VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN HUY
ỨNG XỬ CỦA CỘNG ĐỒNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
(Nghiên cứu tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN HUY
ỨNG XỬ CỦA CỘNG ĐỒNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
(Nghiên cứu tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh)
Ngành: XÃ HỘI HỌC
Mã số: 8.31.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. VŨ MẠNH LỢI
Hà Nội, 2019
Mặc dù đã rất cố gắng nghiên cứu hoàn thành luận văn, nhưng cũng không
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được góp ý của các thầy cô và các
chuyên gia.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
PHẦN I: MỞ ĐẦU ....................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI ...............................20
1.1. Cơ sở lý luận .....................................................................................................20
1.1.1. Các khái niệm sử dụng trong đề tài ..............................................................20
1.1.2. Câu hỏi nghiên cứu........................................................................................25
1.1.3. Giả thuyết nghiên cứu....................................................................................26
1.1.4. Vài nét về địa bàn nghiên cứu .......................................................................33
PHẦN II: NỘI DUNG .............................................................................................38
CHƯƠNG 2: THÁI ĐỘ ỨNG XỬ CỦA CỘNG ĐỒNG VỚI NGƯỜI SAU CAI
NGHIỆN MA TÚY TẠI ĐỊA PHƯƠNG ..............................................................38
2.1 Thái độ của cộng đồng về người nghiện ma túy .............................................38
2.2. Thái độ của cán bộ chức năng chính quyền địa phương đối với người sau
cai nghiện ma túy ....................................................................................................44
2.3 Thái độ của gia đình người sau cai nghiện .....................................................49
2.4 Thái độ của người sau cai nghiện với người sau cai nghiện và chính họ .....51
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA THÁI ĐỘ CƯ XỬ CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỐI
VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN ..........................................................................53
Tác động đến việc làm và tạo kế sinh nhai ...........................................................55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................62
Bảng 2.5
Các yếu tố giúp người sau cai nghiện ma túy vượt qua khó khăn
Bảng 2.6
Các yếu tố để người sau cai nghiện hòa nhập cộng đồng
Những kỳ thị gây khó khăn cho người sau cai nghiện ma túy khi hòa
Bảng 2.7
nhập cộng đồng
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn nạn về ma túy luôn là vấn đề “nóng” và hết sức phức tạp với mọi thời
điểm, không chỉ riêng ở nước ta mà là trên phạm vi toàn thế giới. Trong bối cảnh
hiện nay, số người nghiện ma túy ngày càng gia tăng và ngày càng trẻ hóa. Nhiều
loại (chất) ma túy mới và tác hại của chúng sau khi sử dụng rất khôn lường. Đối
tượng sử dụng ma túy ngày càng đa dạng ở nhiều tầng lớp khác nhau, lan rộng đến
mọi vùng miền, lãnh thổ.
Có nhiều nguyên nhân làm gia tăng số người nghiện cũng như tội phạm ma
túy hiện nay. Một trong nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ sự thiếu quan tâm giáo
dục của gia đình, sự buông lỏng quản lý, ít quan tâm đến con cái hay nuông chiều
quá mức, bị đối tượng xấu lôi kéo vào con đường nghiện hút, tò mò muốn thử một
lần cho biết, thể hiện bản lĩnh trước bạn bè... Ngoài ra, công tác cai nghiện còn
nhiều bất cập như: cơ sở hạ tầng còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, có giai đoạn
vướng phải Nghị định 221/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc “Quy định chế độ
áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện
cán bộ phục vụ cai nghiện, xây dựng thêm các cơ sở hạ tầng....
Chính vì tác hại của ma túy to lớn như thế, nên không thể tránh khỏi việc
cộng đồng kỳ thị những người nghiện ma túy. Kỳ thị và phân biệt đối xử bất cứ đối
tượng nào cũng dễ dẫn đến hậu quả tiêu cực, làm cho người bị kỳ thị cảm thấy bị cô
lập, rơi vào trạng thái trả thù hoặc buông xuôi, trượt dài hơn.
Với những người sau cai nghiện ma túy, đặc biệt là những người cai nghiện
dạng bắt buộc, họ không sinh hoạt tại cộng đồng nơi họ sinh sống một thời gian (từ
12 tháng đến 24 tháng), trải qua một quá trình học tập, lao động trị liệu và cách ly
với ma túy. Người nghiện ma túy cũng có những trăn trở, có hoài bão và có ước
mơ.... Nhiều người sau khi cai nghiện nhận ra lỗi lầm của mình, họ cũng có những
kế hoạch và dự định sau khi tái hòa nhập cộng đồng họ sẽ làm lại từ đầu, bắt đầu
cuộc sống mới. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: sau khi trở về họ sẽ gặp những rào cản,
khó khăn gì? Gia đình đối xử ra sao? Trở về có công ăn việc làm không? Họ có bị
kỳ thị và bị coi thường không? Rất nhiều câu hỏi khác nữa đặt ra, trong đó có câu
hỏi của tôi là bao giờ xã hội hết kỳ thị người nghiện ma túy? Hiện nay, xã hội đã
2
nhìn nhận người nghiện như thế nào? Và họ đối xử như thế nào với những người
sau cai nghiện ma túy trở về tái hòa nhập cộng đồng?
Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài nghiên cứu “Ứng xử của cộng đồng
đối với người sau cai nghiện ma túy – Nghiên cứu tại Quận Phú Nhuận, Thành
phố Hồ Chí Minh” nhằm góp phần phản ánh rõ hơn nhìn nhận của cộng đồng, những
người xung quanh người sau cai nghiện hiện nay ở mức nào để có thể giúp ích được
thông tin cho các tổ chức/ Chính quyền địa phương thực hiện chính sách và hỗ trợ dành
cho người sau cai nghiện ma túy hợp lý hơn trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Để hiểu rõ hơn về quá trình tái nghiện chúng ta cần hiểu được các hội chứng
về tâm lý và cơ thể mà người sau cai nghiện ma túy gặp phải:
tham gia điều trị nhưng khi họ không vượt qua được hội chứng cai thì sẽ thay đổi ý
định không muốn điều trị nữa. Tất cả những điều đó nếu họ không vượt qua được họ sẽ
tìm mọi cách để tìm đến sử dụng lại ma túy, có thể tự làm đau bản thân, tự tử… để
thoát khỏi sự kiểm soát của người khác và khi biết mình đã tái nghiện trở lại ở họ có
thể xuất hiện trạng thái tâm lý muốn bỏ cuộc, buông xuôi tất cả.
Như vậy, hội chứng cai chủ yếu là những biểu hiện đau đớn, khó chịu về mặt
cơ thể nhưng có thể trở thành rào cản tâm lý cho người nghiện trong quá trình cai.
Vì không ít trường hợp người nghiện tái nghiện, thậm chí cai nghiện gián đoạn (bỏ
dở quá trình cai) vì họ không vượt qua hội chứng cai, hoặc xuất hiện tâm lý sợ hội
chứng cai (đau bụng, hay đau đớn về mặt cơ thể khác, mất ngủ, cơ thể mệt mỏi
v.v...) Từ đó làm giảm quyết tâm và niềm tin cai nghiện thành công của họ.
Thời gian Cai nghiện tại các cơ sở được các bác sĩ, cán bộ quản lý... điều trị
bằng tâm lý, động viên và có các phác đồ điều trị từ thể chất đến tinh thần. Người
nghiện được học cách đối phó với các cơn thèm nhớ, được tham gia lao động trị
liệu, học nghề, tham gia sinh hoạt văn nghệ.... Người nghiện bắt đầu ý thức về bản
thân, đi từ sự lệch lạc hành vi sang các hành vi đúng đắn, biết suy nghĩ và ý thức
hơn, trách nhiệm hơn. Tuy nhiên, khi tái hòa nhập cộng đồng, nếu như họ không
được sự giúp đỡ và không được thuận lợi như hòa nhập cuộc sống sinh hoạt, gặp
khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ xã hội, bị kỳ thị, bị quản lý, khó khăn trong
việc làm, khó khăn trong tình yêu, hôn nhân gia đình.... Họ sẽ dần chán nản, thất
4
vọng và muốn tìm lại ma túy để xóa đi cảm giác đang gặp phải, con đường tái
nghiện cũng xuất phát từ đây.
Ma túy gây rối loạn cảm xúc và cảm xúc lo âu trong thời kỳ quá liều và thời
kỳ cai. Rối loạn cảm xúc trong mức độ từ lo lắng vừa phải đến triệu chứng nặng phù
hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần.
Ma túy gây ra rối loạn cảm xúc kéo dài ở mức độ trầm trọng. Triệu chứng
xuyên tham gia các hoạt động nhằm phục hồi thể chất, tăng cường nhận thức về tác
hại của ma túy và nâng cao động lực, quyết tâm cai nghiện.
Sau thời gian 30 ngày điều trị cắt cơn, học viên được phục hồi đáng kể về thể
chất, hội chứng cai được loại bỏ hoàn toàn, tâm lý ổn định và sẵn sàng bước sang
giai đoại trị liệu tâm lý tiếp theo.
Về tâm lý
Nghiện ma túy hay còn gọi là tình trạng lệ thuộc vào ma túy gây ra đồng
thời cả sự lệ thuộc về thể chất và sự lệ thuộc về tâm lý. Trong khi sự lệ thuộc về thể
chất có thể được dễ dàng xóa bỏ thông qua thời gian điều trị cắt cơn thì sự lệ thuộc
về tâm lý lại vẫn tồn tại ngay cả khi người nghiện đã dừng hoàn toàn hành vi sử
dụng ma túy sau nhiều năm. Về cơ bản, sự lệ thuộc về tâm lý được thể hiện chính
bằng “cơn thèm nhớ”. Người nghiện vẫn có thể thấy nhớ, thấy thèm những cảm
giác do ma túy mang lại dù sau nhiều năm ngừng sử dụng. Và chính cơn thèm nhớ
về mặt tâm lý này đã thôi thúc người nghiện tìm đến với ma túy để tái sử dụng và
tái nghiện, bất chấp những hậu quả do nó đem lại.
Như vậy, loại bỏ được sự lệ thuộc về tâm lý hay loại bỏ được cơn thèm nhớ
ma túy giúp người nghiện không còn ham muốn sử dụng ma túy chính là một mục
tiêu vô cùng quan trọng giúp cho quá trình cai nghiện đạt được thành công mang
tính lâu dài, bền vững, ngăn chặn hiệu quả nguy cơ tái sử dụng, tái nghiện ma túy
trở lại.
Để thực hiện được mục tiêu loại bỏ ham muốn sử dụng ma túy ở người, PSD
sử dụng phương pháp trị liệu tâm lý nhằm giúp học viên hoàn toàn kiểm soát, làm
chủ được những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của bản thân ngay cả khi tiếp xúc
trực tiếp với các yếu tố gợi nhớ mạnh mẽ đến việc sử dụng ma túy như: người bạn
nghiện, nơi mua bán ma túy, bơm kim tiêm, giấy bạc… Chính sự kiểm soát bản
thân một cách hiệu quả giúp học viên có thể đối phó và dễ dàng vượt qua những cơn
thèm nhớ ma túy bất chợt xuất hiện; lâu dài sẽ xóa bỏ được ham muốn sử dụng ma
túy, hình thành nên những hành vi mang tính lành mạnh mới – hành vi không sử
dụng ma túy.
Nhìn chung, nguyên nhân chính dẫn đến tái nghiện xét cho cùng là do người
nghiện đã không tự giải thoát bản thân trước sức cám dỗ của ma túy. Nhưng cũng
7
phải thừa nhận những lý do khác như sự mặc cảm, kỳ thị của những người xung
quanh; thái độ thờ ơ, lãnh đạm của chính gia đình; thất nghiệp và nguy hiểm nhất là
sự kết nối của bạn nghiện đã khiến người đi cai nghiện về, vốn đang trong tâm lý
chán chường, trở lại con đường cũ.
Những động cơ chính gây tái nghiện gồm nội tâm bệnh nhân và những quan
hệ cá nhân của đối tượng, hoặc cả hai cùng phối hợp. Về cảm xúc chúng ta có thể
thấy rằng do hoàn cảnh sống, bệnh nhân nếu bị trầm cảm hay hưng phấn, hai trạng
thái này đều dễ dẫn tới tái nghiện. Còn về hành vi thì người nghiện rất thường thiếu
kỹ năng xử lý tình huống. Họ dễ bị lôi cuốn khi gặp bạn bè cũ, những tình huống
nguy cơ. Những thời gian nghiện ngập tạo cho bệnh nhân một phản xạ xấu: thấy ma
túy là sử dụng (tính bốc đồng khi có cơ hội). Bên cạnh đó về nhận thức người
nghiện ma túy thường có biểu hiện như: kém nhiệt tình học tập trong quá trình điều
trị, tiếp thu kém; không tin rằng mình có khả năng đoạn tuyệt với ma túy; có thương
tổn trong đầu óc, không có khả năng tiếp thu điều trị.
Về môi trường và quan hệ cá nhân: Thiếu hỗ trợ của gia đình và xã hội, bị áp
lực của bạn bè xấu, thất nghiệp hay lâm vào hoàn cảnh khó khăn, để thời gian rỗi
quá nhiều. Còn về mặt sinh lý người nghiện ma túy thường không thắng được cảm
giác thèm thuốc, có bệnh đau mãn tính. Về mặt tâm thần, tâm linh họ thường có
mặc cảm tội lỗi, xấu hổ âm thầm trong nội tâm không xóa được. Cảm giác trống
rỗng chẳng có mục đích ý nghĩa gì. Bên cạnh đó khi người nghiện ma túy sống tập
trung tại các trung tâm cai nghiện thì một phần nhân viên điều trị đã gây ra ấn tượng
xấu vào tâm trí bệnh nhân. Kế hoạch điều trị không thích ứng, kế hoạch theo dõi
hậu cai nghiện chưa đầy đủ.
Dấu hiệu tái nghiện:
nhập mất đi. Kết quả tất yếu là họ phải sa vào con đường phạm tội trộm cắp, cướp
giật, hành nghề mại dâm để có tiền chích, hút ma túy. Tệ hại hơn, người nghiện vốn
đã bị suy sụp về tinh thần, về trạng thái tâm lý lại càng suy sụp hơn trong tình trạng
tái nghiện cùng với sự tẩy chay, kỳ thị của người thân, gia đình và cộng đồng. Từ
đó, người tái nghiện càng trở nên mất dần niềm tin, dẫn đến mắc các sai lầm, thậm
chí quẫn trí, bất cần đời.
Bên cạnh đó hậu quả đối với gia đình có người tái nghiện: hậu quả đầu tiên
chúng ta có thể kể đến đó là thiệt hại về kinh tế. Và thiệt hại về kinh tế sẽ nặng nề
hơn so với nghiện lần đầu. Bên cạnh đó các thành viên trong gia đình bị tổn thương
9
về tinh thần do phải chịu sức ép tâm lý nặng nề, không khí gia đình căng thẳng, mất
lòng tin với người nghiện.
Đối với cộng đồng, xã hội: tái nghiện là nghiện nặng hơn và vì vậy, phác đồ
điều trị cai nghiện cũng phức tạp, khó khăn hơn rất nhiều so với cai nghiện lần đầu,
chi phí điều trị cai nghiện tăng. Xã hội phải gánh chịu hàng loạt vấn đề phức tạp
khác như: mất trật tự an ninh xã hội, tội phạm gia tăng, các tệ nạn xã hội khác trở
nên nghiêm trọng hơn, sức lao động xã hội bị giảm sút.
2.1 Các nghiên cứu quốc tế
Nghiên cứu về việc phân biệt và kỳ thị trong đối xử đã diễn ra trong thời gian
dài trên thế giới. Việc nghiên cứu các hành vi này được tiến hành trên nhiều nhóm,
đối tượng khác nhau. Các tác phẩm tập trung về những đối tượng đặc biệt điển hình
như người nhiễm HIV/AIDS hay người nghiện ma túy.
Tại diễn đàn Liên Hợp Quốc, nguyên Tổng thư ký B. Ghali đã đánh giá:
"Tình trạng nghiện hút đã trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Không có một
quốc gia nào, dân tộc nào có thể thoát khỏi vòng xoáy khủng khiếp của nó, ma túy
làm tăng bạo lực, tham nhũng, cạn kiệt nguồn lực, tài lực, hủy diệt những nguồn
tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động để phát triển kinh tế - xã hội,
cho mối quan hệ của người sử dụng nó co cụm lại, bó hẹp với các mối quan hệ ngày
càng thu hẹp. Cách tiếp cận này tập trung vào quá trình phát triển, đặc biệt giai đoạn
tuổi mới lớn của con người và sự lệch lạc kéo theo những rối loạn hành vi. Quá
trình điều trị phân tâm nếu cảm hóa được những xung đột này thì người nghiện sẽ
vượt qua cảm giác lệ thuộc vào ma túy [20].
2.2 Các nghiên cứu tại Việt nam.
Các nghiên cứu cũng như các báo cáo tại Việt Nam cho thấy sự kỳ thị xuất
phát từ nhiều góc cạnh của người nghiện ma túy cũng như những người liên quan
hay chịu hậu quả từ ma túy. Đó có thể là môi trường sống như gia đình, hàng xóm,
bạn bè, đồng nghiệp, công việc… tất cả các yếu tố kỳ thị đó góp phần làm cho con
đường hội nhập của họ trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.
Theo báo cáo năm 2017 của Bộ Công an cho biết: “hiện các chất ma túy mới
xuất hiện ngày càng đa dạng, nhiều loại, kiểu mẫu và các chất kích thích mới đang
ngày càng gia tăng tại Việt Nam. Năm 2015, danh sách các chất và tiền chất ma túy
có số lượng là 292 chất, đến nay sau 3 năm danh mục này đã tăng gần gấp đôi với
số lượng 559 chất và tiền chất. Có những chất và tiền chất ma túy mới xuất hiện
chưa nằm trong danh mục tại Việt Nam. Điều đáng nói, những chất mới ngày càng
có nguy cơ tử vong cao và tác hại của nó là rất lớn” [25].
12
Tại buổi họp báo thông tin về tình hình dịch HIV và tháng hành động quốc
gia phòng chống HIV/AIDS 2017 [24]: Ông Hoàng Đình Cảnh, Phó cục Trưởng
cục phòng chống HIV/AIDS thì việc sử dụng ma túy, sử dụng các chất gây nghiện
làm tổn thương não khiến việc hồi phục khó khăn, điều này dẫn đến việc tái nghiện
đối với những người sử dụng ma túy là khá phổ biến. Khi những tổn thương não
không hồi phục và giảm các chất nội tiết do hậu quả của việc sử dụng na túy dẫn
đến người sử dụng ma túy lệ thuộc vào ma túy. Việc lệ thuộc ấy thôi thúc họ tái
nghiện nếu có điều kiện và nếu bản thân không có bản lĩnh ý thức làm chủ được.
ma túy là đặc biệt nghiêm trọng ở các tỉnh, thành phố trọng điểm… Đánh giá rõ sự
nguy hại này, Quốc hội, Chính phủ, các ngành, các cấp đều quan tâm, chỉ đạo quyết
liệt công tác cai nghiện. Bằng chứng cho thấy việc thực hiện cai nghiện được can
thiệp bởi nhiều mặt, từ lĩnh vực y tế cho đến giải quyết tâm lý cho người nghiện và
các vấn đề xã hội khác.
Trong nghiên cứu của Viện nghiên cứu tâm lý người sử dụng ma túy đã chỉ
ra rằng khi người nghiện sử dụng ma túy lâu dài, những chất có trong ma túy tác
động vào các hệ thống chức năng ở não bộ, tạp thành một hệ thống chức năng mất
khả năng tự điều chỉnh, tự thích nghi và hậu quả là, người nghiện ma túy chỉ hướng
đến hành vi tìm, sử dụng ma túy để “cân bằng”, bù đắp lại “lỗ hổng” bệnh lý trong
hệ thống chức năng.
Cơ chế tự điều chỉnh trở thành bệnh lý dẫn đến việc mất cân bằng, rối loạn
quá trình giảm các chức năng trong cơ thể, có những chức năng bị hạn chế và sự
tăng cường hoạt động của các chức năng khác để bù đắp lại. Ví dụ: Khả năng nhận
thức của người nghiện ma túy sau một thời gian dài sử dụng ma túy sẽ bị giảm sút,
không kiểm soát được lời nói, hành vi…cộng với việc thời gian dài chỉ tiếp xúc với
bạn nghiện, ma túy…những mối quan hệ giao tiếp, xã hội của họ hầu như là không
có, người nghiện ma túy không nắm bắt được diễn tiến xã hội xảy ra xung quanh.
Đây chính là một phần của nguyên nhân tại sao người nghiện ma túy dễ gây mất
lòng hoặc khó để có thể bắt kịp và đáp ứng được nhu cầu của công việc.
Do vậy, suốt thời gian dài chìm vào những làn khói trắng, người nghiện ma
túy bị kìm hãm về kỹ năng, về kiến thức cũng như sự phát triển xã hội. Người
nghiện ma túy sau khi cắt cơn trở về, những ứng xử, hành vi của họ trở nên không
phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. Điều này cũng là một trong những nguyên
nhân dẫn đến sự tự kỳ thị ở người nghiện ma túy. Họ cảm thấy bản thân tụt hậu, yếu
kém, dễ dàng buông bỏ quá trình cai nghiện để trở về với cộng đồng.
14
- Tìm ra các giải pháp nhằm kiến nghị, đề xuất mới cho việc quản lý và hỗ
trợ người sau cai nghiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Thái độ của cộng đồng với người sau cai nghiện ma túy.
4.2. Khách thể nghiên cứu.
- Các cá nhân là người sinh sống và làm việc tại Quận Phú Nhuận, Tp. Hồ
Chí Minh.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1 Về nội dung
- Đề tài tập trung nghiên cứu về thái độ và cách cư xử, các yếu tố ảnh hưởng
đến thái độ và cách cư xử của những người sinh sống trong cộng đồng người sau cai
nghiện ma túy. Khái quát thực trạng và đưa ra vấn đề cần thay đổi hiện nay về sự
nhìn nhận của cộng đồng đối với người sau cai nghiện ma túy.
4.3.2 Về thời gian
- Tác giả bắt đầu lập kế hoạch nghiên cứu và thu thập thông tin, phân tích và
xử lý từ tháng 04/2018 đến tháng 01/2019.
4.3.3 Về không gian
- Vì một số hạn chế nên tác giả chỉ tiến hành khảo sát nghiên cứu trên 200
người dân sinh sống xung quanh người sau cai nghiện và phỏng vấn sâu 10 trường
hợp (3 trường hợp sau cai, 5 người dân và 1 cán bộ quản lý sau cai, 1 tổ trưởng khu
phố có người nghiện sinh sống).
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập tài liệu:
5.1.1. Phương pháp phân tích số liệu sẵn có
Trong đề tài này tác giả sử dụng một số thông tin và số liệu trong các sách
báo, tạp chí chuyên nghành và các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước
trong nước và trên thế giới, đồng thời sử dụng các số liệu thống kê do Tổng cục
GHI CHÚ
MẪU
200
người sau cau nghiện ma túy
Tổng cộng
200
5.1.3. Phương pháp phỏng vấn sâu.
Để thu thập thêm một số thông tin thông qua 10 mẫu phỏng vấn sâu được chọn
thông qua việc khảo sát thực tế tại địa bàn.
STT
1
2
3
4
SỐ LƯỢNG
TIÊU CHÍ
GHI CHÚ
MẪU
Người dân sống xung quanh
người sau cau nghiện ma túy
Người sau cai nghiện ma túy
pháp phân tích định tính nhằm liệt kê, phân loại và nhóm những thông tin thu được
dùng để trích dẫn trong một số trường hợp cần thiết trong báo cáo.
5.3 Chọn mẫu.
Đề tài sử dụng cả hai phương pháp định lượng và định tính để làm rõ mối
liên hệ thái độ của cộng đồng và ảnh hưởng của nó tới người sau cai nghiện đang
sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Với phương pháp định lượng tôi dựa trên số liệu về người sau cai từ các
Phường đang quản lý, chọn Phường 2, Phường 3 và Phường 8 quận Phú Nhuận,
Thành Phố Hồ Chí Minh.
Việc lựa chọn 3 Phường trên vì cả 3 phường này đều có người sau cai nghiện
sinh sống, được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương tạo điều kiện cho việc mượn
hội trường để khảo sát và phỏng vấn sâu.
Với phương pháp định tính tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu theo
loại hình nghề nghiệp và giới tính. Số lượng 10 mẫu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
18
Nghiên cứu này góp phần lý giải một số lý thuyết Xã hội học như: lý thuyết
tương tác biểu trưng, lý thuyết hành động xã hội của Max Weber, lý thuyết gán
nhãn... Đồng thời, nghiên cứu cũng đóng góp thêm sự phong phú và đa dạng cho
lĩnh vực nghiên cứu, làm tư liệu tổng quan cho các đề tài nghiên cứu sau tham khảo.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài nghiên cứu đưa ra được các chỉ số về nhận thức, thái độ của người
dân tại Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh nhận thức như thế nào về người sau
cai nghiện ma túy. Từ đó, giúp cho Các tổ chức/Chính quyền địa phương có được thông
tin để có thể đưa ra những chính sách hoặc điều chỉnh bổ sung để phù hợp cho việc quản
lý và hỗ trợ tốt hơn cho người sau cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng.