VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÙY
HỖ TRỢ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG
ĐỐI VỚI NGƢỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội
Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. HÀ THỊ THƢ
Phản biện 1: PGS.TS. Trịnh Khắc Thẩm
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Khắc Bình
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội, hồi ...... ,ngày .... tháng..... năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
có cuộc sống ổn định, tạo công ăn việc làm cho người sau khi cai nghiện,
tạo cho họ có một sự tin tưởng vào cuộc sống, giảm bớt thời gian nhàn rỗi
nhằm đưa họ trở lại với xã hội và đặc biệt hơn là nâng cao hiệu quả công
1
tác phòng chống tái nghiện. Song, kết quả đạt được lại chưa thực sự khả
quan.
Vĩnh Phúc cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, là tỉnh thuộc khu
vực châu thổ sông Hồng, nằm liền kề với khu kinh tế trọng điểm của cả
nước đó là Thủ đô Hà Nội. Diện tích tự nhiên là 1.231,76 km2, dân số trên
1,1 triệu người, gồm 9 đơn vị hành chính, với tổng số 112 xã, 25 phường và
thị trấn; có hệ thống giao thông đa dạng thuận lợi để phát triển kinh tế xã
hội. Tuy nhiên, những đặc điểm như trên cũng làm cho Vĩnh Phúc trở thành
địa bàn phức tạp về tình hình an ninh trật tự, có nhiều tác động xấu đến xã
hội, trong đó có tình trạng lười lao động, có tâm lý hưởng thụ, đua đòi ăn
chơi v.v...Đây là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và tệ nạn
xã hội trong đó có tệ nạn ma túy.[37]
Theo số liệu thống kê cho thấy tệ nạn nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc vẫn diễn biến rất phức tạp và ngày càng gia tăng, năm 2008 toàn
tỉnh có 1.386 đối tượng, hết năm 2016, trên địa bàn toàn tỉnh có 1.705
người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý. Trong đó,số người nghiện ma túy
đang cai nghiện tại Trung tâm là 260 người, số người nghiện ma túy tại
cộng đồng là 1.445 người.[37]
Xuất phát từ những yếu tố trên, ta có thể thấy rằng, vấn đề hỗ trợ tái
hòa nhập cộng đồng đối với người sau cai nghiện đang là một nội dung vô
cùng quan trọng và bức thiết trong xã hội hiện nay. Cũng chính điều này đã
đặt ra một yêu cầu cho Nhà nước ta, phải nhanh chóng đề ra những biện
pháp mang tính hệ thống hơn, nhằm giảm thiểu tối đa sự gia tăng của tệ nạn
xã hội và giúp người nghiện ma túy sớm trở về tái hòa nhập với cộng đồng,
càng trở thành “trạm trung chuyển” ma túy và các tiền chất bất hợp pháp
với số lượng lớn ra các nước khác trên thế giới.Kể từ năm 2010, việc sử
dụng “hàng đá” đã vượt xa lượng sử dụng ma túy tổng hợp dạng viên
nén.Loại ma túy chứa nhiều chất kích thích này được sử dụng phổ biến nhất
ở các nhóm “dân chơi” thành thị. Tuy nhiên ở một số vùng nông thôn cũng
đã bắt đầu có dấu hiệu sử dụng hàng đá.[5]
Theo báo cáo “Tình hình và kết quả phòng chống ma túy ở Việt
Nam” của SODC, công bố tháng 5 -2013, đã có 20 cơ sở sản xuất ma túy
tổng hợp bị triệt phá trong vài năm gần đây. Tuy vậy, “nguồn” cung cấp
“đá” không chỉ phụ thuộc vào những cơ sở này. Một số lượng lớn
methamphetamine dạng đá đã chui vào nước ta qua khu vực biên giới giáp
3
Campuchia, Lào, với thị trường mục tiêu là các con nghiện trong nước,
hoặc được vận chuyển trái phép sang Trung Quốc.[5]
Hàng loạt các bài báo và tạp chí đề cập đến vấn đề ma túy, nghiện
ma túy và phòng chống ma túy ở thanh niên trước hết phải kể đến bài viết
của tác giả Mạc Văn Trung trong bài viết “Nạn nghiện ma túy xem xét ở góc
độ cá nhân” (Tạp chí khoa học thanh niên (1998). Tác giả đề cập đến những
động cơ khiến một cá nhân bị rơi vào tình trạng nghiện ma túy hầu như
không phải xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ mà là sự tổ hợp của nhiều
tác nhân khác nhau, cụ thể gồm: yếu tố sinh học, môi trường xã hội và lứa
tuổi hoặc là giai đoạn phát triển của cá nhân.[41]
Bài “Chống tái nghiện nhìn từ góc độ tâm lý” của tác giả Đỗ Ngọc
Yên đề cập đến nguyên nhân tái nghiện do chính bản thân người nghiện và
môi trường sống của người nghiện sau khi đã cai nghiện ảnh hưởng đến
việc họ quyết tâm hay không quyết tâm từ bỏ ma túy.[50]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: “Nghiên cứu các giải
pháp nhằm nâng cao quản lý cai nghiện và sau cai nghiện” “02-X07 của
Tác giả Phan Thị Mai Hương (2005) với nghiên cứu “Thanh niên
nghiện ma túy nhân cách và hoàn cảnh xã hội” là một cách tiếp cận mới về
thanh niên nghiện ma túy – từ góc độ của tâm lý học. Tác giả đã phân tích,
hệ thống hóa những lý luận về đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và sự
ảnh hưởng cả chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện ma túy
cũng như quan điểm về việc giải quyết chúng trong thực tiễn. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh nổi trội của
thanh niên nghiện ma túy, mối quan hệ giữa các đặc điểm với hành vi
nghiện. Trong đó, vai trò của gia đình được tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi
trường gia đình gắn với vị thế kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm
nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên nghiện ma túy, cách quản lý
của cha mẹ đối với con cái. Trên cơ sở, việc ngăn chặn hành vi nghiện ma
túy và việc cai nghiện ma túy ở thanh niên cần phải kết hợp giữa tri thức và
biện pháp tâm lý học. Kết quả nghiên cứu đã định hướng về hướng giáo dục
và ứng xử thích hợp với người nghiện ma túy cũng như góp phần ngăn ngừa
việc lạm dụng ma túy ở thanh thiếu niên.[16]
Đề tài cấp Bộ: “Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy
sau khi được chữa trị phục hồi” do Nguyễn Văn Minh (2002) làm chủ nhiệm.
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm, đời sống người nghiện ma túy.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều khả năng tái nghiện của người nghiện ma
túy sau cai là do không có việc làm, mặc dù nghị lực của đối tượng là yếu tố
5
quyết định, sự quan tâm của gia đình là yếu tố quan trọng giúp đối tượng từ bỏ
tệ nạn xã hội. Do vậy, các đề xuất của tác giả hướng tới hoàn thiện hệ thống các
giải pháp tạo việc làm cho đối tượng nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, giảm tỷ
lệ tái phạm, tái nghiện
Đề tài “Những giải pháp thực hiện việc ngăn chặn tệ nạn mại dâm, ma
túy trong thanh thiếu niên” (2007) do Đỗ Thị Bích Điềm làm chủ nhiệm. Đề
phòng tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện tại cộng đồng; đề
xuất đổi mới mô hình tổ chức và phương pháp hoạt động của đội tình
nguyện; xây dựng nội dung chương trình giáo dục chuyển biến nhận thức
và hành vi thanh niên sau cai nghiện ở cộng đồng.[26]
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, (2011) “Phát triển Dạy nghề đáp ứng
nhu cầu trong giai đoạn mới”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (số 4) đã chỉ ra
yêu cầu cần phải đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay, không chỉ đào tạo
nghề đòi hỏi lượng chất xám cao mà còn phải đào tạo những nghề đơn giản
nhằm đáp ứng xu thế hội nhập với khu vực quốc tế, để tạo ra những sản
phẩm nhằm đáp ứng với nhu cầu thị trường.[15]
Bàn về vai trò của nhân viên Công tác xã hội thì có một số công
trình nghiên cứu liên quan đến đề tài vai trò của nhân viên Công tác xã hội
như: Công trình nghiên cứu Đặng Kim Khánh Ly và Dương Thị Phương,
năm 2012, bàn về "Định hướng vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong
bệnh viện ở Việt Nam hiện nay", trong hội thảo quốc tế về an sinh xã hội và
công tác xã hội năm 2012. Chủ yếu đề cập đến khó khăn của người làm
công tác xã hội trong việc trợ giúp người bệnh. Mà khó khăn chủ yếu là
hiện chưa có chính sách nào quy định cụ thể về quyền và chính sách dành
cho người làm công tác xã hội để họ yên tâm thực hiện vai trò của
mình.[24]
Tác giả Phan Hồng Giang nghiên cứu về: "Vai trò của nhân viên
Công tác xã hội với người có HIV sử dụng ma túy", (2012) quan tâm đến
vai trò nhân viên công tác xã hội trong việc sử dụng phương pháp của công
tác xã hội vào can thiệp, trợ giúp người có HIV sử dụng ma tuý, sử dụng kỹ
năng công tác xã hội vào biện hộ.[17]
Nhìn chung từ cách tiếp cận và nghiên cứu của các chuyên ngành
khác nhau các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và
thực tiễn của công tác hỗ trợ người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu của các công trình đó
có giá trị tham khảo tốt để thực hiện đề tài luận văn. Việc vận dụng những
người sau cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng
đối với người sau cai nghiện;
Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ tái hòa
nhập cộng đồng cho một trường hợp cụ thể
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ tái hòa
8
nhập cộng đồng đối với người sau cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng đối với người sau cai nghiện ma túy
từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích, đánh giá công tác hỗ trợ
tái hòa nhập cộng đồng đối với người sau cai nghiện ma túy, tập trung
vào các hoạt động hỗ trợ sau: Hỗ trợ tâm lý- xã hội; Hỗ trợ học nghề và
giải quyết việc làm; Hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội; Truyền thông nâng cao
nhận thức.
* Phạm vivề khách thể nghiên cứu
Khảo sát, tìm hiểu 50 người sau cai nghiện ma túy tại thành phố
Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.
Cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội và cán bộ lãnh đạo
quản lý tại các huyện, thị: 10 trường hợp, cán bộ làm công tác phòng chống
TNXH cấp xã/phường.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1.Phương pháp luận
cho tác giả đề xuất những giải pháp ở phần sau. Số liệu được xử lý
sau khi điều tra và được phân tích tại Chương 2 của luận văn.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đối tượng được lựa chọn để trả lời phỏng vấn sâu bao gồm:
- Người sau cai nghiện ma túy: 8 trường hợp.
- Cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội và cán bộ lãnh đạo
quản lý tại các huyện, thị: 10 trường hợp, cán bộ làm công tác phòng chống
TNXH cấp xã/phường.
- Gia đình, bạn bè, hàng xóm của người sau cai nghiện ma túy: 8
trường hợp (người thân của 8 trường hợp phỏng vấn sâu ở trên).
5.2.4. Phương pháp quan sát
Với phương pháp này tác giả đã đến nhà một số gia đình người sau
cai nghiện ma túy tại Trung tâm nhằm quan sát và tìm hiểu rõ hơn về cuộc
sống thường ngày của họ với mục đích tìm hiểu sâu hơn thực trạng hoàn
cảnh của đối tượng này tại đơn vị nghiên cứu.
5.2.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các thuật toán để xử lý số liệu kết quả khảo sát bằng thống
kê toán học (với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 16.0), bằng cách nhập và
làm sạch dữ liệu; Xử lý biến đổi và quản lý dữ liệu; Tóm tắt, tổng hợp dữ
liệu và trình bày dưới dạng biểu bảng; Phân tích dữ liệu, tính toán các tham
số thống kê và diễn giải kết quả.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài sẽ góp phần vào phân tích và làm rõ những vấn đề cơ bản về sự
10
kỳ thị, những rào cản trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người sau
cai nghiện và vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ tái hòa nhập cộng
đồng cho người sau cai nghiện ma túy. Ngoài ra, đề tài còn hệ thống các
11
và sẽ tìm mọi cách để có ma túy, liều dùng tăng dần, lệ thuộc chất ma túy
cả về thể chất và tâm thần [49].
1.1.1.2. Khái niệm Cai nghiện ma túy
Cai nghiện ma túy là tổng hợp các biện pháp từ cắt cơn, giải độc,
phục hồi sức khỏe, điều trị các bệnh cơ hội đến các biện pháp điều trị tổng
hợp trị liệu như giáo dục, tâm lý, lao động trị liệu, giải trí đối với người
nghiện.
1.1.1.3. Khái niệm Người sau cai nghiện ma túy
Người sau cai nghiện là:người nghiện ma túy đã thực hiện xong
quy trình cai nghiện ma túy theo quy định tại cơ sở cai nghiện ma túy để tái
hòa nhập cộng đồng và làm việc.
1.1.2. Đặc điểm nhu cầu và tâm lý – xã hội của ngƣời sau cai
nghiện
Người sau cai nghiện ma túy thường có đặc điểm tâm lý không
thích giao tiếp với người ngoài gia đình, tự cô lập bản thân, sức khỏe của họ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng do sử dụng ma túy, bản thân họ luôn tự kỳ thị,
lo lắng cho tương lai, mọi quan hệ bị bó hẹp.
Nhu cầu của người sau cai nghiện: Muốn được yêu thương, được
tin tưởng, xây dựng lại các mối quan hệ với cộng đồng, xã hội; Muốn được
hướng nghiệp, có việc làm, tạo thu nhập, duy trì cuộc sống; Muốn được
tiếp cận với các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe để tái hòa
nhập cộng đồng.
1.2. Lý luận về hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng đối với ngƣời sau
cai nghiện ma túy
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1.Khái niệm tái hòa nhập cộng đồng
Tái hòa nhập là quá trình giúp cho người sau cai nghiện ma túy hội
1.2.2.2. Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm
Đối với nguời sau cai nghiện ma túy, chúng ta cần thiết phải xem
xét vấn đề dạy nghề và tạo việc làm cho họ một cách hợp lý. Bởi vì những
đối tuợng này sau thời gian dài sử dụng các chất ma túy đã bị hạn chế nhiều
hơn về mặt nhận thức, tâm lý, sức khỏe, mất cân bằng nghiêm trọng cả về
thể chất lẫn tinh thần. Trong thời gian sử dụng ma túy, người nghiện đã mất
hết những thói quen tốt hàng ngày, lười biếng, ngại khó, ngại khổ; thêm vào
đó là tâm lý tự tin, cô độc, ngại giao tiếp
1.2.2.3. Hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội
13
Là hoạt động mà nhân viên CTXH trợ giúp người nghiện ma túy
tìm kiếm nguồn lực (con người, cơ sở vật chất, tài chính, giáo dục, kỹ thuật,
thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị, quan điểm,...), dịch vụ xã hội
cho phù hợp đối với từng loại vấn đề cụ thể của người nghiện ma túy.Mục
đích của hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội là tạo mối quan hệ giữa thân chủ
và gia đình với các cơ quan, tổ chức, cung cấp các dịch vụ xã hội cho người
sau cai nghiện.
1.2.2.4. Truyền thông nâng cao nhận thức.
Hoạt động truyền thông với mục đích tăng cường phổ biến thông
tin, tuyên truyền về chính sách hỗ trợ người sau cai nghiện tái hòa nhập
cộng đồng tới các cấp chính quyền và cộng đồng, các nhà quản lý, làm
chính sách để từ đó nâng cao nhận thức của người dân, các cơ quan, đoàn
thể và cộng đồng về việc chăm sóc, tạo điều kiện cho sau cai nghiện sống
có ích cho xã hội là nhiệm vụ, trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân.
1.2.3. Lý thuyết ứng dụng trong hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng
- Lý thuyết hệ thống sinh thái
- Thuyết nhu cầu Maslow.
- Lý thuyết trị liệu nhận thức – thay đổi hành vi
THỰC TRẠNG VỀ HỖ TRỢ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG ĐỐI
VỚI NGƢỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI TỈNH VĨNH PHÚC
2.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1. Khái quát về tỉnh Vĩnh Phúc
Tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập năm 1997, là tỉnh thuộc khu vực châu
thổ Sông Hồng, tiếp giáp với khu kinh tế trọng điểm của cả nước, có hệ
thống giao thông thuận tiện là lợi thế cho việc phát triển kinh tế, với những
đặc điểm như trên cũng làm cho Vĩnh Phúc trở thành địa bàn phức tạp về
tình hình an ninh trật tự, có nhiều tác động xấu đến xã hội, trong đó có tình
trạng lười lao động, có tâm lý hưởng thụ, đua đòi ăn chơi… là nguyên nhân
phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.
2.1.2. Khái quát về khách thể nghiên cứu
2.1.2.1. Đặc điểm về người sau cainghiện ma túy
* Độ tuổi của người sau cai nghiện ma túy
* Học vấn của người sau cai nghiện ma túy
*Thời gian nghiện ma túy
*Số lần cai nghiện ma túy
*Thời gian THNCĐ của NSCNMT
15
*Hình thức cai nghiện của NSCNMT đã THNCĐ
2.1.2.2. Công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện tại tỉnh Vĩnh
Phúc
Công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện tại Vĩnh Phúc đã và
đang áp dụng hai hình thức cai nghiện cho người nghiện ma túy đó là: cai
nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng và cai nghiện tại cơ sở cai nghiện;
các biện pháp cai nghiện cho người nghiện ma túy là: Cai nghiện tự nguyện
và cai nghiện bắt buộc. Bên cạnh đó công tác quản lý sau cai nghiện tại nơi
cư trú và hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng được
2.3.2. Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm
Công tác dạy nghề và đào tạo việc làm cho người sau cai nghiện
bằng nhiều hình thức khác nhau cụ thể như việc tuyên truyền sâu rộng về
chế độ học nghề, dạy nghề và tạo việc làm đối với người sau cai. Đồng thời,
tuyên truyền rộng rãi các chương trình dạy nghề, học nghề, việc làm để họ
có thêm thông tin và cơ hội tiếp cận các chính sách. Bên cạnh đó, thường
xuyên có những bài viết tuyên dương những người tốt việc tốt, người sau
cai có công ăn việc làm tái hòa nhập cộng đồng qua loa phóng thanh để
nhiều người biết đến
Thực tế cho thấy, người sau cai nghiện trình độ học vấn không cao,
không có kỹ năng chuyên môn chỉ có thể tìm được những công việc giản
đơn, không ổn định và hạn chế nhận được sự giúp đỡ từ cộng đồng, xã hội.
Trong thời gian cai nghiện tại Trung tâm họ đã được đào tạo một số nghề
như mộc, hàn, điện dân dụng...được trang bị những kiến thức về phòng,
chống tái nghiện, tái hòa nhập cộng đồng, nhưng khi trở về cộng đồng do
điều kiện kinh tế gia đình, khó khăn trong việc tìm kiểm việc làm, trong khi
đó nhu cầu tìm việc làm của họ cao; công việc họ có thể làm như xe ôm,
phụ xe…những công việc này di chuyển nhiều nơi, ngoài vòng kiểm soát
của gia đình muân thuẫn này có thể đưa họ tái nghiện trở lại.
Như vậy, trình độ học vấn được xem là một yếu tố của con người
và là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đế khả năng người sau
cai nghiện ma túy tham gia vào thị trường lao động.
2.3.3. Hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội
Người sau cai nghiện ma túy khi trở về cộng đồng gặp rất nhiều vấn
đề khó khăn trong cuộc sống như: sức khỏe,việc làm, kinh tế, các mối quan
hệ xã hội. Do vậy công tác hỗ trợ cho người sau cai nghiện là cần thiết và
thực hiện một cách đồng bộ, liên tục, toàn diện trong quá trình này nhân
viên xã hội làm việc với thân chủ để xác định dịch vụ cần thiết, tổ chức và
17
ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng đối với người sau cai
nghiện:
- Bản thân người sau cai nghiện ma túy
18
- Bản thân nhân viên công tác xã hội
- Gia đình người sau cai nghiện ma túy
- Nhận thức của cộng đồng, chính quyền địa phương
Chƣơng 3
ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀ
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ HỖ TRỢ
TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƢỜI SAU CAI NGHIỆN
MA TÚY TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
3.1. Ứng dụng phƣơng pháp công tác xã hôi cá nhân vào trợ
giúp một trƣờng hợp cụ thể
3.1.1. Lý do ứng dụng
Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ
tái hòa nhập cộng đồng đối với người sau cai nghiện ma túy là việc làm cần
thiết nhằm giúp đỡ một người lầm lỗi trở lại cuộc sống ổn định, chống tái
nghiện, hòa nhập cộng đồng bền vững.
3.1.2. Kết quả ứng dụng
Tác giả thực hiện ứng dụng công tác xã hội cá nhân theo tiến trình
7 bước để hỗ trợ cho một thân chủ là người sau cai hòa nhập cộng đồng.
- Mô tả vài nét về hoàn cảnh của thân chủ và gia đình
- Tiếp cận thân chủ
- Chẩn đoán
- Kế hoạch trị liệu
- Triển khai kế hoạch trị liệu
- Lượng giá, kết thúc.
được quyết định bởi năng lực, trình độ của nhân viên CTXH, vì vậy thường
xuyên tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn cho nhân viên CTXH
nhằm trang bị, cung cấp những kiến thức, kỹ năng, những chủ trương, chính
sách mới của Đảng và Nhà nước dành cho đối với nhóm đối tượng xã hội
yếu thế. Đồng thời qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng giúp nhân viên CTXH
hiểu đúng mục đích của hoạt động CTXH, thấy rõ vai trò, trách nhiệm,
nhiệm vụ của mình từ đó họ có thái độ đúng đắn với nghề nghiệp, không
ngừng trau dồi đạo đức, học tập nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng nghề
CTXH. Từ đó họ thực hiện tốt vai trò của một nhân viên CTXH nhằm trợ
giúp cho người sau cai nghiện cũng những đối tượng xã hội yếu thế khác
một cách hiệu quả nhất.
20
3.2.3. Đào tạo nghề, tìm việc làm thích hợp cho người sau cai
nghiện
Lao động, việc làm có ý nghĩa quan trọng trong đời sống mỗi con
người. Người có lao động, có việc làm, có nghề nghiệp sẽ phát triển toàn
diện về trí tuệ, tư tưởng, tình cảm và nhân cách. Nhiều người nghiện, vì
nghiện mà không chịu lao động, không chịu học tập, đào tạo nghề, không
tìm được việc làm. Do vậy, lao động, việc làm với người nghiện ma túy,
nhất là người sau cai nghiện là rất quan trọng.
Để tìm việc làm, trước hết phải đào tạo nghề.Với người nghiện ma túy,
số được đào tạo nghề trước khi nghiện không nhiều. Do vậy, đào tạo nghề
trong quá trình cai nghiện tập trung có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, đào tạo
nghề nào?Đào tạo thế nào với những chuẩn nào và thời gian đào tạo ra sao?
Đang là vấn đề không đơn giản. Trước hết, cần đào tạo những nghề mà xã hội
đang cần như may mặc, làm hàng thủ công, hàn, nguội, mộc, điện gia dụng,
xây dựng…Sau nữa, phải tổ chức giới thiệu việc làm, tìm việc làm, giúp người
sau cai nghiện có được việc làm thích hợp. Đây là công việc cần sự giúp đỡ,
hội về người sau cai nghiện ma túy, khắc phục tâm lý kỳ thị, xa lánh, ngại
tiếp xúc, xem họ như là người hư hỏng, khó giáo dục trước đây. Đây là mô
hình cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo, duy trì thường xuyên, phát triển và nhân
rộng, đưa thành phong trào nhằm thu hút sự chú ý, quan tâm của nhiều gia
đình có người sau cai nghiện và của cộng đồng xã hội.
KẾT LUẬN
Sau một thời gian nghiên cứu, luận văn “ Hỗ trợ tái hòa nhập cộng
đồng đối với người sau cai nghiện ma túy từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” Đã
phân tích, khái quát hóa những chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng,
Nhà nước và tỉnh Vĩnh Phúc về vấn đề hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho
người sau cai nghiện ma túy. Trong quá trình phân tích, tìm hiểu và đánh
giá về vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong công tác hỗ trợ người sau
cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng tôi đã nhận thấy rằng các cán bộ chính
sách thực hiện khá tốt, nhiệt tình, có kiến thức chuyên môn để hỗ trợ kịp
thời về tinh thần cũng như định hướng nghề nghiệp cho người sau cai
nghiện tái hòa nhập cộng đồng.
Giải quyết ổn định kinh tế cho đối tượng sau cai nghiện ma túy là
mục tiêu chung của toàn xã hội. Giải quyết tốt vấn đề này không chỉ làm ổn
định và làm giảm bớt tệ nạn ma túy còn tạo thêm được một lực lượng lao
22
động có ích cho toàn xã hội. Để làm được điều này, không chỉ đòi hỏi trách
nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của chính bản thân họ những
người sau cai nghiện ma túy. Những người đã từng mắc sai lầm và họ mong
muốn được sửa chữa lại những sai lầm đó, chính chúng ta, hãy tạo cơ hội
cho họ, giúp họ quay lại với chính mình không chỉ thực hiện bằng lời nói
mà còn hànhđộng.
Trên cơ sở làm rõ hệ thống các khái niệm, phạm trù tạo cơ sở cho
việc nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các lý thuyết hệ thống, lý thuyết thay