quan hệ giữa cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chính là động.Mối quan hệ động
nghĩa là hiệu quả tài chính hiện tại và các đặc điểm thuộc về cấu trúc quản trị bị
ảnh hưởng bởi hiệu quả tài chính trong quá khứ.Nói cách khác, có một nguồn nội
sinh tiềm ẩn trong mối quan hệ cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chính công ty, gọi
là nguồn nội sinh động.Nghiên cứu của Wintoki (2012) nhấn mạnh rằng nếu vấn
đề nội sinh động này không được kiểm soát hoàn toàn sẽ có thể dẫn đến sai lệch
trong các kết quả nghiên cứu và dẫn đến các suy luận không đáng tin cậy.Kết quả
nghiên cứu của Wintoki (2012) chỉ ra rằng, khi vấn đề nội sinh được kiểm soát, sẽ
không tồn tại mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chính. Đáng chú ý
là kết luận của nghiên cứu này được rút ra từ một bối cảnhmà quốc gia đã kiểm
GMM. Đây là một phương pháp ước lượng có thể giải quyết vấn đề nội sinh cũng
như khắc phục được các nhược điểm của việc sử dụng một bảng dữ liệu có thời
gian quan sát ngắn và số lượng các công ty quan sát lớn hơn thời gian rất
nhiều.Cách tiếp cận này cải tiến được các phương pháp ước lượng truyền thống
như OLS và Fixed Effects đã được sử dụng trong các bài nghiên cứu khác để giải
quyết vấn đề nội sinh.
5
1.5. Kết quả nghiên cứu
Kết quả cho thấy, sự hiện diện của nữ giới trong HĐQT có tác động cùng
chiều đến hiệu quả tài chính.Công ty có quy mô hội đồng quản trị càng lớn, thì
càng đạt được kết quả hoạt động tài chính tốt hơn.Bên cạnh đó, mức độ tập trung
sở hữu lớn có tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính của công ty.Một kết luận
quan trọng chứng minh cho sự tồn tại của hiện tượng nội sinh là hiệu quả tài chính
trong quá khứ có tác động đến hiệu quả tài chính ở hiện tại và đặc trưng quản trị
hiện tại của một công ty.
1.6. Kết cấu của luận văn
Luận văn này sẽ được trình bày theo cấu trúc như sau:
Chương 1: Giới thiệu. Chương này sẽ trình bày tính cấp thiết của đề tài mà
luận văn này nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, cũng
như trình bày sơ lược phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu đạt
được.
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây.Chương này sẽ trình bày
tổng quan các bài nghiên cứu trước đây để đưa ra một nền tảng cho việc
kiểm định thực nghiệm mô hình này cũng như sẽ thảo luận để đưa ra các giả
thuyết nghiên cứu.
thận trọng để đưa ra một định nghĩa phù hợp về quản trị doanh nghiệp. Cấu trúc
quản trị doanh nghiệp liên quan đến một tập hợp các mối quan hệ giữa ban điều
hành của công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên liên quan khác.
Những mối quan hệ nàyliên quan đến các quy tắc và quyền hạn khác nhau, đưa ra
các cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty được thiết lập, và các cách
thức để đạt được những mục tiêu cũng như kiểm soát hiệu quả tài chính. Do đó,
nhân tố quan trọng của một cấu trúc quản trị doanh nghiệp tốt bao gồm sự minh
bạch của cấu trúc quản trị công ty và hoạt động; trách nhiệm của ban điều hành và
ban quản trị đối với cổ đông; và trách nhiệm của công ty đối với các bên liên
quan.
Nói chung, cấu trúc quản trị doanh nghiệp được coi là có ý nghĩa quan trọng
đối với triển vọng tăng trưởng của một nền kinh tế, bởi vì một cấu trúc quản trị
doanh nghiệp tốt có thể giảm rủi ro cho các nhà đầu tư, thu hút vốn đầu tư và cải
thiện hiệu quả tài chính của công ty (Spanos, 2005). Một cấu trúc quản trị doanh
8
nghiệp hiệu quả được coi là sự đảm bảo trách nhiệm của công ty, nâng cao độ tin
cậy và chất lượng của thông tin tài chính, và do đó tăng cường tính toàn vẹn và
hiệu quả của thị trường vốn, do đó sẽ cải thiện niềm tin nhà đầu tư (Rezaee, 2009).
Có được một cấu trúc quản trị doanh nghiệp tốt là hết sức quan trọng trong
tất cả các công ty bất kể ngành công nghiệp, quy mô, mức độ tăng trưởng.Chủ đề
chính của cấu trúc quản trị doanh nghiệp hiện đang nhận được sự chú ý chính là
đảm bảo rằng có sự tách biệt giữa ban quản trị và ban điều hành để đảm bảo rằng
hội đồng quản trị chỉ đạo và giám sát ban điều hành, bao gồm tách biệt vị trí chủ
tịch và giám đốc; đảm bảo rằng hội đồng quản trị có một sự pha trộn hiệu quả giữa
thành viên độc lập và không độc lập.
Cấu trúc quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam:Các nguyên tắc quản trị
doanh nghiệp đã được đưa vào hệ thống pháp luật về công ty. Chính phủ Việt Nam
phát sinh từ việc tách quyền sở hữu và kiểm soát trong lý thuyết đại diện đã được
xác nhận bởi Davis, Schoorman và Donaldson(1997).Xung đột lợi ích cũng có thể
tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa các cổ đông như đa số và
thiểu số, cổ đông cá nhân và tổ chức, và giữa các thành viên HĐQT như thành
viên điều hành và không điều hành, thành viên độc lập và phụ thuộc.
Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là thiết lập
cấu trúc HĐQT nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông, những người chủ sở hữu
của công ty. HĐQT có thể được thiết lập theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt
được mục tiêu chung của tổ chức. Sự khác nhau trong cấu trúc HĐQT xuất phát từ
hai quan điểm đối lập. Quan điểm thứ nhất cho rằng, HĐQT được thiết lập để hỗ
trợ sự kiểm soát của đội ngũ quản lý, tạo ra kết quả hoạt động vượt trội dựa trên
sự hiểu biết tường tận tình hình công ty của ban giám đốc điều hành hơn là của các
thành viên HĐQT độc lập bên ngoài (Berle và Means, 1932; Mace, 1971). Quan
điểm thứ hai cho rằng, HĐQT được thiết lập để tối thiểu hóa các “chi phí đại diện”
thông qua các cấu trúc cho phép thành viên HĐQT bên ngoài phê chuẩn và giám
sát các hành vi của đội ngũ quản lý, vì vậy cũng giảm thiểu được sự khác nhau về
10
mặt lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý (Fama và Eugene F, 1980; Fama và
Jensen, 1983).
Một cơ chế quan trọng của cấu trúc HĐQT chính là cấu trúc lãnh đạo, nó
phản ánh vị trí, vai trò của chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành.Cấu trúc lãnh
đạo hợp nhất diễn ra khi giám đốc đảm nhiệm cùng lúc hai vai trò là giám đốc
điều hành và chủ tịch HĐQT.Mặt khác, cấu trúc lãnh đạo phân tách diễn ra khi vị
trí chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành được đảm nhiệm bởi hai người khác
nhau. Sự tách biệt vai trò của giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT được đề cập
rất nhiều trong lý thuyết đại diện (Dalton, 1998), bởi vì vai trò của HĐQT chính là
giám sát đội ngũ quản lý để bảo vệ lợi ích của các cổ đông (Fama và Jensen,
2.1.3. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependence theory)
Tuy nhiên, đã có các cách tiếp cận khác đã được xem xét trong các nghiên
cứu trước đây cho rằng lý thuyết đại diện chỉ mô tả một phần của bức tranh phức
tạp của một tổ chức.Hơn nữa, lý thuyết đại diện trình bày không đủ thực tiễn về
cấu trúc quản trị doanh nghiệp trong tất cả các bối cảnh phân tích bởi vì sự khác
biệt đặc điểm thể chế quốc gia (Young et al., 2008).Vì thế, có một lý thuyết khác
được sử dụng trong các nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp, đó là lý thuyết phụ
thuộc nguồn lực (Pfeffer, 1973).
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực là kết quả nghiên cứu về cấu trúc HĐQT. Lý
thuyết này nghiên cứu cách thức các nguồn lực bên ngoài của các tổ chức ảnh
hưởng đến hành vi của tổ chức đó. Nó đề cập đến cấu trúc quản trị được phân chia
tối ưu của các tổ chức, bổ nhiệm các thành viên hội đồng quản trị, và nhiều khía
cạnh khác liên quan đến tổ chức.Lý thuyết này nói rằng, các công ty phụ thuộc với
các mức độ khác nhau vào môi trường về nguồn lực mà họ cần để tồn tại và hoạt
động.Sự không chắc chắn và sự phụ thuộc khiến cho doanh nghiệp cần phải chủ
động quản lý môi trường (Pfeffer, 1973).Các công ty nỗ lực quản lý việc giao dịch
của họ với môi trường để chắc chắn việc sử dụng các nguồn lực mà họ phụ
12
thuộc.Họ muốn việc sử dụng nguồn lực của mình có thể dự đoán trước bởi vì khả
năng dựđoán trước sẽ đơn giản hóa việc quản lý lĩnh vực và thúc đẩy sự sống còn
của công ty.
Theo lý thuyết phụ thuộc vào nguồn lực, mục tiêu của một công ty nhằm
để giảm tối đa sự phụ thuộc của mình vào các công ty khác trong việc cung ứng
các nguồn lực khan hiếm và tìm ra những phương pháp gây ảnh hưởng lên các
công ty đó để tạo ra các nguồn lực sẵn có.Hội đồng quản trị của công ty được xem
là phương tiện để quản lý sự phụ thuộc bên ngoài này và giảm sự không chắc chắn
hệ giữa cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chính.Các nghiên cứu lý thuyết và thực
nghiệm về cấu trúc quản trị thường phức tạp bởi vì mối quan hệ nội sinh tồn tại
giữa các biến. Trong nhiều nghiên cứu, các tác giả đã chỉ ra có hai nguồn nội sinh
có thể gây ra độ chệch trong ước lượng của biến cấu trúc quản trị lên biến hiệu
quả tài chính đó là: tính không đồng nhất không quan sát được (thường xuất hiện
nếu có những yếu tố không quan sát được ảnh hưởng đến cả biến phụ thuộc và
biến giải thích) và tính đồng thời (xuất hiện khi biến độc lập là một hàm của biến
phụ thuộc trong quá khứ).
Tuy nhiên, kết quả của Wintoki (2012) cho rằng các nghiên cứu thực nghiệm
thường bỏ qua vấn đề quan trọng là nguồn nội sinh động bởi vì mối quan hệ giữa
các đặc điểm quan sát được của công ty thường là mối quan hệ động. Nghĩa là, các
hoạt động hiện tại của công ty sẽ ảnh hưởng hiệu quả tài chính trong tương lai, kết
quả là ảnh hưởng đến chính nó trong tương lai.Kết quả khác của nghiên cứu của
Wintoki (2012) là cấu trúc của HĐQT không phải là yếu tố quyết định đến hiệu
quả tài chính của công ty.Nghiên cứu này cho thấy rằng, các kết quả nghiên cứu
trước đây cho rằng có mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chính của
doanh nghiệp là có thể bị chệch so với các giá trị ước lượng đúng của nó và có thể
dẫn đến các suy luận không đáng tin cậy.
14
2.2.2. Nghiên cứu của Dezso và Ross (2012) về mối quan hệ giữa sự hiện diện
của nữ giới trong HĐQT và hiệu quả tài chính của công ty (Does female
representation in top management improve firm performance? A panel data
investigation)
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng sự hiện diện của nữ giới trong
HĐQT có thể mang đến những lợi ích cho ban điều hành, làm phong phú thêm
hành vi của các nhà điều hành, và là động lực cho các nhà quản lý nữ bậc trung.
Từ đó, sự hiện diện của nữ giới này có thể cải thiện hiệu quả tài chính của công ty
(Jensen và Meckling, 1976). Kết quả là, ban quản trị độc lập hơn có thể giám sát
tốt hơn hành vi quản lý, dẫn đến hiệu quả tài chính của công ty cao hơn (Muth và
Donaldson, 1998). Theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, việc gia tăng sự đa dạng
của ban quản trị giúp củng cố an toàn cho các nguồn lực quan trọng của công ty,
và tạo điều kiện kết nối công ty với môi trường bên ngoài (Goodstein và cộng sự,
1994; Pfeffer, 1973). Do đó, rất cần thiết để kiểm định bằng thực nghiệm liệu sự
đa dạng của ban quản trị (đặc biệt là sự đa dạng về giới tính) có tiềm năng để nâng
cao hiệu quả của quá trình ra quyết định của ban quản trị, dẫn đến cải thiện hiệu
quả tài chính của công ty (Rose, 2007). Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan
hệ này, chủ yếu thực hiện tại thị trường Mỹ, cung cấp kết quả không thuyết
phục.Một số nhà nghiên cứu (Campbell và Mínguez-Vera, 2008; Dezső và Ross,
2012; Erhardt và cộng sự, 2003) đã ghi nhận mối quan hệ này là cùng chiều.Một
số khác (Adams và Ferreira, 2009; Ahern và Dittmar, 2012) lại ghi nhận mối quan
hệ ngược chiều.Một số tác giả khác (Carter và cộng sự, 2010; Rose, 2007) lại thấy
rằng không có mối quan hệ nào đáng kể giữa sự đa dạng của HĐQT và hiệu quả
tài chính của công ty.Quan trọng hơn, Farrell và Hersch (2005) cho thấy rằng phụ
nữ có xu hướng làm cho các công ty hoạt động tốt hơn.Nếu điều này đúng, thì sự
đa dạng giới tính được coi là nội sinh và được xác định trong mối quan hệ giữa đa
dạng giới tính và hiệu quả tài chính của công ty. Thật vậy, các nghiên cứu gần đây
của Adams và Ferreira (2009), Carter và cộng sự (2010), Dezső và Ross (2012)
16
cho rằng đa dạng giới tính là nội sinh, nghĩa là nếu bỏ qua bản chất nội sinh cuả
mối quan hệ đa dạng giới tính trong HĐQT và hiệu quả tài chính của công ty thì
có thể dẫn tới ước lượng không chính xác. Với mối quan hệ cùng chiều giữa sự đa
dạng của ban quản trị và hiệu quả tài chính của công ty đựoc dự đoán bởi lý thuyết
đại diện và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, bài nghiên cứu này đề xuất giả thuyết
đầu tiên như sau:
cùng chiều (Dalton và cộng sự,1999).Theo Dalton, quy mô ban quản trị càng lớn,
lượng thông tin thu thập được càng nhiều, do đó, quy mô ban quản trị càng lớn sẽ
dẫn đến hiệu quả tài chính cao hơn. Nghiên cứu của Klein (1998) cho rằng, quy
mô hội đồng quản trị lớn sẽ hỗ trợ và tư vấn cho ban quản trị hiệu quả hơn bởi vì
môi trường kinh doanh và văn hóa của các công ty thường phức tạp.
Trong thực tiễn, một vài nhà nghiên cứu đã ước lượng và tìm được kết quả là
một mối quan hệ cùng chiều (Beiner và cộng sự, 2006), trong khi những người
khác lại cho là ngược chiều (Mak và Kusnadi, 2005; Yermack, 1996). Cách lựa
chọn thứ ba được tìm thấy bởi Schultz và công sự (2010), Wintoki và cộng sự
(2012) đã ghi nhận một mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ban quản trị và hiệu
quả tài chính sau khi kiểm soát các vấn đề nội sinh. Ở thị trường Singapore, Mak
và Kusnadi (2005) ghi nhận rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô
ban quản trị và giá trị công ty (được đo lường bởi Tobin Q). Mak và Kusnadi
(2005) cũng cho rằng phát hiện của họ phù hợp với phát hiện ở những thị trường
khác, như là phát hiện của Yermack (1996), Eisenberg và cộng sự (1998) cho thị
trường Mỹ. Họ cho rằng mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ban quản trị và giá
trị công ty có thể được tổng quát cho những hệ thống quản trị doanh nghiệp khác
nhau. Do mâu thuẫn giữa lý thuyết đại diện và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực về
mối quan hệ giữa hiệu quả và quy mô ban quản trị, chúng tôi điều chỉnh giả thuyết
2 dựa trên những đề nghị thực tiễn của Mak và Kusnadi (2005) được thực hiện cho
thị trường Singapore – một thị trường Châu Á gần giống Việt Nam - như sau:
18
Giả thuyết 2: Quy mô hội đồng quản trị có ý nghĩa thống kê ngược
chiều đến hiệu quả tài chính của các công ty
2.3.3. Giả thuyết về thành viên HĐQT không tham gia điều hành
Thành phần của hội đồng quản trị thường được định nghĩa là tỉ lệ của giám
Nicholson, 2003). Cũng có bằng chứng cho thấy thành phần ban quản trị hoặc là
có tương quan cùng chiều (Kiel và Nicholson, 2003). Trong khi đó, Hermalin và
Weisbach (1991), Laing và Weir (1999) đã cho rằng thành phần ban quản trị
không có ý nghĩa gì. Do đó, rất hợp lý để giả định rằng thành viên HĐQT không
tham gia điều hành đóng vai trò không rõ ràng trong việc quyết định hiệu quả tài
chính của công ty. Dựa trên xem xét nói trên, bài nghiên cứu đưa ra giả thuyết 3
như sau:
Giả thuyết 3: thành viên HĐQT không tham gia điều hành không có
ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty
2.3.4. Giả thuyết về CEO kiêm nhiệm
CEO kiêm nhiệm nghĩa là một người giữ cả vai trò chủ tịch HĐQT và giám
đốc điều hành. Chủ tịch HĐQT chịu trách nhiệm quản trị bao gồm các công việc
như lựa chọn thành viên HĐQT mới, giám sát hoạt động của ban điều hành và giải
quyết các mâu thuẫn trong hội đồng. CEO chịu trách nhiệm quản lý công ty hằng
ngày, bao gồm việc thực thi các quyết định của hội đồng quản trị.Các công ty có
CEO kiêm nhiệm nghĩa là sẽ có 1 thành viên sở hữu quá nhiều quyền lực và có thể
đưa ra quyết định không tối ưu hóa của cải của các cổ đông.Theo lý thuyết đại
diện, CEOkiêm nhiệm chủ tịch HĐQT sẽ cản trở chức năng giám sát của ban quản
trị, và chức năng giám sát có xu hướng bị lạm dụng vì lợi ích cá nhân. Daily và
cộng sự (2003) cho rằng, các CEO không kiêm nhiệm có khả năng giám sát hành
vi tư lợi tốt hơn. Fama và Jensen (1983) cho rằng CEO không kiêm nhiệm có thể