1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
NGHIÊN CỨU NHU CẦU VÀ SỰ HÀI LÒNG
CỦA BỆNH NHÂN VỀ KHÁM CHỮA BỆNH
TẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ UNG THƢ
Ở VIỆT NAM NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
NGHIÊN CỨU NHU CẦU VÀ SỰ HÀI LÒNG
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu cung và cầu
trong khám và điều trị ung bướu tại các vùng sinh thái của Việt Nam” và các
anh/chị/em trong nhóm nghiên cứu đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
nghiên cứu.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Dự án phòng, chống một số bệnh nguy hiểm đối
với cộng đồng (bệnh ung thư) thuộc Chương trình quốc gia, Ban giám đốc và các
bệnh nhân tại các cơ sở nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ và cung cấp số
liệu cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các anh/chị/em đồng nghiệp tại
Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, trường Đại học Y Hà Nội và bạn bè đã quan
tâm động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập nâng cao kiến thức
và hoàn thành khóa học này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ và những người thân
trong gia đình đã luôn động viên tinh thần và vật chất, là chỗ dựa vững chắc để tôi
có được kết quả ngày hôm nay.
Hà nội, tháng 9 năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Hồng Hoa
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Hồng Hoa, học viên cao học khóa 21 chuyên ngành Y tế
công cộng Trường Đại học Y Hà Nội xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS. Ngô Văn Toàn.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã
được công bố tại Việt Nam.
2.4.3. Các chỉ số trong nghiên cứu ........................................................... 25
2.4.4. Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin ......................................... 26
2.4.5. Phân tích và xử lý số liệu ............................................................... 27
2.4.6. Đạo đức trong nghiên cứu .............................................................. 27
6
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 29
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu............................................ 29
3.2. Thực trạng sử dụng dịch vụ và nhu cầu cung cấp thông tin về khám
chữa bệnh ung thư của bệnh nhân ............................................................... 34
3.2.1. Thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ .............................................. 34
3.2.2. Nhu cầu cung cấp thông tin ............................................................ 37
3.3. Sự hài lòng của bệnh nhân điều trị nội trú ung thư. ............................. 39
Chƣơng 4. BÀN LUẬN ................................................................................. 46
4.1. Thực trạng sử dụng dịch vụ và nhu cầu cung cấp thông tin về khám
chữa bệnh của bệnh nhân ở các cơ sở điều trị ung thư. ............................... 46
4.1.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu .......................................... 46
4.1.2 Thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ ............................................... 47
4.1.3. Nhu cầu cung cấp thông tin ............................................................ 50
4.2. Sự hài lòng của bệnh nhân nội trú điều trị ung thư. ............................. 53
KẾT LUẬN .................................................................................................... 58
1. Thực trạng sử dụng dịch vụ và nhu cầu cung cấp thông tin về khám chữa
bệnh của bệnh nhân ở các cơ sở điều trị ung thư. ....................................... 58
1.1. Thực trạng sử dụng dịch vụ............................................................... 58
1.2. Nhu cầu cung cấp thông tin ............................................................... 58
2. Sự hài lòng của bệnh nhân nội trú điều trị tại các Bệnh viện Ung bướu,
Trung tâm/Khoa Ung bướu.......................................................................... 58
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 60
CSSK
: Chăm sóc sức khỏe
CSYT
: Cơ sở y tế
ĐHYHN
: Đại học Y Hà Nội
KCB
: Khám chữa bệnh
PCUT
: Phòng chống ung thư
TTPCUT
: Truyền thông phòng chống ung thư
TTUB
: Trung tâm ung bướu
TYT
8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới, dân tộc và tôn giáo ........ 30
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân ............... 31
Bảng 3.3. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn ..................... 31
Bảng 3.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp ........................... 32
Bảng 3.5. Cơ sở y tế bệnh nhân đến khám ung thư ........................................ 34
Bảng 3.6. Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng dịch vụ chuyển tuyến ............................. 35
Bảng 3.7. Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng dịch vụ CSGN tại các cơ sở y tế ............ 35
Bảng 3.8. Tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu sử dụng các cơ sở y tế ...................... 36
chăm sóc giai đoạn cuối .................................................................................. 36
Bảng 3.9. Tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu cung cấp thông tin ............................. 37
về bệnh ung thư ............................................................................................... 37
Bảng 3.10. Các loại phương tiện truyền thông sẵn có ở địa phương .............. 37
Bảng 3.11. Nội dung thông tin mà bệnh nhân mong muốn được cung cấp ... 38
Bảng 3.12. Tỷ lệ bệnh nhân nhận được các loại tờ rơi/sách nhỏ truyền thông
về bệnh ung thư ............................................................................................... 39
Bảng 3.13. Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng về thông tin giáo dục truyền thông
PCUT hiện nay ................................................................................................ 39
Bảng 3.14. Tỷ lệ bệnh nhân nhận sự hỗ trợ tâm lý/tinh thần từ cán bộ y tế ... 40
Bảng 3.15. Tỷ lệ bệnh nhân nhận sự tư vấn của cán bộ y tế ở bệnh viện ....... 40
Bảng 3.16 Mức độ hài lòng của bệnh nhân với hoạt động tư vấn .................. 41
Bảng 3.17. Mức độ hài lòng của bệnh nhân về cơ sở vật chất,....................... 41
trang thiết bị của bệnh viện ............................................................................. 41
Bảng 3.18. Mức độ hài lòng của bệnh nhân về sự chăm sóc .......................... 42
của điều dưỡng ................................................................................................ 42
Bảng 3.19 Mức độ hài lòng của bệnh nhân về tinh thần thái độ .................... 43
khám bệnh của bác sỹ ..................................................................................... 43
phát triển [1]. Cơ quan Nghiên cứu Quốc tế về Ung thư là cơ quan chuyên
môn của WHO về bệnh ung thư, đã công bố "Báo cáo ung thư Thế giới
2014". Báo cáo cho thấy gánh nặng ung thư đang phát triển với một tốc độ
đáng báo động và nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện khẩn cấp các chiến
lược phòng ngừa hiệu quả để kiềm chế căn bệnh này [2].
Theo thống kê mới nhất (ước tính từ số liệu thống kê từ 6 tỉnh là Hà
Nội, TPHCM, Hải Phòng, Thái Nguyên, Huế và Cần Thơ), tỉ lệ mới mắc
chung của mọi ung thư ở Việt Nam sau 10 năm đã tăng gần 30%, lên tới
134,9/100.000 (nữ) - 181,3/100.000 (nam). Như vậy, riêng năm 2010, Việt
Nam có tối thiểu 126.307 ca ung thư mới mắc ở cả 2 giới. Nếu cộng thêm với
số bệnh nhân đã mắc tính đến thời điểm hiện tại, cả nước có khoảng 240.000 250.000 bệnh nhân bị ung thư đang điều trị. Số người mắc bệnh ung thư ở
Việt Nam ngày càng gia tăng, năm 2000, tỷ lệ mắc chung của bệnh ung thư ở
nam giới là 104/100.00 dân, ở nữ giới là 101/100.000, thì đến năm 2010 tỷ lệ
này ở nam giới tăng đến 181/100.000 dân và ở nữ giới tăng đến 134/100.000
dân [3].
Theo nghiên cứu của Dự án phòng, chống một số bệnh nguy hiểm đối
với cộng đồng (bệnh ung thư) thuộc Chương trình phòng chống ung thư quốc
gia và Trường Đại học Y Hà Nội năm 2011-2012 cho thấy nhu cầu khám
chữa bệnh ung thư của người dân ngày càng tăng, bên cạnh đó nhu cầu về
phòng bệnh ung thư của người dân cũng ngày càng lớn [4].
2
Hiện nay ngành Y tế Việt Nam đang phải đối mặt với thực trạng nhu
cầu dịch vụ y tế ngày càng tăng nhưng nguồn lực y tế còn nhiều hạn chế. Đề
án "Giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2013-2020" với mục tiêu từng bước
giảm tình trạng quá tải bệnh viện ở hai khu vực khám bệnh và điều trị nội trú;
phấn đấu không để người bệnh phải nằm ghép trong bệnh viện; trước mắt tập
trung giải quyết giảm quá tải ở các chuyên khoa: ung bướu, ngoại - chấn
tiến triển nhanh do đột biến gien từ lúc bào thai.
Các ung thư người lớn đều qua giai đoạn tiềm tàng có khi hàng chục
năm, đặc biệt là ung thư tuyến giáp, ung thư cổ tử cung, ung thư da...
Khi khối u lớn phát triển nhanh mới có các triệu chứng lâm sàng. Đau
thường là triệu chứng của bệnh ung thư ở giai đoạn cuối.
1.1.2. Nhu cầu và chăm sóc giảm nhẹ
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong
muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát
triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh
lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.Theo V. Henderson nhu cầu cơ
bản của người bệnh về chăm sóc gồm 14 yếu tố sau [7]:
4
1. Ðáp ứng các nhu cầu về hô hấp
2. Giúp đỡ bệnh nhân về ăn, uống và dinh dưỡng
3. Giúp đỡ bệnh nhân trong sự bài tiết
4. Giúp đỡ bệnh nhân về tư thế, vận động và tập luyện.
5. Ðáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi.
6. Giúp bệnh nhân mặc và thay quần áo.
7. Giúp bệnh nhân duy trì thân nhiệt.
8. Giúp bệnh nhân vệ sinh cá nhân hàng ngày.
9. Giúp bệnh nhân tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện.
10. Giúp bệnh nhân trong sự giao tiếp.
11. Giúp bệnh nhân thoái mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng.
12. Giúp bệnh nhân lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là
người vô dụng.
13. Giúp bệnh nhân trong các hoạt động vui chơi, giải trí.
14. Giúp bệnh nhân có kiến thức về y học.
của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở so sánh sự khác biệt
giữa những gì họ nhận đuợc so với mong đợi trước đó (Oliver, 1999 và
Zineldin, 2000) [10], [11] .
Sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ y tế phụ thuộc rất
nhiều vào kết quả của công tác khám, chữa bệnh, vào các mối quan hệ phát
sinh trong quá trình khám chữa bệnh. Vì thế, đánh giá sự hài lòng của khách
hàng trong trường hợp này thực chất là đánh giá chất lượng của dịch vụ y tế.
6
Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ y tế bao
gồm các hoạt động được thực hiện bởi các nhân viên y tế như khám bệnh,
chữa bệnh và phục vụ bệnh nhân. Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các
hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng
nhu cầu về sức khỏe. Với tính chất đặc biệt như vậy, chất lượng dịch vụ y tế
được quyết định bởi 2 yếu tố cơ bản, đó là chất lượng kỹ thuật và chất lượng
chức năng. Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chuẩn đoán và
điều trị bệnh. Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như cơ sở vật chất
của bệnh viện, giao tiếp của nhân viên y tế với bệnh nhân, cách thức tổ chức
quy trình khám, chữa bệnh, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh [12].
1.2. Nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân.
Tổ chức Liên hợp quốc vừa cho lưu hành Bản báo cáo đặc biệt của
Viện nghiên cứu quốc tế về ung thư, với nhận định bi quan rằng trong những
năm gần đây, căn bệnh quái ác này có tốc độ phát triển quá nhanh tại mọi khu
vực trên thế giới, và tiếp tục là nguyên nhân gây tỷ lệ tử vong cao nhất thế
giới. Báo cáo trên cho biết trong năm 2012, trên toàn thế giới có hơn 14 triệu
người bị chết vì các loại bệnh ung thư khác nhau [13]. Các chuyên gia của
Viện nghiên cứu quốc tế về ung thư cảnh báo nếu con người không sớm tìm
được biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tốc độ phát triển như hiện nay của căn
nữa thông tin về tương lai để có thể chuẩn bị trước tinh thần. Kết quả cho thấy
4 nhu cầu thường xuyên trong tốp 5 bệnh nhân mong muốn được cung cấp
gồm: liên quan đến chẩn đoán (40%), về điều kiện tương lai (61%), liên quan
đến một cuộc tư vấn tốt với bác sĩ (45%), và những thông tin kinh tế liên quan
đến bảo hiểm (40 %), trong khi chỉ có một nhu cầu coi sự cần thiết cho dịch
vụ phòng bệnh tốt hơn tại bệnh viện (phòng tắm, ăn uống, vệ sinh) (59%).
Hầu hết các sản phẩm hỗ trợ bệnh nhân ung thư vẫn còn dưới 30%. Nhu cầu
giúp đỡ cho bệnh nhân ăn uống, mặc quần áo, và vệ sinh phòng tắm không
thường xuyên (11%) [14].
8
Theo nghiên cứu của K Rainbird và cộng sự trên 246 bệnh nhân ở New
South Wales, Australiavề bảy lĩnh vực của câu hỏi: tâm lý, sinh hoạt hàng
ngày, truyền thông và thông tin y tế, triệu chứng có liên quan, xã hội, tinh
thần và nhu cầu tài chính đã cho kết quả như sau: bệnh nhân có nhu cầu liên
quan đến thông tin liên lạc các lĩnh vực/thông tin về tâm lý vày tế cụ thể là
việc đối phó với tình trạng thiếu năng lượng và mệt mỏi, đối phó với nỗi sợ
hãi về căn bệnh ung thư lan rộng, và đối phó với sự thất vọng vì không thể
làm những điều họ đã từng làm [15].
Với nghiên cứu của Elise R Posma và cộng sự về thông tin và hỗ trợ
cho nhu cầu cho bệnh nhân lớn tuổi đã cung cấp một cái nhìn toàn diện ở
những bệnh nhân, thân nhân và quan điểm chuyên gia về tư vấn bệnh cho
bệnh nhân ung thư lớn tuổi. Kết quả cho thấy tư vấn tăng hơn đối với bệnh
nhân lớn tuổi và phải phù hợp hơn với nhu cầu cụ thể của từng bệnh nhân ung
thư, bằng cách khám phá những nhu cầu và đáp ứng cho họ trong quá trình tư
vấn. Hiện sự đồng cảm và hỗ trợ là một khía cạnh quan trọng trong việc tư
vấn cho bệnh nhân ung thư lớn tuổi họ có những kỳ vọng sống khác nhau.
Trong một môi trường đáng tin cậy cả trong và sau khi trao đổi ý kiến giữa
xã hội dịch vụ và cộng đồng rộng lớn hơn [23], [24].
Việc điều trị cho bệnh nhân trở nên không khả quan khi bệnh nhân mắc
bệnh khác. Bệnh nhân có biểu hiện tình trạng sức khỏe cấp tính, thường đòi
hỏi sự can thiệp ngay lập tức, có khi trước khi đến bệnh viện đã được chăm
sóc bởi nhân viên y tế. Vấn đề quan trọng khác liên quan đến lo lắng của
người chăm sóc, lo ngại về những biện pháp can thiệp và mong muốn có
phương pháp chăm sóc giảm nhẹ. Bệnh nhân thường được hội chẩn bởi nhiều
chuyên gia y tế và đôi khi nhiều chuyên ngành trong hội chẩn. Mặc dù ung
thư cấp tính chắc chắn sẽ được cải thiện khi phối hợp chăm sóc và được khám
từ đầu với một bác sĩ chuyên khoa, khám lâm sàng và đưa ra quyết định sẽ
tiếp tục điều trị cho phù hợp với bệnh nhân, một cách kịp thời. Với các vấn đề
nêu trên, một nhóm làm việc chung được thành lập bởi Royal College of
Physique of London (RCP) và Royal College đã viết một báo cáo về bệnh
nhân ung thư cần có các dịch vụ chăm sóc cấp tính [25], [26], [27], [28].
11
Tại Thái Lan, ung thư vẫn là một vấn đề sức khỏe quan trọng bởi vì nó
đã là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong từ hơn 10 năm năm nay [29], [30].
Đã có rất nhiều tiến bộ trong y học để điều trị ung thư, nhưng số lượng bệnh
nhân ung thư chết vì căn bệnh này gia tăng hàng năm. Hơn nữa, hiện tại có
những thay đổi đang diễn ra trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của Thái [31].
Sự thay đổi này đã dẫn đến một sự thay đổi về chăm sóc bệnh ung thư từ bệnh
viện đến về nhà. Số lượng bệnh nhân ung thư ngoại trú tăng từ 846.062
trường hợp (14,78 / 1.000 người) trong năm 2007 lên 1.138.585 trường hợp
(19,72 / 1.000 người) trong năm 2009. Sự thay đổi này cho thấy sự tham gia
của gia đình trong việc chăm sóc cho những người bị bệnh ung thư đã tăng
lên và có thể phản ánh ảnh hưởng ngày càng tăng của bệnh ung thư lên các
thành viên gia đình [32], [33]. Các tài liệu cho thấy rằng bệnh nhân ung thư
khắt khe can thiệp cho những người chăm sóc hoặc các thành viên gia đình.
Những nghiên cứu này là các nghiên cứu can thiệp của lý thuyết thông tin dựa
trên dữ liệu được phát triển với mục tiêu nâng cao điều chỉnh các thành viên
gia đình đến ung thư. Tuy nhiên, có rất ít thông tin về tình trạng kiến thức của
những người chăm sóc cho các bệnh nhân ung thư ở Thái Lan. Sẽ ít hiệu quả
trong việc lập kế hoạch chăm sóc nếu chúng ta không hiểu được nhu cầu của
những người chăm sóc gia đình cho bệnh nhân ung thư trong bối cảnh Thái
Lan hiện nay. Số lượng những người chăm sóc bệnh ung thư nên tăng liên tục
trong tương lai gần. Bằng chứng từ nhiều nghiên cứu xem xét cho thấy tình
trạng kiến thức liên quan đến những người chăm sóc bệnh ung thư trong bối
cảnh Thái Lan đang trong trạng thái phôi thai so với tình trạng kiến thức ở các
nước phương Tây [35], [33], [36], [37].
Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cung cấp chăm sóc cho bệnh
nhân ung thư có tác động khác nhau trên người chăm sóc. Một số khái niệm
liên quan đến kết quả chăm sóc (ví dụ: gánh nặng người chăm sóc, chất lượng
cuộc sống - QOL, người chăm sóc trẻ, đối phó với bệnh tật, và hỗ trợ xã hội)
cần phải được kiểm tra chặt chẽ hơn. Hiện tại có một số hạn chế cần xem xét.
13
Có rất nhiều lý do cho nghiên cứu về người chăm sóc cho bệnh nhân ung thư
vì nhiều bất cập: như cơ sở dữ liệu ở Thái Lan và các nghiên cứu về vấn đề
này không được công bố trên tạp chí, các nghiên cứu được phát triển bởi các
nhà khoa học điều dưỡng, các nghiên cứu được phát triển bởi các nhà giáo
dục chứ không phải là cán bộ y tế trong một khung cảnh lâm sàng… Vì vậy,
tình trạng kiến thức chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ung thư có thể không
có quy mô lớn. Cho nên nghiên cứu có thể không phản ánh đầy đủ các hiện
tượng của việc chăm sóc từ quan điểm lâm sàng. Trong tương lai cần phải
tiếp tục khám phá các khái niệm liên quan đến kết quả tiêu cực và tích cực
Minh, Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ) và 37 tỉnh thành có Khoa/TTUB.
Đa số các khoa này đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện, trang thiết
bị thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh. Chỉ riêng số
giường bệnh thực tế màng lưới hiện có chỉ đáp ứng chưa được 30% [46].
Tại bệnh viện K, bệnh nhân đến bệnh viện năm sau lại cao hơn năm
trước từ 20-30%. Cụ thể: năm 2007, bệnh nhân khám vú là 2.476 người, đến
năm 2011, con số này là 3011 người. Bệnh nhân khám phổi năm 2007 là
1.199 người, đến năm 2011, số này là 2.059 người [47].
Tại TP. Hồ Chí Minh, năm 2010 có 6.800 trường hợp ung thư mới với
ung thư phổi, gan là hai loại ung thư hàng đầu ở nam; ung thư vú, cổ tử cung
là 2 loại ung thư hàng đầu ở nữ. Chỉ tính riêng tại Bệnh viện Ung bướu TP.
Hồ Chí Minh, mỗi năm tiếp nhận số trường hợp đến điều trị ung thư tăng
khoảng 7-10%. Trong năm 2012, BV tiếp nhận khoảng 20.000 trường hợp,
trong đó 78% là bệnh nhân đến từ các địa phương khác [48].
Theo Cục Quản lý khám chữa bệnh Bộ Y tế, hiện trung bình mỗi năm
có hơn 132 triệu lượt người khám bệnh tại các bệnh viện, trung bình đạt 24,7
giường bệnh/10.000 dân.
Năm 2013, công suất sử dụng giường bệnh của BV tuyến trung ương là
112,5%. Con số này đã tăng thêm 11,3% so với mức 101,2% của năm 2012.
15
Ở những BV, khoa, phòng thuộc tuyến cuối về ung bướu, sản nhi, chấn
thương…, bệnh nhân vẫn phải nằm ghép 2 - 3 người/giường [49].
Tỉ lệ giường bệnh ở Việt Nam là 2,5 giường/10.000 dân, trong khi trên
thế giới là 39 giường/10.000 dân. Chính vì thế nhu cầu khám chữa bệnh của
người dân là rất lớn. Năm 2014, Bộ Y tế tiếp tục xây dựng, cải tạo nâng cấp
các BV cùng với việc sử dụng nguồn kinh phí 20.000 tỉ đồng đầu tư của
Chính phủ để xây dựng 5 BV tuyến trung ương và BV tuyến cuối ở Hà Nội,