Dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG HẢI DƢƠNG

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ
CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

1

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học xã hội
Việt Nam.
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM TIẾN NAM

Phản biện 1: TS. Trần Thị Minh Thi
Phản biện 2: TS. Phạm Trường Giang

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 08 giờ, ngày 14 tháng 5

nhóm không bị khuyết tật.
Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của
Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội
giai đoạn 2010-2020, mô hình các Trung tâm cung cấp dịch vụ
1


CTXH được xây dựng và hình thành tại các tỉnh/thành phố cả nước.
Đây được coi là một trong những giải pháp quan trọng góp phần phát
triển nghề CTXH ở Việt Nam. Sự ra đời của các Trung tâm CTXH
tạo thuận lợi cho những người yếu thế, dễ bị tổn thương tiếp cận
được các dịch vụ xã hội ngay tại Trung tâm và tại cộng đồng nơi họ
sinh sống giúp họ giải quyết được các vấn đề gặp phải, nhằm nâng
cao an sinh xã hội cho người dân. Bằng việc cung cấp các dịch vụ
theo một quy trình chuyên nghiệp, hiệu quả theo đúng những giá trị
và nguyên tắc của nghề CTXH, Cung cấp DVCTXH thông qua
Trung tâm đã góp phần giúp đỡ nhiều nhóm đối tượng xã hội trong
đó có NKTVĐ.
Hiện nay có nhiều nghiên cứu về CTXH đối với NKT, tuy
nhiên nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ tại các Trung
tâm cung cấp DVCTXH còn khá ít. Hơn nữa DVCTXH là một hoạt
động còn khá mới và chưa thực sự đồng bộ về quy trình triển khai.
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá hiện nay có duy nhất Trung tâm cung
cấp DVCTXH thực hiện nhiệm vụ cung cấp DVCTXH theo chức
năng được giao. Vì vậy, nghiên cứu về DVCTXH đối với NKTVĐ
để đánh giá những kết quả đạt được, chưa đạt được và các yếu tố ảnh
hưởng đến thực trạng này là rất cần thiết để đưa ra một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả, tính chuyên nghiệp trong việc thực hiện
nhiệm vụ cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm Cung
cấp DVCTXH Thanh Hoá.

cao hơn nữ do các nguyên nhân của hậu quả chiến tranh, tai nạn lao
động, tai nạn thương tích… Nguyên nhân gây khuyết tật, đời sống
vật chất, tinh thần của NKT còn nhiều khó khăn. Có tới 80% NKT ở
thành thị và 70% NKT ở nông thôn sống dựa vào gia đình. Những
khó khăn này cản trở NKT tiếp cận y tế, giáo dục, học nghề, tìm
kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc
3


sống và hoà nhập cộng đồng. Đồng thời báo cáo cũng nêu rõ các kết
quả thực hiện công tác chăm sóc NKT trên các lĩnh vực như: trợ cấp
hàng tháng đối với NKT, hộ gia đình nuôi dưỡng NKT, NKT có việc
làm, số NKT đượctiếp cận các công trình giao thông công cộng. Từ
đó đề ra những giải pháp công tác thực hiện Pháp lệnh Người tàn tật
được tốt hơn.
- Tác giả Nguyễn Thị Báo (2008), Hoàn thiện pháp luật về
quyền của NKT ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh[2]; đề tài xây dựng hệ thống
thông tin tư liệu quy định về quyền của người khuyết tật trong pháp
luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, trang bị cho người khuyết tật các
quyền cụ thể để tạo cơ hội hòa nhập và phát triển.
* Nhóm công trình nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với NKT
- Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2014) trong bài “Thực trạng
mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam-Những khuyến nghị” cho rằng:
Mạng lưới dịch vụ xã hội là một tập hợp các dịch vụ trong hệ thống
xét theo góc độ tính chất đó là dịch vụ việc làm; đào tạo nghề; tư vấn;
tham vấn, tư vấn tâm lý; sức khỏe; pháp lý; cung cấp thông tin chính
sách; hỗ trợ thu nhập dịch vụ; hỗ trợ các đối tượng yếu thế hòa nhập
xã hội, tái hòa nhập gia đình, cộng đồng và dịch vụ hòa giải, biện hộ
các vấn đề xã hội. Xét từ gốc độ quản lý mạng lưới dịch vụ xã hội

quý giá và vô cùng hữu ích cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài,
những nghiên cứu trên đều ít nhiều đề cập đến vấn đề hỗ trợ, giúp đỡ
cho NKT dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn,
nhưng chưa có công trình nào đề cập nghiên cứu cụ thể đến
DVCTXH cho NKTVĐ dưới góc nhìn của một nghề, một khoa học
về CTXH đối với việc trợ giúp cho NKT. Hơn nữa, các công trình
cũng chưa chỉ ra được vai trò, tầm quan trọng của DVCTXH trong
vấn đề trợ giúp cho NKTVĐ, vì vậy, đề tài mà tôi lựa chọn không
5


trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố. Ngoài việc kế thừa,
chọn lọc từ các thành tựu đã có, đề tài đi sâu vào nghiên cứu các
DVCTXH cho NKTVĐ ở Trung tâm cung cấp DVCTXH Thanh Hóa
dưới góc nhìn của nghề CTXH.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với
NKTVĐ và đánh giá thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến
việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm
Cung cấp dịch vụ công tác xã hội tỉnh Thanh Hoá, từ đó đưa ra một
số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả việc cung cấp DVCTXH cho
NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hoá.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội
đối với người khuyết tật vận động.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến
DVCTXH đối với NKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ
công tác xã hội Thanh Hoá.
- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc

tác dụng gợi mở, định hướng, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên
lý có ý nghĩa phương pháp luận.
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng hệ thống các quan điểm của
Đảng và Nhà nước Việt Nam về NKT; về hệ thống an sinh xã hội;
chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội, gắn phát triển kinh tế
với tiến bộ và công bằng xã hội. Quan điểm phát triển nghề CTXH và
trợ giúp cho những người yếu thế trong xã hội với những giá trị triết
lý nhìn nhận con người và các mối quan hệ qua lại giữa con người
với con người, con người với xã hội thực tại.
7


5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Là phương pháp sử dụng các
kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các
nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu
những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp quan sát:Phương pháp quan sát là phương pháp
thu thập thông tin thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập
các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu
của đề tài. Phương pháp này luôn được sử dụng thường trực và không
thể thiếu trong mọi nghiên cứu khoa học. Nếu quan sát tốt sẽ đem lại
hiệu quả rất cao trong nghiên cứu. Quan sát thực tiễn các yếu tố có
liên quan đến đề tài ở nhiều thời điểm, nhiều khía cạnh để có cái nhìn
chân thực nhất về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:Phương pháp điều tra
bảng hỏi là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc sử dụng
một bảng hỏi soạn sẵn, người điều tra phát bảng hỏi, hướng dẫn cách
trả lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu bảng hỏi.

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và các phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội
đối với người khuyết tật vận động.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người
khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội
Thanh Hóa.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch
vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn
Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa.

9


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
1.1. Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý và nhu cầu của ngƣời
khuyết tật vận động
1.1.1. Khái niệm khuyết tật
Tổ chức Y tế thế giới (WHO)(năm 2001) đã đưa ra định nghĩa
khuyết tật như sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng
khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu
cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình
trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu
tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác)” Như vậy, với khái niệm
này có thể hiểu “khuyết tật” chỉ đơn giản là bị khiếm khuyết mà
không phải xác định nguyên nhân của một dạng khuyết tật.
1.1.2.


tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
* Dịch vụ công tác xã hội: Dịch vụ công tác xã hội là hoạt
động do các cơ sở có chức năng cung cấp dịch vụ CTXH, các nhân
viên CTXH thực hiện nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng
đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường các chức
năng xã hội để giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng đáp ứng tốt
hơn các nhu cầu cơ bản của mỗi người đồng thời góp phần đảm bảo
an sinh xã hội.
* Dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động: là
các hoạt động có chủ đích, được cung cấp, điều phối bởi các
NVCTXH nhằm phòng ngừa, khắc phục rủi ro, đáp ứng được nhu
cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng cho NKTVĐ.
DVCTXH với NKTVĐ nhằm hướng đến mục tiêu đảm bảo các giá trị và
chuẩn mực xã hội cho NKTVĐ.
1.2..2. Mục đích và vai trò của dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ

11


- DVCTXH có mục đích và vai trò rất quan trọng đối với
NKTVĐ vì nó góp phần nâng cao năng lực, sự tự tin và tự chủ cho cá
nhân NKTVĐ và gia đình của họ; giúp NKTVĐ có thể tự tìm cách để
giải quyết các vấn đề mà họ đang gặp phải hoặc các vấn đề có thể
phát sinh trong tương lai.
- Góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng khả năng hòa
nhập xã hội của NKTVĐ vì nó tạo cơ hội để NKTVĐ dễ dàng tiếp cận
với các DVXH cơ bản như giáo dục, y tế, việc làm, thông tin... và tăng
cường các chức năng xã hội của họ.
- Góp phần nâng cao nhận thức không chỉ của NKTVĐ mà còn
của người dân và cộng đồng về nghề công tác xã hội và vai trò của

riêng. Từ những khái niệm về NKT, NKTVĐ, DVCTXH với
NKTVĐ,…Từ đặc điểm tâm lý, nhu cầu của NKTVĐ, mục đích, vai
trò, của DVCTXH đối với NKTVĐ…đã giúp chúng ta hiểu được tầm
quan trọng của DVCTXH trong việc trợ giúp NKTVĐ thực hiện đầy
đủ quyền lợi và nghĩa vụ của họ đối với xã hội và hòa nhập với cộng
đồng xã hội.
Từ những vấn đề mang tính chất lý luận về DVCTXH, nó sẽ là
tiền đề để làm sáng tỏ phần nội dung ở chương 2 khi đề cập đến
DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH
Thanh Hóa.

13


Chƣơng 2
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM
CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HÓA
2.1. Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.2. Tổng quan về khách thể nghiên cứu
- Về giới tính
- Về độ tuổi
- Về trình độ học vấn
- Về nghề nghiệp
- Nguyên nhân khuyết tật
- Mức độ khuyết tật
- Về hoàn cảnh kinh tế
2.2. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của NKTVĐ
2.2.1. Đặc điểm tâm lý của Người khuyết tật vận động

Thông qua việc khảo sát thực trạng các DVCTXH đối với
NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hoá,
tác giả nhận thấy rằng, trong những năm qua,việc cung cấp DVCTXH
đối với NKTVĐ đã thực sự đem lại hiệu quả, nhiều đối tượng NKTVĐ
đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ về nhiều mặt của Nhà nước, chính
quyền các cấp, cộng đồng xã hội và đặc biệt là của cán bộ, nhân viên
Trung tâm. Đó là sự giúp đỡ, cung cấp các nguồn lực, các dịch vụ như:
dịch vụ truyền thông nâng cao nhận thức; chỉnh hình, phục hồi chức
năng; Tư vấn, tham vấn; hỗ trợ học nghề tạo việc làm... điều này đã
mang lại những lợi ích tốt, có những hiệu quả nhất định, góp phần cải
thiện và nâng cao đời sống của NKTVĐ. Tuy nhiên, những dịch vụ
này của Trung tâm còn hạn chế, chưa đồng bộ, và chưa đáp ứng được
nhiều những nhu cầu, nguyện vọng của NKTVĐ trong cộng đồng.
15


Cũng thông qua tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng
DVCTXH đối với NKTVĐ, tác giả nhận thấy rằng có nhiều yếu tố
tác động, ảnh hưởng đến hiệu quả việc cung cấp DVCTXH đối với
NKTVĐ nhưng các yếu tố ảnh hưởng nhiều đó là từ cơ chế chính
sách, từ cơ sở vật chất, từ kỹ năng, trình độ chuyên môn của đội ngũ
NVCTXH, từ đặc điểm của đối tượng NKTVĐ. Các yếu tố này có
thể ảnh hưởng tích cực, giúp cho việc cung cấp DVCTXH trợ giúp
NKTVĐ đạt hiệu quả, nhưng ngược lại, các yếu tố này cũng có ảnh
hưởng không tốt đến hiệu quả của việc cung cấp DVCTXH, không
đáp ứng được nhu cầu toàn diện của NKTVĐ và còn ảnh hưởng đến
uy tín của Trung tâm trong việc cung cấp DVCTXH trong tương lai.

16


3.2. Giải pháp về đội ngũ nhân viên công tác xã hội
Thứ nhất: Chúng ta cần phải tiếp tục đào tạo, nâng cao kiến
thức, kỹ năng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cho NVCTXH để có
thể đáp ứng các yêu cầu đặt ra.
Thứ hai: Cần tổ chức các lớp tập huấn dành cho NVCTXH,
mục đích của việc mở các lớp tập huấn là nhằm giúp cho họ thấy rõ
vai trò và trách nhiệm công việc của mình để từ đó họ có thái độ
đúng đắn hơn với nghề nghiệp. Cũng qua các lớp tập huấn để chỉ ra
vai trò quan trọng của CTXH trong cung cấp DVCTXH đối với
NKTVĐ.
Thứ ba: Bên cạnh việc mở các lớp tập huấn thì cần phải tiếp
tục đào tạo và đào tạo lại cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo như cử
cán bộ ở lĩnh vực chuyên môn khác đi học chuyên ngành CTXH tại
các trường cao đẳng, đại học để họ có trình độ chuyên môn từ cao
đẳng, đại học trở lên.Và như vậy khi đã được đào tạo một cách có bài
bản thì nhân viên CTXH sẽ có kiến thức chuyên môn, có hiểu biết về
những chính sách của Đảng và Nhà nước, có hiểu biết về các
DVCTXH cũng như các nguồn lực trong xã hội cùng với sự am hiểu
về kỹ năng làm việc với NKTVĐ.
Thứ tư: Để có thể nâng cao được năng lực, trình độ, thì chính
bản thân NVCTXH phải luôn trau dồi những phẩm chất đạo đức, cố
gắng tìm hiểu, học hỏi, và trang bị cho mình những kỹ năng, kiến
thức về CTXH để có thể trợ giúp đối tượng một cách tốt nhất và đáp
ứng được các yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
3.3. Giải pháp vể truyền thông nâng cao nhận thức
Một là: Tăng cường các hoạt động truyền thông về vị trí, vai
trò của nghề CTXH nói chung và vai trò, vị trí của các DVCTXH với
NKTVĐ nói riêng. Tiếp tục duy t , tăng cường thời lượng và nâng
18




trí, ý nghĩa cũng như hiệu quả của DVCTXH với đối những người
yếu thế nói chung và NKTVĐ nói riêng.
3.4. Giải pháp về cơ sở vật chất
- Phòng phẫu thuật chỉnh hình: cần được bổ sung thêm trang
thiết bị, máy móc, dụng cụ phẫu thuật để đảm bảo được hiệu quả cao
trong quá tình phẫu thuật chỉnh hìnhcho NKTVĐ. Hiện nay những
thiết bị này do thời gian đưa vào khai thác, sử dụng đã lâu nên xuống
cấp, hiệu quả sử dụng thấp.
- Xưởng sản xuất DCCH: Cần được đầu tư và chuyển giao
những công nghệ sản xuất chân tay giả và dụng cụ hỗ trợ tiên tiến,
hiện đại hơn. Đồng thời tăng cường công tác nghiên cứu sản xuất ra
nhiều loại dụng cụ đa dạng, phong phú hơn để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của NKTVĐ.
- Khu phục hồi chức năng: Trung tâm cần tiếp tục nâng cấp
trang bị và bổ sung thêm một số máy móc thiết bị, dụng cụ luyện tập
phục hồi cả về Vận động trị liêu; Điện trị liệu và thủy trị liệu để đáp
ứng tốt cho việc phục hồi chức năng cho NKTVĐ.
- Phòng tư vấn: Cần bố trí có một không gian tư vấn riêng biệt
cho đối tượng, hiện nay Trung tâm do diện tích chật chội nên bộ phận
tư vấn vẫn đang phải dùng chung phòng. Tổng đài tư vấn hiện vẫn
chưa có cabin cách âm, bàn có vách ngăn riêng biệt cho từng điện
thoại viên. Các thiết bị cần thiết để tác nghiệp như thiết bị ghi âm
cuộc gọi, phần mềm tính cước: Thống kê cước phí máy lẻ, thiết bị
ghi âm,bộ lưu điện khi mất điện...chưa được trang bị. Phần mềm dữ
liệu tổng đài hiện tại chưa được nâng cấp trang bị nhiều tính năng
ngoài chức năng truy cập dữ liệu nhập sẵn.
- Hiện tại Trung tâm chưa có khu nuôi dưỡng cho đối tượng
cần sự bảo vệ khẩn cấp, bếp ăn và phòng ăn khá nhỏ, chật hẹp, chưa

thể, dẫn tới sự giảm sút đáng kể trong việc thực hiện các chức năng
so với người bình thường,khiến họ gặp khó khăn, hạn chế về đi lại,
trong tham gia các hoạt động cộng đồng, học tập, giao tiếp, ngoài ra
họ có những đặc điểm tâm lý khác biệt và gặp nhiều rào cản hơn so
với những nhóm yếu thế khác trong xã hội... Mặc dù vậy, họ cũng có
những thế mạnh, nhu cầu, ước mơ như mọi người bình thường. Do
vậy, NKTVĐ rất cần được tiếp cận và thụ hưởng DVCTXH để
giúp họ phát huy khả năng tự lực, trở nên mạnh mẽ và hòa nhập hơn
với cộng đồng.
Mặc dù trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã
có rất nhiều chính sách hỗ trợ NKTVĐ nhưng vẫn còn những vấn đề
mà NKTVĐ đang gặp phải đó là sự kỳ thị và phân biệt đối xử, số
đông NKTVĐ chưa biết hoặc chưa có điều kiện, khả năng tiếp cận,
hiểu biết về những chính sách ưu đãi dành cho họ, điều đó đã dẫn đến
khả năng hòa nhập và phát triển của NKTVĐ bị hạn chế.
Trong quá trình thực hiện luận văn này và tìm hiểu việc cung
cấp DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công
tác xã hội tỉnh Thanh Hoá, tôi có một số kết luận như sau:
Việc thực hiện chức năng cung cấp DVCTXH của Trung tâm
còn rất mới mẻ do đơn vị mới được thành lập và đi vào hoạt động
nên khi triển khai các hoạt động này còn gặp nhiều khó khăn về kinh
phí, đặc biệt là năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ NVCTXH

22


là người trực tiếp thực hiện cung cấp DVCTXH cho NKTVĐ dẫn
đến dịch vụ cung cấp còn chưa được toàn diện, chưa đáp ứng được
nhu cầu của NKTVĐ và gia đình... Nhìn nhận được các vấn đề trên
cũng như hiểu được tầm quan trọng của việc cung cấp DVCTXH đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status