1
B GIO DC V O TO
TRNG I HC Y H NI
B Y T
MAI TH LIấN
ĐặC ĐIểM LÂM SàNG, YếU Tố LIÊN QUAN
Và HIệU QUả ĐIềU TRị BệNH CHốC BằNG CEFIXIM
KếT HợP VớI FUCIDIN
Chuyờn ngnh: Da liu
Mó s: 60720152
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS. TRN VN TIN
H NI - 2014
2
Lêi c¶m ¬n
Tôi xin chân thành cảm ơn: ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học
Trường đại học Y Hà Nội, ban lãnh đạo Bệnh viện Da liễu Trung ương đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới phó giáo sư – tiến sỹ Trần
Văn Tiến thầy trực tiếp hướng dẫn, truyền thụ kiến thức khoa học, động viên
về tinh thần, giúp đỡ về vật chất để tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này.
bất kỳ công trình nào khác.
Học viên Mai Thị Liên
4
CHỮ VIẾT TẮT
CS
: Cộng sự
ĐT
: Điều trị
MRSA
: Methicillin- resistant staphylococcus aureus
S
: Staphylococcus
S
: Streptococcus
BVDLTW
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu ...................................................................... 37
2.3.2. Thời gian nghiên cứu ..................................................................... 37
2.4. Xử lý số liệu .......................................................................................... 37
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu .................................................................... 37
6
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 38
3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH CHỐC................................................................ 38
3.1.1. Các yếu tố liên quan bệnh chốc...................................................... 38
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng bệnh chốc ........................................................ 42
3.2. Kết quả nghiên cứu điều trị bệnh chốc ................................................. 46
3.2.1. Đặc điểm của hai nhóm nghiên cứu ............................................... 46
3.2.2. Kết quả điều trị của hai nhóm ........................................................ 46
3.2.3. So sánh kết quả điều trị giữa 2 nhóm ............................................ 49
3.2.4. Tác dụng không mong muốn của các thuốc điều trị ...................... 52
Chƣơng 4: BÀN LUẬN ................................................................................ 53
4.1. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN BỆNH CHỐC ........................................ 53
4.1.1. Giới tính.......................................................................................... 53
4.1.2 Phân bố bệnh theo lứa tuổi .............................................................. 54
4.1.3. Phân bố bệnh theo vùng, miền ....................................................... 56
4.1.4. Mùa mắc bệnh ................................................................................ 57
4.1.5. Phối hợp với các bệnh da khác ..................................................... 58
4.1.6. Bệnh chốc liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng .................... 60
4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH CHỐC ................................... 61
4.2.1. Thương tổn cơ bản ......................................................................... 53
4.2.2. Triệu chứng toàn thân .................................................................... 64
4.3. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHỐC ................................................... 66
Bảng 3.18: So sánh kết quả điều trị giữa 2 nhóm sau 3 ngày ......................... 49
Bảng 3.19: So sánh kết quả điều trị giữa 2 nhóm sau 7 ngày ......................... 50
Bảng 3.20: So sánh kết quả điều trị giữa 2 nhóm sau 10 ngày ....................... 51
8
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Phân bố bệnh theo lứa tuổi ......................................................... 39
Biểu đồ 3.2. Kết quả điều trị bằng cefixim kết hợp bôi fucidin ..................... 47
Biểu đồ 3.3. Kết quả điều trị bệnh chốc bằng bôi fucidin .............................. 48
Biểu đồ 3.4. So sánh kết quả điều trị 2 nhóm sau 3 ngày ............................... 50
Biểu đồ 3.5. Kết quả điều trị của 2 nhóm sau 7 ngày ..................................... 51
Biểu đồ 3.6. Kết quả điều trị của 2 nhóm sau 10 ngày ................................... 52
9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chốc (Impetigo) là bệnh nhiễm trùng nông ở da, thường gặp, chiếm tới
90% trường hợp là ở lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Bệnh gặp nhiều ở những
nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới [1].
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm tạo điều kiện thuận
lợi để các vi khuẩn gây bệnh ngoài da, virus, nấm phát triển. Cho nên, người
dân dễ mắc các bệnh nhiễm trùng da trong đó có bệnh chốc.
Nguyên nhân gây bệnh chốc thường do tụ cầu hoặc liên cầu khuẩn
nhóm A hoặc phối hợp cả hai, có thể kết hợp với cả các loại vi khuẩn khác
như : trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn yếm khí (proteus), làm cho hình thái
thương tổn đa dạng, nhiều khi khó chẩn đoán. Những trường hợp bệnh tiến
triển kéo dài và không được điều trị kịp thời có thể gây nên những biến chứng
và hiệu quả điều trị bệnh chốc bằng cefixim kết hợp với fucidin” với các
mục tiêu:
1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan của bệnh chốc tại
Bệnh viện Da liễu Trung ương từ 3 đến tháng 9 năm 2014.
2. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh chốc bằng uống kháng sinh cefixim kết
hợp bôi fucidin.
11
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cƣơng về bệnh chốc
Hiện nay ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới bệnh nhiễm trùng ngoài
da rất phổ biến. Bệnh không những ảnh hưởng đến vẻ đẹp thẩm mỹ mà còn có
những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Trong số các bệnh
nhiễm trùng da có thể có những biến chứng nguy hiểm phải kể đến bệnh chốc.
Chốc là tình trạng nhiễm trùng nông ở da. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi
nhưng 90% trường hợp là ở nhà trẻ, mẫu giáo. Tỷ lệ nam và nữ là tương
đương [1]. Bệnh thường do hai loại vi khuẩn gây lên đó là tụ cầu và liên cầu
tan máu nhóm A. Ngoài ra có thể kết hợp với nhiều loại vi khuẩn khác như
trực khuẩn gram âm (E. coli, salmonela typhi, neisseria–meningitidis,
neigonorrhoeae, brucellamalitensis … ), trực khuẩn mủ xanh, nấm… làm biến
dạng tổn thương cơ bản, gây khó khăn trong chẩn đoán và điều trị. Để chẩn
đoán xác định các trường hợp khó, các trường hợp được điều trị theo phác đồ
bệnh chốc đơn thuần trong thời gian khuyến cáo mà không khỏi bệnh. Thì
trước đây, các nhà nghiên cứu vi khuẩn học đã đưa ra nhiều phương pháp xét
nghiệm cơ bản để phát hiện ra các loại vi khuẩn có mặt ở thương tổn. Nếu
thương tổn chốc kết hợp với thương tổn các bệnh da khác, thì hiện nay ở Việt
nam và các nước phát triển đã có nhiều phương phương xét nghiệm chẩn
khỏi tổn thương da. Khi da xuất hiện tổn thương dù nhỏ cũng tạo điều kiện
cho bệnh chốc sẽ phát sinh. Bệnh chốc sẽ phát triển nặng hơn nếu không
chăm sóc vết thương sạch sẽ, hoặc có những yếu tố thuận lợi đã nêu.
Vi khuẩn tụ cầu, liên cầu và nhiều loại vi khuẩn gây bệnh khác tồn tại dễ
dàng ở mọi nơi trên cơ thể con người. Trên da chúng kí sinh, sống hòa bình
với cơ thể và cộng sinh với nhau tạo thành quần thể chí. Nhưng khoảng 10%
dân số, bình thường có mang vi khuẩn liên cầu nhóm A ở đường hô hấp trên.
13
Ở người trưởng thành có tỷ lệ cao hơn ở trẻ em. Nhưng chỉ có 1% liên cầu
nhóm A sống ở trên da người [5]. Các vi khuẩn này sẽ trở thành tác nhân gây
bệnh chỉ khi cơ thể có những vết thương như vết xước, vết cào gãy, vết côn
trùng đốt. Các bệnh nhân hậu phẫu sau mổ bị nhiễm trùng ở trong các bệnh
viện, hầu như xét nghiệm đều có liên cầu nhóm A. Liên cầu nhóm A gây
nhiễm trùng vết mổ không phải chỉ có vi khuẩn tồn tại chính trên cơ thể bệnh
nhân, mà vi khuẩn còn nhiều nguồn khác đưa tới. Các nguồn có thể lây sang
bệnh nhân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp từ các phẫu thuật viên, bác sỹ gây
mê, các kỹ thuật viên phục vụ ca mổ và y tá chăm sóc bệnh nhân sau mổ.
Chúng sẽ xâm nhập vào cơ thể qua vết thương dù rất nhỏ trên da để gây
nhiễm trùng tại chỗ. Từ các vết nhiễm trùng tại chỗ, vi khuẩn có thể theo
đường máu, đường bạch huyết gây biến chứng cho các nội tạng có thể nguy
hiểm đến tính mạng bệnh nhân. Liên cầu khuẩn gây biến chứng viêm cầu
thận, viêm màng trong tim, nhiễm trùng huyết, viêm khớp… Tụ cầu khuẩn có
thể gây tổn thương nặng hơn như hội chứng 4S, viêm mô tế bào sâu, viêm
phổi, nhiễm khuẩn huyết [6].
Bệnh chốc có tính chất lây lan trên cùng một cơ thể, thương tổn chốc nếu
bị cào gãi sẽ làm tổn thương lan rộng ra xung quanh và lây ra những vùng da
khác. Bệnh cũng có thể lây cho người khác bằng con đường tiếp xúc trực
Tình hình bệnh chốc ở Việt Nam và thế giới
Ở Việt Nam và các nước nhiệt đới nóng ẩm hay gặp bệnh chốc và được
xếp vào loại các bệnh da phổ biến đã được thống kê. Nhiều tác giả trong nước
và nước ngoài đã nghiên cứu nhiều về các phương pháp điều trị bệnh chốc để
hạn chế khả năng lây lan và biến chứng của bệnh.
Do đặc điểm của bệnh chốc thường gặp ở những nước có khí hậu nóng
ẩm, nên ở Việt Nam tỉ lệ mắc bệnh chốc khá cao. Bệnh thường gặp ở trẻ từ 6
tháng đến 2 tuổi và ở nông thôn nhiều hơn ở thành thị. Lứa tuổi trẻ lớn hơn và
15
người già cũng gặp nhưng ít hơn. Yếu tố dễ mắc bệnh là do môi trường vệ
sinh kém hay sức đề kháng cơ thể giảm, hay do da bị tổn thương và không
được chăm sóc cẩn thận [7].
Theo Nguyễn Xuân Hiền và Nguyễn Cảnh Cầu [1] vi khuẩn gây bệnh
viêm da mủ trong đó có bệnh chốc thường là do tụ cầu và liên cầu, nhiều khi
kết hợp với cả trực khuẩn đại tràng như E.Coli, trực khuẩn mủ xanh…
Theo Trần Đăng Quyết nghiên cứu 165 trường hợp viêm da mủ thì bệnh
chốc chiếm 12,43% [8].
Ở Mỹ gặp khoảng 9% - 10% tổng số trẻ em mắc bệnh chốc [1].
Ở Anh bệnh chốc đứng thứ 4 trong số các bệnh ngoài da và có khoảng
3% trẻ < 4 tuổi, 2% trẻ em tuổi từ 4-14 mắc bệnh chốc mỗi năm [7].
Bassen D.C.J năm 1972 đã nghiên cứu về mối liên quan giữa viêm cầu
thận cấp và nhiễm khuẩn da do liên cầu khuẩn, cho biết: 70% bệnh nhân viêm
cầu thận cấp có thương tổn ở da do liên cầu khuẩn gây mủ.
Năm 1978 Roger. M và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu về vi
khuẩn sau 3 năm nghiên cứu bệnh chốc ở Sydney- australia. Kết quả cho thấy
hầu hết do tụ cầu vàng đơn thuần.
Jajajce.S nghiên cứu về mối liên quan giữa viêm cầu thận cấp và nhiễm
chức năng giữ vai trò quan trọng là hàng rào đầu tiên bảo vệ da, niêm mạc
chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh. Khi vi khuẩn gây bệnh xâm
nhập vào da chúng sẽ gặp phải sự chống lại của hệ vi khuẩn da bằng cách
cạnh tranh vị trí chỗ bám (receptor). Trong những điều kiện chủ quan, khách
quan thuận lợi như cơ thể suy yếu, dùng nhiều thuốc kháng sinh, thuốc ức chế
miễn dịch, chấn thương, vết cào xước thì những vi khuẩn trên da lập tức vào
cơ thể qua những tổn thương đó gây nhiễm trùng tại chỗ. Vi khuẩn xâm nhập
vào da, qua các sang chấn vào lớp sừng và lớp gai, nhân lên, tiết độc tố làm
tan rã những dây liên kết giữa các tế bào gai, huyết thanh tụ lại tạo thành bọng
nước dưới lớp sừng [1],[6].
17
Khi chốc phối hợp cả hai loại liên cầu và tụ cầu thường gây nhiễm khuẩn
với diện rộng. Nhiễm khuẩn tiên phát là liên cầu, thứ phát là tụ cầu, nhưng
chính tụ cầu lại tiết ra chất diệt vi khuẩn có tác dụng mạnh trên liên cầu A nên
nếu nuôi cấy bệnh phẩm chỉ phân lập được tụ cầu [1].
Tụ cầu khuẩn có nhiều loại, trong đó ba loại chính có vai trò quan trọng
trong y học đó là: S. aureus, S. epidermidis, S. saprophyticus. Chủng gây
nhiều bệnh và nguy hiểm nhất cho con người đó là S.aureus. Khi vào cơ thể
nó có thể sản xuất ra nhiều loại độc tố để gây bệnh cho nhiều cơ quan như:
độc tố ruột (enterotoxin) gây nhiễm độc thức ăn và viêm ruột cấp, độc tố gây
hội chứng shock nhiễm độc (toxic skock syndrome toxin - TSST), độc tố gây
tan các bạch cầu có nhân đa hình và tiểu cầu (α toxin), độc tố bạch cầu
(Leucocidin), ngoại độc tố sinh mủ gây nhiễm khuẩn ngoài da như mụn nhọt,
áp xe, chàm, hậu bối… Từ những thương tổn này tụ cầu vàng có thể gây
nhiễm khuẩn huyết và các ổ áp xe ở các cơ quan (gan, phổi, não, tủy
xương…), cũng có thể gây viêm tắc tĩnh mạch. Ngoại độc tố exfloliatin hay
epidermolytic toxin gây một hội chứng bong da do tụ cầu vàng hay còn gọi là
- Chốc bọng nước lớn: có thể chẩn đoán nhầm với bệnh Duhring
- Chốc hạt kê: các thương tổn nhỏ, đồng đều có thể nhầm với bệnh chàm.
- Chốc hóa: trên các thương tổn của bệnh da khác có các thương tổn
của chốc.
- Chốc lây ở trẻ sơ sinh hay còn gọi là pemphigus lây (pemphigus
contagiosum).
Trước đây gọi là pemphigus thường ở trẻ sơ sinh. Bệnh thường xuất
hiện vào ngày thứ 4 - 10 sau sinh, các thương tổn là bọng nước rất nông,
nhanh chóng hóa mủ sau vài giờ và trợt ra để lại nền da ẩm ướt, tiết dịch trên
quầng da đỏ. Bệnh nhân thường kèm theo sốt, mệt mỏi, có thể hạ nhiệt độ,
tiêu chảy, nhiễm trùng huyết, viêm phổi, viêm màng não, đe dọa tính mạng
của trẻ, có thể tử vong rất nhanh. Điều trị bằng kháng sinh khỏi hoàn toàn.
19
1.3.1.2. Theo căn nguyên
Trước đây, một số tác giả phân loại chốc theo căn nguyên:
- Chốc gây nên do liên cầu hay còn gọi Impetigo de Tilbury – Fox: mụn
nước nhỏ, dai, hóa mủ chậm. Bệnh thường có tính chất lây lan (trên một cá
thể hoặc lây thành dịch nhỏ trong nhà trẻ, trường học) hay tái phát và biến
chứng viêm cầu thận.
- Chốc gây do tụ cầu hay còn gọi Impetigo de Bockhart: bọng nước to hơn,
sâu hơn, hóa mủ nhiều hơn. Bệnh có thể gây nhiễm trùng huyết, chốc loét.
- Chốc phối hợp do liên cầu và tụ cầu.
Tuy nhiên, giai đoạn gần đây người ta ít đề cập đến cách phân loại này.
1.3.2. Đặc điểm lâm sàng
1.3.2.1. Chốc có bọng nước
Thương tổn cơ bản
- Bắt đầu là dát đỏ xung huyết, ấn kính hoặc căng ra mất màu, kích thước
sáng có một quầng đỏ nhỏ bao xung quanh. Một số trường hợp có thể thấy
các thương tổn vệ tinh ở xung quanh
- Vị trí hay gặp ở mặt, xung quanh hốc mũi, miệng, ở tứ chi. Cũng có
thể gặp ở bất kỳ chỗ nào, ít gây ở lòng bàn tay, chân. Hình thái này thường
gặp trên những trẻ bị viêm da cơ địa hoặc ghẻ hoặc một bệnh da nào đó kèm
theo bội nhiễm. Ít khi gặp thương tổn ở niêm mạc
- Bệnh thường khỏi sau 2- 3 tuần, nhưng cũng có thể kéo dài nhất là khi
trên cơ thể có nhiễm kí sinh trùng, bị chàm hay thời tiết nóng, ẩm ướt.
Nguyên nhân gây thể chốc này thường do liên cầu tan huyết nhóm A.
1.3.2.3. Mô bệnh học
- Chốc bọng nước: các bọng nước nằm trong thượng bì ngay dưới lớp
sừng, kèm theo có sự xâm lấn của bạch cầu đa nhân trung tính và cầu khuẩn.
Đôi khi có tế bào ly gai. Ở trung bì nông có thâm nhiễm bạch cầu đa nhân
21
trung tính và lympho. Một vài trường hợp có thể thấy kháng thể huỳnh quang
trực tiếp hoặc gián tiếpgiống như hình ảnh trong bệnh pemphigus.
- Chốc không có bọng nước điển hình: mô bệnh học tương tự như trên
trừ bọng nước nằm rất nông và thoáng qua.
1.3.2.4 Tiến triển và biến chứng
Bệnh chốc thường không gây nguy hiểm nếu phát hiện và điều trị tích
cực thì 7 - 10 ngày khỏi, ít có tái phát và biến chứng. Tuy nhiên, có thể gặp
các biến chứng:
* Biến chứng tại chỗ
- Chàm hóa: do chốc tái đi, tái lại dai dẳng. Ngoài thương tổn là mụn
mủ, vảy tiết còn thấy da đỏ tăng lên, kèm theo xuất hiện nhiều mụn nước mới,
ngứa, dai dẳng.
- Chốc loét (Impetigo ecthyma) là biến chứng nặng của chốc
1.4.1. Chẩn đoán xác định
Chủ yếu dựa vào lâm sàng [1]
- Thương tổn cơ bản là bọng nước nông, nhăn nheo, hóa mủ nhanh.
- Vảy tiết dày màu vàng nâu hoặc màu nâu nhạt giống màu mật ong.
- Tiến triển lành tính, 7 - 10 ngày khỏi.
- Xét nghiệm: thường không cần, có thể nhuộm gram thấy cầu khuẩn
Gr(+) xếp thành chuỗi (liên cầu) hoặc từng đám ( tụ cầu). Có thể nuôi cấy để
xác định chủng gây bệnh, làm kháng sinh đồ để giúp điều trị những trường
hợp bệnh dai dẳng.
1.4.2. Chẩn đoán phân biệt
- Thủy đậu: bệnh do virus, xảy ra theo mùa, có yếu tố dịch tễ. Thương
tổn là bọng nước lõm giữa, có lứa tuổi khác nhau, kèm theo viêm long đường
hô hấp trên.
23
- Duhring Brocq: có tiền triệu, trước khi mọc tổn thương có dát đỏ,
sẩn phù. Bọng nước căng, tiến triển từng đợt, thể trạng trung bình. Test
Ioduakali dương tính.
- Pemphigus: là bệnh da có bọng nước tự miễn, các thương tổn là bọng
nước to nhăn nheo, không có quầng đỏ xung quanh, dấu hiệu Nikosky (+).
Bệnh tái đi tái lại nhiều lần toàn trạng bị ảnh hưởng, tiên lượng xấu
- Ly thượng bì bọng nước bẩm sinh: Là bệnh bẩm sinh, thương tổn xuất
hiện từ lúc mới sinh, là bọng nước, ở vùng tỳ đè (khuỷu tay, đầu gối, gót chân)
- Zoster (zona): bệnh do virus, mụn nước thành chùm và chạy dọc theo
đường dây thần kinh ngoại biên, thường ở một bên cơ thể, đau rát nhiều.
1.5. Các quan điểm điều trị
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, mỗi tác giả có những quan điểm
điều trị khác nhau nhưng đều có mục đích chung là nhanh chóng làm lành
trong 10 ngày điều trị. Đối với những bệnh nhân bị dị ứng với penicillin thì
được thay thế bằng erythromycin. Tuy nhiên, có khoảng 20% hoặc hơn 20%
bệnh nhân dùng erytromycin đã bị kháng ở một số nước như Nhật, Phần Lan.
Liên cầu khuẩn kháng lại kháng sinh có yếu hơn tụ cầu vàng nhưng gần đây
đã có những chủng kháng lại kháng sinh [2],[3],[4],[5].
Để điều trị bệnh hiệu quả nhanh ngoài kháng sinh đường uống, phải ghi
nhận vai trò quan trọng của các loại kem, mỡ kháng sinh tại chỗ như:
mupirocin và acid fusidic [9],[10],[11],[12],[13],[14]. Muốn có tác dụng tối
đa của các loại kem, mỡ kháng sinh đối với thương tổn có tiết dịch trong bệnh
chốc, thì không thể bỏ qua giai đoạn làm sạch và khô bề mặt thương tổn. Do
đó các loại dung dịch sát khuẩn cũng rất quan trọng như muốn làm bong vảy
tiết bằng cách đắp dung dịch muối đẳng trương 0,9% hay thuốc tím 1/10,000
hoặc dung dịch jarish. Khi vảy tiết bong đi, chấm vào thương tổn dung dịch
25
có màu như millian hoặc castellani. Sau đó có thể bôi kem, mỡ kháng sinh
như neomycin, gentamycin, fucidin…
Một nghiên cứu đã so sánh hiệu quả điều trị bệnh chốc do tụ cầu vàng ở
73 trẻ em bằng penicillin V, erythomycin hoặc cephalexin thì cephalexin có
hiệu quả nhất, nhưng erythomycin thì có hiệu quả phòng các bệnh nhiễm
trùng khác ở da. Ngoài ra cũng có thể dùng kem hydrogen peroxide cũng cho
kết quả tốt không thua kém kem acid fusidic [5],[28],[29],[31].
Kết hợp điều trị rifampicin với cephalecin cho hai trẻ nhỏ bị nhiễm trùng da
do tụ cầu thì cơ thể có những đáp ứng tốt. Sử dụng 0,3% triclosan có tác dụng tốt
với methicillin- resistant staphylococcus aureus cho trẻ nhỏ, dùng 10% povidineidoine để khử trùng khăn lau cho trẻ cũng dự phòng bệnh rất tốt [11].
Như vậy, các phác đồ điều trị các bệnh nhiễm trùng da đều dựa theo
phân loại vi khuẩn và kháng sinh đồ. Các quan điểm điều trị theo kinh nghiệm
và phân loại vi khuẩn theo các thuyết không còn tồn tại nữa mà dựa trên cơ sở