ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: XÃ HỘI HỌC
----------------------------------
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE
ĐỀ TÀI: ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC NẠO HÚT THAI
TỐT
NGHIỆP
HỌC
TỚI SỨC KHÓA
KHỎELUẬN
SINH
SẢN
CỦA ĐẠI
TUỔI
VỊ THÀNH
NIÊN Ở THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Hà Nội – 2017
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................ 4
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ......................................................................... 5
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 6
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................................... 6
1.2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................. 24
1.2.1. Thực trạng nạo phá thai trên thế giới ............................................................................. 24
1.2.2. Tình hình nạo phá thai ở Việt Nam ................................................................................ 25
1.2.3. Tình hình nạo phá thai tại Nghệ An ............................................................................... 25
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI
HÀNH VI NẠO PHÁ THAI CỦA VỊ THÀNH NIÊN Ở THÀNH PHỐ
VINH - NGHỆ AN ........................................................................................ 27
2.1. Thực trạng nạo phá thai của vị thành niên ở thành phố Vinh - Nghệ An ............. 27
2.2. Ảnh hƣởng của việc nạo phá thai tới vị thành niên ............................................. 31
2.2.1. Ảnh hưởng của việc nạo phá thai tới sức khỏe sinh sản của vị thành niên .................... 31
2.2.2. Ảnh hưởng của việc nạo phá thai tới tâm lý của vị thành niên ...................................... 33
2.2.3. Ảnh hưởng của việc nạo phá thai tới việc học tập của vị thành niên ............................. 35
2.3. Những yếu tố tác động tới hành vi nạo phá thai của vị thành niên ...................... 35
2.3.1. Sự tác động của yếu tố gia đình tới khả năng xuất hiện hành vi nạo phá thai của vị thành
niên ........................................................................................................................................... 35
2.3.2. Sự tác động của yếu tố nhóm bạn tới khả năng xuất hiện hành vi nạo phá thai của vị
thành niên ................................................................................................................................. 39
2.3.3. Sự tác động của yếu tố nhà trường, đoàn thể tới khả năng xuất hiện hành vi nạo phá thai
của vị thành niên ...................................................................................................................... 40
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 43
1. Kết luận ............................................................................................................... 43
2. Khuyến nghị ........................................................................................................ 44
BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU ................................................................... 46
1. Biên bản PVS số 1 ................................................................................................ 46
2. Biên bản PVS số 2 ................................................................................................ 47
Tên bảng
1
Bảng 2.1.1: Tỷ lệ nạo phá thai phân theo nghề nghiệp
2
3
Trang
Bảng 2.1.2. Tỷ lệ nạo phá thai phân theo địa chỉ của
ngƣời nạo phá thai
Bảng 2.2.1.1: Tỷ lệ nạo phá thai phân theo tuổi thai
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
STT
1
Biểu đồ 2.1.1: Tỷ lệ nạo phá thai phân theo độ tuổi
2
Biểu đồ
3
đối tượng là những học sinh, sinh viên, vì vậy, đã để lại nhiều hậu quả đáng
buồn cho chính những đối tượng đó trong tương lai.
Theo thống kê của Trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh Nghệ An, năm
2012, toàn tỉnh có 537 trẻ vị thành niên mang thai, trong đó số trẻ vị thành
6
niên nạo phá thai tương đối lớn. Bên cạnh đó, các em quan hệ tình dục khi
chưa có những hiểu biết đầy đủ về bản thân, về sức khỏe sinh sản và các biện
pháp phòng tránh thai. Qua một khảo sát về kiến thức, thái độ và nhu cầu
chăm sóc sức khỏe sinh sản trên 300 học sinh THCS và THPT trên địa bàn
thành phố Vinh năm 2011 của hai tác giả Hoàng Thị Thu và Nguyễn Tuấn
Anh (bác sỹ Trung tâm chăm sóc SKSS Nghệ An) cho thấy sự hiểu biết về
các biện pháp tránh thai của các em còn quá thấp, các em chưa nhận thức
được tác hại của nạo phá thai, có 40% học sinh cho rằng nạo phá thai không
ảnh hưởng đến sức khỏe. [Võ Huyền, 2013] Năm 2016, số lượng phá thai tại
trung tâm CSSKSS tỉnh đóng trên địa bàn thành phố Vinh là 3549 ca, trong
đó số lượng học sinh sinh viên nạo phá thai là 432 ca chiếm 12,2%, cao hơn
nhiều so với nghiên cứu đã thực hiện vào năm 2004 (3,5%). [Trung tâm chăm
sóc SKSS tỉnh Nghệ An, 2016: 23]. Điều này dẫn đến hậu quả đáng tiếc ảnh
hưởng đến chính tương lai của các em.
Để đưa lên tiếng chuông cảnh tỉnh thực trạng nạo phá thai của giới trẻ
ngày nay, để các bạn hiểu hơn về vấn đề này, sự nguy hiểm cũng như tầm
quan trọng của sưc khỏe sinh sản. Chính vì vậy em chọn đề tài: “Ảnh hưởng
của việc nạo hút thai tới sức khỏe sinh sản của tuổi vị thành niên ở thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An”. Nghiên cứu vấn đề em xin đưa ra thực trạng của
vấn đề và những ảnh hưởng của việc nạo phá thai tới sức khỏe sinh sản, từ đó
tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp khắc phục thực trạng trên.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ở Việt Nam, nghiên cứu về sức khỏe sinh sản nói chung và nghiên cứu
tư vấn sức khỏe sinh sản còn rất khiêm tốn.
Công trình 2: Nguyễn Văn Nghị (2012), Nghiên cứu quan niệm, kiến
thức, hành vi tình dục và sức khoẻ sinh sản ở vị thành niên huyện Chí
Linh, tỉnh Hải Dương 2006 – 2009, LATS Y học, Trường Đại học Y tế Công
cộng. Công trình nghiên cứu này đã mô tả quan niệm, nhận thức về tình dục,
8
sức khỏe sinh sản ở vị thành niên và sự thay đổi quan niệm tình dục ở vị
thành niên và cha mẹ; trình bày những kiến thức, thái độ về tình dục, sức
khỏe sinh sản, thực trạng quan hệ tình dục, sử dụng biện pháp tránh thai, nạo
phá thai, bệnh STIs ở vị thành niên huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Một số
kết quả nghiên cứu nổi bật của luận án là:
Thứ nhất, vị thành niên 10 – 19 tuổi có quan niệm cởi mở về tình dục,
SKSS (QHTD, sử dụng biện pháp tránh thai, nạo phá thai, bệnh STIs) và sự
thay đổi so với thế hệ bố mẹ họ.
Thứ hai, nghiên cứu cho thấy kiến thức về tình dục, SKSS ở vị thành
niên 10 – 19 tuổi rất hạn chế, QHTD ở vị thành niên tăng lên theo thời gian.
Thứ ba, nghiên cứu cũng xác định các yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ
đối với QHTD ở vị thành niên là bằng chứng thuyết phục cho hoạch định các
chính sách, các chương trình hiệu quả nhằm cải thiện SKSS ở vị thành niên.
Công trình 3: Trần Thị Hồng (2013), Hành vi nguy cơ về sức khoẻ
của thanh thiếu niên Việt Nam: thực trạng và các yếu tố tác động, LATS
Xã hội học, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Trong
luận án này, tác giả Trần Thị Hồng đã chỉ ra thực trạng, xu hướng biến đổi
cùng những yếu tố tác động đến hành vi QHTD không an toàn của thanh thiếu
niên Việt Nam. Đối với hành vi QHTD không an toàn của vị thành niên,
nghiên cứu đưa ra một số kết luận đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, nơi diễn ra QHTD và mối quan hệ của thanh thiếu niên với
người có QHTD có ảnh hưởng mạnh đến khả năng sử dụng biện pháp phòng
hành khám SKSS tiền hôn nhân cần được tăng cường kiến thức.
10
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của gia đình trong
việc giáo dục SKSS với vị thành niên và đưa ra một số biện pháp bồi dưỡng
năng lực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên đối với các bậc cha mẹ:
Công trình 5: Nghiêm Sĩ Liêm (2001), Vai trò của gia đình trong việc
giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay, LATS Triết học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu của đề tài được thể hiện ở các
khía cạnh:
Thứ nhất, việc giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ chưa được các gia đình
quan tâm đúng mức. Thực trạng trẻ em nạo phá thai và sinh con dưới 18 tuổi
còn rất cao; tình trạng lạm dụng tình dục ở trẻ em đang là điều lo lắng của
toàn xã hội, nhiều bậc cha mẹ buông lỏng quản lý, chưa có sự phối kết hợp
với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục con trẻ,...
Thứ hai, sự chậm trễ hay né tránh vấn đề giáo dục giới tính, tình dục
trong các gia đình sẽ làm cho sự phát triển nhân cách, trí tuệ, sức khỏe của thế
hệ trẻ gặp nhiều trở ngại và khó khăn, cần sớm được khắc phục.
Công trình 6: Nguyễn Thế Hùng (2005), Biện pháp bồi dưỡng năng
lực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên đối với các bậc cha mẹ, LATS
Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp
thiết thực như: Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội
trong việc giáo dục SKSS cho vị thành niên, đặc biệt coi trọng ưu thế của giáo
dục gia đình; nâng cao trình độ dân trí và năng lực giáo dục cho các bậc cha
mẹ; cải tiến nội dung, phương pháp giáo dục SKSS đối với trẻ vị thành niên,
đồng thời đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về gia đình và giáo dục gia
đình.
Công trình 7: Nguyễn Tân Thắng (2007), Các biện pháp giáo dục sức
Thứ nhất, nghiên cứu nhằm làm rõ một số khái niệm sau đây: Sức khỏe
sinh sản, Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Vị thành niên.
12
Thứ hai, nghiên cứu góp phần bổ sung nhận thức cho nghiên cứu Xã
hội học về tình yêu – hôn nhân, văn hóa – lối sống của thanh thiếu niên trong
bối cảnh biến đổi kinh tế – văn hóa – xã hội ở Việt Nam đang diễn ra mạnh
mẽ.
Ngoài ra, việc vận dụng các quan điểm lý luận trong nghiên cứu cũng
góp phần tìm hiểu khả năng áp dụng các quan điểm lý luận (lý thuyết) Xã hội
học có nguồn gốc phương Tây vào thực tiễn Việt Nam. Qua đó có những
đóng góp tri thức vào việc hoàn thiện khái niệm, quan điểm lý luận nghiên
cứu xã hội học ở nước ta và trên thế giới.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc nạo phá thai tới vị thành niên có ý
nghĩa thực tiễn nhất định.
Trước hết, việc thực hiện đề tài giúp sinh viên thực tập nâng cao tay
nghề xã hội học, bổ sung các kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp và hoàn thành
chương trình học của bản thân.
Bên cạnh đó, nghiên cứu này sẽ cung cấp một cơ sở dữ liệu thực
nghiệm mới, qua đó bổ sung nhận thức chung về thanh niên và vị thành niên
Việt Nam. Hơn nữa, kết quả, dự báo và đề xuất của nghiên cứu mang lại giá
trị tham khảo hữu ích đối với giới quản lý xã hội, giáo dục và lập pháp ở nước
ta hiện nay.
4. Đối tƣợng, Khách thể, Câu hỏi, Mục tiêu, Phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của việc nạo hút thai tới sức khỏe
sinh sản của tuổi vị thành niên.
Thứ ba, xác định sự tác động của các yếu tố gia đình, nhóm bạn, nhà
trường, đoàn thể,... đến khả năng xuất hiện hành vi nạo phá thai của vị thành
niên.
Thứ tư, khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
hoạt động xây dựng nội dung và phương pháp giáo dục giới tính – chăm sóc
sức khỏe sinh sản cho vị thành niên trong gia đình và nhà trường.
4.4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của việc nạo hút thai
tới sức khỏe sinh sản của tuổi vị thành niên. Cụ thể phạm vi nghiên cứu được
giới hạn trên các khía cạnh sau:
Thực trạng nạo phá thai của vị thành niên ở thành phố Vinh - Nghệ An.
Ảnh hưởng của việc nạo phá thai tới vị thành niên.
Sự tác động của các yếu tố gia đình, nhóm bạn, nhà trường, đoàn thể,...
đến khả năng xuất hiện hành vi nạo phá thai của vị thành niên.
Phạm vi không gian: Thành phố Vinh, Nghệ An
Phạm vi thời gian: Từ tháng đến tháng năm 2017
5. Phƣơng pháp thu thập, xử lý và phân tích thông tin
Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp nghiên cứu xã hội học là:
Phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc nhằm
đem đến cho nhà nghiên cứu những thông tin đáng tin cậy, những bằng chứng
thực nghiệm đảm bảo chất lượng, từ đó phục vụ cho việc phân tích vấn đề
nghiên cứu.
5.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp bao gồm
các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết trên các tạp chí chuyên
ngành Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục học; các số liệu thống kê có sẵn từ
15
Nội dung phỏng vấn:
1. Với đối tượng phụ huynh có con trong độ tuổi vị thành niên đã nạo
phá thai/ đang có ý định nạo phá thai: Nhận thức của các bậc phụ huynh về
tầm quan trọng của giáo dục SKSS cho vị thành niên trong gia đình; Các biện
pháp giáo dục SKSS cho vị thành niên trong gia đình.
2. Với đối tượng người trong độ tuổi vị thành niên đã nạo phá thai/
đang có ý định nạo phá thai: Nhận thức, thái độ của các em về vấn đề chăm
sóc sức khỏe sinh sản nói chung và hành vi nạo phá thai nói riêng.
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
6.1. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Hành vi nạo phá thai của vị thành niên ở thành phố Vinh
- Nghệ An có xu hướng ngày càng gia tăng.
Giả thuyết 2: Việc nạo phá thai có ảnh hưởng tiêu cực tới vị thành niên
ở các khía cạnh: 1. Sức khỏe sinh sản, 2. Tâm lý, 3. Học tập
Giả thuyết 3: Môi trường gia đình tốt sẽ làm giảm khả năng xuất hiện
hành vi nạo phá thai của vị thành niên. Bên cạnh đó, việc tham gia vào các
khóa học ngoại khóa chính khóa ở trường về SKSS; tham gia vào các tổ chức
đoàn thể ở địa phương làm tăng khả năng sử dụng biện pháp tránh thai trong
QHTD của vị thành niên dẫn đến làm giảm hành vi nạo phá thai. Yếu tố nhóm
bạn có ảnh hưởng lớn tới đối tượng vị thành niên: Nếu có bạn thân thực hiện
hành vi nạo phá thai thì khả năng xuất hiện hành vi nạo phá thai ở đối tượng
đó sẽ cao hơn.
17
6.2. Khung lý thuyết
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĂN HÓA – XÃ HỘI
1. Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về ảnh hưởng của việc nạo
hút thai tới sức khỏe sinh sản của tuổi vị thành niên
2. Chương 2: Thực trạng và những yếu tố tác động tới hành vi nạo phá
thai của vị thành niên ở thành phố Vinh - Nghệ An
18
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ẢNH
HƢỞNG CỦA VIỆC NẠO HÚT THAI TỚI SỨC KHỎE SINH SẢN
CỦA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Lý thuyết vận dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết biến đổi xã hội để phân tích xu hướng
nạo phá thai của vị thành niên ở thành phố Vinh – Nghệ An.
Lý thuyết biến đổi xã hội cho rằng: Mọi xã hội - cũng giống như tự
nhiên - không ngừng biến đổi. Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định của bề
ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó. Do đó bất
cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền
đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi, và sự biến đổi đó trong xã hội hiện đại
ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này làm cho ta thấy sự biến đổi đó
không còn là điều mới mẻ, nó đã trở nên dường như chuyện thường ngày.
Có nhiều cách quan niệm về sự biến đổi xã hội. Một cách hiểu rộng
nhất, cho đó là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một
nếp sống có trước. Trong một phạm vi hẹp hơn, người ta cho rằng sự biến đổi
xã hội được đề cập đến sự biến đổi về cấu trúc của xã hội (hay tổ chức xã hội
của xã hội đó) mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành
viên của một xã hội. “Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn
mẫu của các hành vi, các quan hệ, các thiết xã hội và các hệ thống phân tầng
được thay đổi qua thời gian.” (Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng, 2001: 280).
1.1.2. Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.2.1. Sức khỏe
Theo Tổ chức Y tế Thế giới: “Sức khỏe là trạng thái thỏa mãn toàn
diện vè thể chất tinh thần và xã hội chứ không bao gồm tình trạng không có
bệnh hay thương tật.” [Trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh Nghệ An, 2016: 6]
20
1.1.2.2. Sức khỏe sinh sản
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “Sức khỏe sinh sản (SKSS) là một
trạng thái khỏe mạnh, hài hòa về thể chất tinh thần và xã hội trong tất cả mọi
khía cạnh liên quan đến hệ thông sinh sản chứ không phải chỉ không có bệnh
tật hay tổn thương hệ thống sinh sản.” [Trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh Nghệ
An, 2016: 6]
1.1.2.3. Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch
vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải
quyết các vấn đề về sức khỏe. Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục
đích đề cao chăm sóc và các mối quan hệ riêng tư chứ không chỉ là việc tư
vấn chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bênh lây qua đường tình dục.
[Trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh Nghệ An, 2016: 8]
1.1.2.4. Vị thành niên
Vị thành niên là một khái niệm chưa thống nhất. Theo tổ chức Y tế thế
giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên. Chương trình sức
khỏe sinh sản/ Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối Liên
minh Châu Âu (EU) và quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 24.
Ở Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 - 18. Thanh niên là từ 16 24 tuổi. Trẻ em được pháp luật bảo vệ chăm sóc giáo dục là được 16 tuổi. Về
mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi.
Hội KHHGĐVN xác định vị thành niên - thanh niên là 10 -24 tuổi.
Vị thành niên là giai đoạn phát triển từ một trẻ thơ để trở thành người
lớn, giai đoạn này có nhiều biến đổi về mặt tâm sinh lý, kích thước cơ thể
thay đổi và mang những dấu hiệu đặc trưng của từng giới và xuất hiện những
dấu hiệu của tuổi dậy thì:
22
Vóc dáng cơ thể: Từ một em gái nhở, cơ thể các bận bắt đầu có vóc
dáng thiếu nữ, sớm có thể từ 9 tuổi muộn có thể từ 14 tuổi. Có bạn lớn
từ từ có bạn lớn rất nhanh. Cơ thể mềm mại và giàu nữ tính.
Kinh nguyệt: Sự xuất hiện của kinh nguyệt là dấu hiệu quan trọng nhất
của tuổi dậy thì, thể hiện sự bắt đầu hoạt động của hệ sinh dục. Kinh
nguyệt có thể xuất hiện sớm từ năm 12 - 13 tuổi, cũng có thể muộn hơn
vào năm 16 - 17 tuổi. Một chu kỳ kinh nguyệt thường kéo dài 28 ngày,
tính từ ngày bắt đầu hành kinh cho tới ngày bắt đầu hành kinh lần sau.
Thời gian đầu có thể kinh nguyệt chưa đều, điều đó các bạn gái không
nên quá lo lắng.
Khi bắt đầu co kinh nguyệt là bắt đầu các bạn co khả năng có thai. Ở
tuổi dậy thì vì cơ thể chưa phát triển hoàn chỉnh, việc có thai có thể tác động
không tốt đến sức khỏe của bạn, có những thông tin sẽ giúp cho các bạn có
những quyết định đúng đắn. [Trương Thị Khánh Hà, 2013: 123]
1.1.3.2. Đặc điểm tâm lý tuổi vị thành niên
Cùng với những biến đổi về cơ thể, sinh lý, đời sống tâm lý của trẻ vị
thành niên cũng có những thay đổi sâu sắc. Các em dần tự chủ về tâm lý, tình
cảm có cảm xúc về giới tính, đồng thời suy nghĩ về vai trò tương lai của các
em trong xã hội. Quá trình diễn ra dần dần đem đến nhiều cảm xúc cho các
em nhưng đôi khi không ổn định. Sau đây là một số đặc điểm tâm sinh lý trội
ở lứa tuổi này.
Ý thức tự trọng, tính độc lập trong suy nghĩ và hành động: Ở tuổi này
tổ chức quốc tế bởi chính những tai biến của nó đối với sức khỏe và tính
mạng của phụ nữ.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (IOC) và Viện Guttmacher,
mỗi năm cứ 4 phụ nữ mang thai thì có 1 người nạo phá thai trước khi kết thúc
thai kỳ, con số này là 1/3 tại các quốc gia Mỹ Latinh. Trong một báo cáo khác
của tạp chí y khoa Lancet cho biết, có 56 triệu ca phá thai diễn ra hằng năm,
24
đã tăng từ 50 triệu/năm từ 1990 đến 1994 đến 56 triệu/năm giai đoạn 20102014 - cao hơn rất nhiều so với những gì chúng ta nghĩ. [Diễm My, 2016] Phá
thai không ân toàn chủ yếu xảy ra ở các nước kém phát triển và đang phát
phát triển, là nguyên nhân của các tai biến trong phá thai đồng thời là nguyên
nhân của tử vong mẹ do phá thai, trung bình khoảng 12% trên thế giới và ở
Việt Nam khoảng 5%. Phá thai đặc biệt là phá thai không an toàn gây nên
nhiều hậu quả nghiêm trọng như mất máu nhiều, nhiễm trùng đường sinh sản
gây vô sinh sau này cho người phụ nữ, trong đó có hàng trăm ngàn phụ nữ
chết do nguyên nhân phá thai.
1.2.2. Tình hình nạo phá thai ở Việt Nam
Trẻ vị thành niên (từ 10-24 tuổi) ở nước ta có khoảng 23,8 triệu người
chiếm 31% dân số. Mỗi năm nước ta có khoảng 1,2 đến 1,6 triệu ca phá thai,
trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên. [Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ
Y tế, 2015] Điều tra quốc gia về vị thanh niên và thanh niên Việt Nam lần thứ
hai cho thấy 7,6% độ tuổi này có quan hệ tình dục trước hôn nhân. [Tổng cục
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) và Tổng cục Thống kê, 2010] Việc
nạo phá thai ở tuổi vị thanh niên xuất hiện ở hầu hết các tỉnh thành trong cả
nước chứ không riêng địa phương nào, và tỷ lệ thanh niên chưa xây dựng gia
đình phá thai có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây và gây ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nhiều phụ nữ.
1.2.3. Tình hình nạo phá thai tại Nghệ An
Theo thống kê của Trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh Nghệ An, năm