Mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên của hội phụ nữ cơ sở ( nghiên cứu trường hợp tại xã hòa hậu, lý nhân, hà nam) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********************

TRẦN THỊ PHƢƠNG THẢO

MÔ HÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO
TRẺ VỊ THÀNH NIÊN CỦA HỘI PHỤ NỮ CƠ SỞ
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI XÃ HÕA HẬU- LÝ NHÂN- HÀ NAM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********************

TRẦN THỊ PHƢƠNG THẢO

MÔ HÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO
TRẺ VỊ THÀNH NIÊN CỦA HỘI PHỤ NỮ CƠ SỞ
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI XÃ HÕA HẬU- LÝ NHÂN- HÀ NAM)

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS.TRỊNH VĂN TÙNG

5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu .......................................................13
6. Câu hỏi nghiên cứu ...............................................................................................14
7. Giả thuyết nghiên cứu ...........................................................................................14
8. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................14
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...................................................................17
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .... 17
1.1. Các khái niệm công cụ .....................................................................................17
1.1.1. Mô hình ...........................................................................................................17
1.1.2. Sức khỏe sinh sản ............................................................................................18
1.1.3. Trẻ Vị thành niên .............................................................................................19
1.1.4. Giáo dục sức khỏe sinh sản Vị thành niên ......................................................20
1.1.5. Nhân viên Công tác Xã hội .............................................................................22
1.1.6. “Vai trò của nhân viên Công tác Xã hội” trong mô hình giáo dục Sức khỏe
Sinh sản cho trẻ Vị thành niên ..................................................................................24
1.1.7. Hội phụ nữ cơ sở .............................................................................................25
1.1.8. Nguồn lực ........................................................................................................27
1.2. Lý thuyết ứng dụng ..........................................................................................28
1.2.1. Lý thuyết nhu cầu Maslow...............................................................................28
1.2.2. Lý thuyết xã hội hóa ........................................................................................30
1.2.3. Lý thuyết vai trò ..............................................................................................33
1.3. Khái lƣợc về địa bàn nghiên cứu ....................................................................36
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH GIÁO DỤC
SỨC KHỎE SINH SẢN CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN CỦA HỘI PHỤ NỮ XÃ
HÕA HẬU - LÝ NHÂN - HÀ NAM .....................................................................40


2.1. Khái quát về mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên của
hội phụ nữ xã Hòa Hậu ...........................................................................................40
2.2. Thực tế hoạt động của mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành
niên của hội phụ nữ tại xã Hòa Hậu ......................................................................43


DSKHHGĐ

Dân số kế hoạch hóa gia đình

GDDS

Giáo dục dân số

GDGT

Giáo dục giới tính

GDSKSS

Giáo dục sức khỏe sinh sản

GDSKSSVTN

Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên

SKSS

Sức khỏe sinh sản

THCS

Trung học cơ sở

VTN

hình giáo dục sức khỏe sinh sản ................................................................................59
Biểu đồ 2.9: Cơ cấu giới tính tham gia mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên ............................................................................................................................61
Biểu đồ: 2.10: Sự tham gia của vị thành niên trong các buổi chia sẻ sức khỏe sinh
sản..............................................................................................................................62
Biểu đồ 2.11: Hành vi áp dụng kiến thức, kĩ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản .....63
Biểu đồ 2.12: Hành vi của trẻ vị thành niên khi gặp vấn đề về sức khỏe sinh sản ...65
Biểu đồ 2.13: Hành vi chia sẻ về mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
...................................................................................................................................66
Biểu đồ: 2.14: Khó khăn khi triển khai mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên ............................................................................................................................68


Biểu đồ 3.1: Đánh giá của vị thành niên không tham gia về tầm quan trọng của giáo
dục sức khỏe sinh sản. ...............................................................................................74
Biểu đồ 3.2: Mức độ sẵn sàng tham gia mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên ............................................................................................................................74
Biểu đồ 3.3: Đánh giá hiểu biết của vị thành niên không tham gia về nội dung sức
khỏe sinh sản .............................................................................................................79


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây đất nước ta có nhiều thay đổi to lớn về nhiều mặt
của đời sống kinh tế- xã hội, việc ứng dụng khoa học mới vào quá trình sản xuất đã
mang lại cho đất nước ta nguồn thu nhập ổn định, đời sống của người dân không
ngừng được nâng cao. Song bên cạnh sự phát triển về kinh tế cũng tác động không
nhỏ tới môi trường sống, hoạt động học tập của trẻ trong lứa tuổi vị thành niên. Sự
thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản đã làm cho nhiều trẻ lúng túng, lo sợ trong quá
trình phát triển của bản thân, dễ bị lạm dụng tình dục. Do không có kiến thức về

bỏ”(Báo Tiền Phong, Giới trẻ Việt cởi mở với tình dục trước hôn nhân, ngày 13
tháng 09 năm 2013).
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra các chiến lược quốc gia
về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt ngày 28/11/2000 với hai mục tiêu cụ thể của chiến lược hướng vào
VTN&TN: “Cải thiện tình hình sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của vị thành
niên, thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản phù hợp với lứa tuổi” và “Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới
về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây
dựng quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau
nhằm nâng cao SKSS và chất lượng cuộc sống”(Trung tâm truyền thông giáo dục
sức khỏe Trung ương, Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn
2001 – 2010 ,ngày 17 tháng 11 năm 2011)
Tại Hà Nam- địa bàn người nghiên cứu chọn, theo thống kê của trung tâm
chăm sóc SKSS qua bài viết : “Sức khỏe sinh sản vị thành niên: Những vấn đề cấp
bách đặt ra” – cổng thông tin điên tử Hà Nam trong vòng 6 tháng đầu năm toàn
tỉnh có 157 trường hợp mang thai ở tuổi VTN trong đó số ca nạo phá thai chỉ có 7
trường hợp nhưng đó chỉ dựa trên số liệu còn thực tế còn nhiều trường hợp nạo phá
thai ở các trung tâm tư nhân mà không thể kiểm soát được.
Mặc dù có nhiều cuộc điều tra về tình hình sức khỏe sinh sản trong độ tuổi vị
thành niên trên nhiều địa bàn khác nhau nhưng trên thực tế hiện nay chưa có một
cuộc điều tra cụ thể nào tại địa bàn xã Hòa Hậu- Lý Nhân- Hà Nam về vấn đề này.
Xã Hòa Hậu là một xã nằm phía nam huyện Lý Nhân, vừa là xã cuối huyện và cuối
tỉnh Hà Nam, cách thành phố Nam Định 7km về phía Bắc, cách thành phố Phủ Lý
38 km về phía Đông, cách thị trấn Vĩnh Trụ trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của

2


huyện 21 km về phía Nam trong một vài năm trở lại đây địa bàn xã có nhiều thay


3


Nghiên cứu này không kỳ vọng vào kết quả khảo sát trên diện rộng mà
hướng tới tìm hiểu thực tế hoạt động giáo dục kiến thức SKSS của một chi hội phụ
nữ khu vực nông thôn. Từ đó đánh giá được hoạt động của mô hình, cũng như vai
trò của một tổ chức hội trong GD SKSS cho trẻ VTN. Đồng thời với tư cách là một
nhân viên CTXH, người nghiên cứu mong muốn đưa ra những hoạt động tìm hiểu
nhu cầu hoàn thiện mô hình và đưa ra một số can thiệp cụ thể nhằm mục đích hỗ trợ
hội phụ nữ củng cố, hoàn thiện mô hình, để mô hình mang tính ứng dụng cao trong
thực tế GDSKSS cho trẻ VTN trên địa bàn xã.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
 Vài nét về tình hình nghiên cứu SKSS vị thành niên trên thế giới. [2]
Ở trên thế giới, nghiên cứu về SKSS vị thành niên xuất hiện rất sớm nhưng
được gọi với những cái tên khác nhau chẳng hạn sức khỏe vị thành niên hay giới
tính tình dục thanh thiếu niên. Từ sau hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển ICPD
tại Cairo 4/1994 sau khi định nghĩa chính thức về SKSS được thống nhất đến mọi
Quốc gia trên thế giới và là mối quan tâm của toàn xã hội. Vấn đề SKSS được đẩy
lên một tầm quan trọng mới.
Tại Châu Phi:Giáo dục SKSS ở châu lục này tập trung chủ yếu vào đẩy lùi
dịch HIV/AIDS và cố gắng thiết lập các chương trình về AIDS phối hợp với tổ chức
Y Tế Thế Giới (WHO) và các tổ chức phi chính phủ (NGO). Những chương trình
này dạy cho họ và con em của họ các cách ABC, với A- phòng chống AIDS, Bchung thủy và C- dùng bao cao su. Ở Ai Cập, trẻ từ 12 – 14 tuổi được giáo viên
giảng dạy những kiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ,
cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai, các bệnh truyền nhiễm
qua đường tình dục.
Tại các Quốc Gia Châu Á: Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc là những nước
đã thực hiện những khung chính sách hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các
trường học. Tại Malaysia, Philippines và Thái Lan đánh giá các nhu cầu sức khoẻ

quan tâm ở khía cạnh đạo đức theo qua thơ văn bằng cách diễn tả tình yêu đôi lứa,
nhiều vấn đề bức xúc, không dám trực tiếp nghiên cứu, tất cả mọi người đều né
tránh không đề cập tới vấn đề này, dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra trong đời
sống của nhân dân Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện
KHHGĐ, GDDS cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, Đảng và Nhà nước coi GDDS là
công tác thuộc chiến lược con người, đặc biệt chú trọng tới việc bảo vệ, chăm sóc
sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ.

5


Việt Nam sau năm 1954, cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều nghành
khoa học, xã hội học cũng từng bước hình thành, phát triển với nhiều nghiên cứu
chuyên biệt. Song do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt nên các nghiên cứu này còn rất
nhiều hạn chế, phải sau ngày đất nước thống nhất (1975) giới khoa học nước ta mới
có điều kiện đi sâu nghiên cứu- một trong những nội dung rất được sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu đó là vấn đề SKSS- GDGT cho trẻ VTNTN. Trải qua nhiều
năm, sức khỏe sinh sản đã có những sự quan tâm nhất định với những chuyên khảo
và nhiều công trình nghiên cứu khác nhau:
Đáng chú ý trong số này là: Cuốn sách “Giáo dục giới tính vì sự phát triển
của vị thành niên”(2002) của bác sĩ Đào Xuân Dũng, đã cho thấy sự cần thiết phải
GDGT cho trẻ ở độ tuổi vị thành niên. Cuốn sách “Sức khoẻ vị thành niên” (2005)
do Trung tâm Bảo vệ bà mẹ trẻ em kế hoạch hoá gia đình hợp tác với Thụy Điển
biên soạn đã đem lại những thông tin quý giá giúp định hướng hành động GDGT và
chăm sóc SKSS vị thành niên. Cuốn sách “Một số nghiên cứu SKSS ở Việt Nam sau
Cairo” – Hoàng Bá Thịnh, Trung tâm nghiên cứu Giới; gia đình và môi trường
trong phát triển (CGFED), , NXB Chính trị Quốc gia.
Ngoài những cuốn sách nói về GDGT phải kể đến các công trình trên các
lĩnh vực nghiên cứu như: giáo dục, tâm lý, xã hội học, công tác xã hội:
Lĩnh vực giáo dục:Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội

của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ
huynh (Phạm Thị Minh Đức “chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên sức khỏe và
phát triển”, do tổ chức WHO và ISO tổ chức tại Việt Nam. Trang 7-34). Dự án
VIE/97/P13 của Bộ giáo dục - đào tạo đã sản xuất tài liệu: Phương pháp giảng dạy
các chủ đề nhạy cảm về “SKSS”(2000) và bộ tài liệu tự học dành cho giáo viên
“GDSKSSVTN”(2001).
Dân số kế hoạch hóa gia đình:Tình hình thực hiện chiến lược dân số Việt
Nam và chiến lược Quốc gia về sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001- 2010 nêu rõ:
“Tạo sự chuyển đổi hành vi bền vững về dân số, SKSS, KHHGĐ trên cơ sở cung
cấp đầy đủ, chính xác thông tin với nội dung và hình thức phù hợp với từng vùng,
từng khu vực và từng nhóm đối tượng. Chú trọng hình thức tư vấn, đối thoại, vận
động trực tiếp các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nam giới, thanh niên và
những người chưa thành niên”.Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam
giai đoạn 2011-2020.. Năm 2004, Ủy ban dân số gia đình và trẻ em triển khai đề
án:“Mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/ KHHGĐ cho VTN và thanh niên”

7


tại 10 tỉnh thành phố. Năm 2006 mở rộng ra 28 tỉnh thành phố. Mục tiêu chính của
đề án nhằm nâng cao nhận thức về SKSS/ KHHGĐ, bao gồm các vấn đề liên quan
về giới, giới tính, tình dục an toàn, BLTQĐTD, HIV/AIDS góp phần làm giảm các
hành vi gây tác hại đến SKSSVTN.
Sức khỏe sinh sản không chỉ dừng bởi các công trình nghiên cứu mà nó còn
được xuất hiện rất nhiều trên tạp chí:“Tình bạn, tình yêu, tình dục tuổi vị thành
niên”-Nguyễn Linh Khiếu, tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 3/2000- Bài viết là kết
quả nghiên cứu khía cạnh tình bạn, tình yêu trong một dự án về SKSS vị thành niên
năm 1998.“Vị thành niên và các vấn đề Sức khỏe sinh sản”- Nguyễn Phương Thảo,
tạp chí Khoa học về Phụ nữ số 3/2003: phân tích hiểu biết của VTN về những nội
dung cơ bản: tuổi dậy thì, tình dục, mang thai ngoài ý muốn, các biện pháp tránh

SKSS của học sinh” (2008) khi tiến hành nghiên cứu trường hợp Quận Hoàng Mai
nhằm trả lời cho câu hỏi về kiến thức hiểu biết, tâm thế hành vi và xu hướng biến
đổi nhận thức về SKSS của học sinh THPT quận Hoàng Mai. Trong luận văn: “ Đặc
tính dân tộc trong giáo dục giới tính cho trẻ Vị thành niên trong gia đình” ( 2009)
tác giả Lê An Ni chỉ ra rằng mặc dù khác dân tộc nhưng người Tày ở Tân Thanh và
người Kinh đều giải thích chung chung khi con cái hỏi về vấn đề giới tính, người
Tày cảm thấy lo lắng còn người Kinh cảm thấy xấu hổ khi con mang thai ngoài ý
muốn, người Kinh chọn giải pháp khuyên con cái đi phá thai thì người Tày lại lựa
chọn hình thức cưới hỏi. “Thực trạng nhận thức hành vi về tình dục và các biện
pháp tránh thai của sinh viên các trường Đại học ở Việt Nam hiện nay”(2009) của
tác giả Trương Thị Thúy Hạnh. Công trình này đã đóng góp một cái nhìn toàn cảnh
về thực trạng nhận thức của sinh viên các trường Đại học ở Việt Nam về hành vi
tình dục và các biện pháp tránh thai. Bằng việc khảo sát 2 địa bàn xã Liêm Cần
huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam và phường Đồng Xuân quận Hoàn Kiếm thành phố
Hà Nội tác giả Phạm Thị Anh Minh đã làm sáng tỏ nhận thức, thái độ của cộng
đồng về hành vi quan hệ tình dục của Vị thành niên là khác nhau về địa bàn cư trú
và nhân khẩu học qua luận văn: “ Thái độ của xã hội đối với hành vi quan hệ tình
dục của Vị thành niên”, ( 2011). “ Truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho
phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay”, ( 2013), của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa đã
chỉ ra yếu tố dân tộc, đặc điểm của đối tượng làm công tác dân số kế hoạch hóa gia
đình đều ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông của phụ nữ dân tộc thiểu số huyện
Anh Sơn hiện nay. Hay luận văn thạc sĩ “Nhu cầu giáo dục kiến thức sức khoẻ sinh
sản của học sinh THPT, nghiên cứu trường hợp trường THPT Hoằng Hoá II -

9


Hoằng Kim - Hoằng Hoá - Thanh Hoá” Trần Thị Loan ( 2014). Tác giả cũng đưa ra
can thiệp cụ thể cho học sinh tại địa bàn nghiên cứu về SKSS.
Bên cạnh đó còn kể đến các bài viết được đăng trên tạp chí chuyên ngành

Bên cạnh những luận văn đã được nghiên cứu còn có các bài viết được đăng
trên tạp chí Tâm lý học trong một vài năm trở lại đây như: “ Trở ngại tâm lý của
học sinh trung học cơ sở trong hành vi tham gia học giáo dục giới tính”, tạp chí
tâm lý học số 11, T11/ 2012. Trong nghiên cứu này chỉ ra trở ngại tâm lý của học
sinh trong hành vi tham gia giáo dục giới tính được đánh giá trên 2 biểu hiện; Một
là, tâm lý ngại thể hiện tính chủ động tìm hiểu lĩnh hội kiến thức giáo dục giới tính;
hai là, tâm lý ngại bộc lộ chia sẻ kiến thức của bản thân về giáo dục giới tính,qua
nghiên cứu này cho thấy học sinh gặpo tở ngại tâm lý trong hành vi tham gia giáo
dục giới tính ở 2 biểu hiện là khác nhau, các em có tính tích cực chủ động lĩnh hội
kiến thức giáo dục giới tính tương đối tốt song trở ngại tâm lý trong hành vi bộc lộ,
chia sẻ kiến thức là khá cao.
Lĩnh vực công tác xã hội: trong lĩnh vực này cũng có một số đề tài liên
quan đến SKSS được đưa vào nghiên cứu như: “ Cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc
SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hà Nội”, Đặng Huyền Trang (
2013), nghiên cứu tại hội thanh niên khuyết tật Hà Nội đã chỉ ra rằng nữ khuyết tật
vận động đang gặp rào cản để có thể tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS từ góc
độ tâm lý cá nhân, từ phía gia đình, các cơ sở y tế và hệ thống chính sách. “ Vấn đề
chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các em nữ độ tuổi Vị thành niên”, Vy Thị Hồng
Hạnh ( 2014) cho thấy bức tranh toàn cảnh về chăm sóc sức khỏe sinh sản của các
em nữ độ tuổi vị thành niên tại trường THCS Nam Cường huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc
Cạn. Qua nghiên cứu cho thấy các em nữ độ tuổi VTN có nhiều thay đổi về tâm,
sinh lý, các em chưa thực sự chú trọng vào việc chăm sóc SKSS cho bản thân và
chưa biết chăm sóc sức khỏe như thế nào cho đúng cách. Tại trường các em theo
học chưa có nhân viên công tác xã hội chính thức vì vậy mà vai trò này được các
giáo viên đảm nhận.
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu thường tập trung đi sâu vào tìm hiểu thực
trạng hiểu biết về SKSS và thái độ hành vi của thanh, thiếu niên về các kiến thức
sức khỏe sinh sản tại các thành phố, vùng nông thôn, vùng núi. Những con số được
đưa ra nêu trên cho thấy vấn đề giáo dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản đóng vai trò
rất quan trong trong mục tiêu phát triển con người Việt Nam, mà tập trung vào thế

mình trong việc chăm lo đến đời sống sức khỏe cho trẻ vị thành niên. Với tư cách là
một nhân viên CTXH, người nghiên cứu vận dụng vai trò của mình để đánh giá
hiệu quả hoạt động, đánh giá vai trò của tổ chức hội phụ nữ trong mô hình giáo dục
SKSS cho trẻ VTN, từ đó đề xuất một số định hướng để giúp hội phụ nữ xã hoàn
thiện mô hình giáo dục SKSS cho trẻ VTN nhằm cung cấp một mô hình giáo dục

12


SKSS phù hợp với lứa tuổi và thời gian tham gia của VTN vào mô hình giáo dục
đồng thời giúp các em có một sân chơi kiến thức lành mạnh, là địa chỉ tin cậy tìm
đến của trẻ VTN trong xã khi gặp những vấn đề về SKSS, hay những tâm lý bất ổn
trong thời kì VTN.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là nhằm tìm hiểu, đánh giá hiệu quả hoạt động
của mô hình giáo dục SKSS cho trẻ VTN của hội phụ nữ xã Hòa Hậu. Từ đó, có thể
vận dụng kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội để đưa ra định hướng hoàn
thiện mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ VTN nhằm nâng cao vai trò của tổ
chức xã hội trong quá trình phát triển của trẻ VTN.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài hướng tới giải quyết ba
nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, đánh giá được thực trạng hoạt động và kết quả của mô hình giáo
dục sức khỏe sinh sản .
Thứ hai, tìm hiểu mong muốn, kì vọng, nhu cầu tham gia của VTN không
được tham gia mô hình.
Thứ ba, vận dụng vai trò của nhân viên CTXH để đưa ra định hướng hoàn
thiện mô hình giáo dục SKSS cho trẻ VTN tại xã Hòa Hậu.
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ VTN của hội phụ nữ cấp cơ sở (

Hoạt động mô hình giáo dục SKSS cho trẻ VTN của hội phụ nữ xã Hòa Hậu
chưa đạt kết quả như mong muốn. Các VTN tham gia nắm vững hình thức tổ chức
mô hình nhưng mức độ hài lòng không cao, cán bộ tổ chức mô hình thiếu hụt trong
các vai trò chính của mình trong quá trình tổ chức, thực hiện mô hình.
Nhu cầu được giáo dục kiến thức SKSS của trẻ VTN trong xã còn nhiều
nhưng hội hội phụ nữ chưa đáp ứng được do thiếu hụt các vai trò trong chính quá
trình thực hiện mô hình giáo dục SKSS.
Nhân viên CTXH có nhiều hoạt động can thiệp hiệu quả trong việc cùng với
hội phụ nữ đưa ra các định hướng hoàn thiện các vai trò bị thiếu hụt trong quá trình
thực hiện mô hình giáo dục SKSS.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Quan điểm tiếp cận
Tiếp cận theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Quan điểm biện chứng cho rằng các sự vật hiên tượng vừa tồn tại độc

14


lập, lại vừa tác động qua lại chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định (Bộ
giáo dục và Đào tạo, 2005). Do vậy, khi tìm hiểu, đánh giá về mô hình giáo dục
kiến thức SKSS cho trẻ VTN của hội phụ nữ chúng ta phải đặt trong bối cảnh KTXH thời điểm hiện tại xã Hòa Hậu, nhu cầu của chính trẻ VTN trong xã về giáo dục
SKSS, điều kiện về cơ sở vật chất, kiến thức, năng lực tổ chức của hội phụ nữ, các
giá trị mới của xã hội hiên đại, sự hội nhập nền KT quốc tế, sự toàn cầu hóa đã tác
động lên mô hình giáo dục SKSS như thế nào để thấy được bản chất của sự vật hiện
tượng. Quan điểm duy vật lịch sử nhìn nhận các sự vật hiện tượng trong một quá
trình, không tồn tại bất biến mà luôn vận động, biến đổi (Bộ giáo dục và Đào tạo,
2005). Do vậy khi nghiên cứu vấn đề này, phải đặt thực trạng nhận thức và nhu cầu
giáo dục kiến thức SKSS của trẻ VTN trong bối cảnh xã hội VN ngày nay trong sự
vận động và phát triển của thời kỳ CNH- HĐH đất nước. Bên cạnh những tác động tích
cực cũng là những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của các em.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status