BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
TRẦN ANH QUỲNH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
ĐIỀU TRỊ DỊ TẬT HẬU MÔN TRỰC TRÀNG LOẠI CAO
VÀ Ổ NHỚP BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI
Chuyên ngành: NGOẠI TIÊU HÓA
Mã số: 62 72 01 25
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2017
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN QUÂN Y
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Thanh Liêm
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
trường họp tại Học viện Quân y.
Vào hồi:
quả tốt không có biến chứng. Phẫu thuật nội soi thực sự là cuộc cách
mạng về điều trị DTHMTT loại cao trong gần 20 năm trở lại đây và
được phần lớn các phẫu thuật viên nhi khoa ưa chuộng.
Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi điều trị DTHMTT loại cao
mới chỉ được tiến hành từ năm 2007 tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 và tại
Bệnh viện Nhi Trung Ương bắt đầu tiến hành năm 2005 và đến năm
2009 mới được áp dụng rộng rãi. Từ đó đến nay, chưa có nghiên cứu
nào đánh giá đầy đủ về ứng dụng kỹ thuật và kết quả theo dõi sau
phẫu thuật nội soi điều trị DTHMTT loại cao ở trẻ em. Chúng tôi tiến
hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng và đánh giá kết quả điều trị dị
tật hậu môn trực tràng loại cao và ổ nhớp bằng phẫu thuật nội soi”
nhằm 2 mục tiêu:
1. Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị dị tật hậu
môn trực tràng loại cao và ổ nhớp
2. Đánh giá kết quả điều trị dị tật hậu môn trực tràng loại cao và
ổ nhớp bằng phẫu thuật nội soi
2. Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp mới của luận án
4
Xu hướng của phẫu thuật ngày nay là làm giảm tối đa chấn
thương cho người bệnh, vì vậy việc ứng dụng phẫu thuật nội soi điều
trị DTHMTT ở trẻ em là đi đúng hướng phát triển ngoại khoa hiện
đại, nhất là phẫu thuật điều trị ngoại khoa DTHMTT loại cao là phẫu
thuật phức tạp và phẫu thuật nội soi nhi khoa còn mới mẻ ở trong
nước.
Luận án cho thấy tính khả thi của phẫu thuật nội soi trong điều
trị DTHMTT loại cao và ổ nhớp, đồng thời có một số đóng góp như
cho biết một số đặc điểm tổn thương bệnh lý của DTHMTT loại cao
và ổ nhớp, cho biết giá trị một số yếu tố liên quan đến chẩn đoán
gây nên các hình thái DTHMTT
Giới
Nguyên nhân
Hình thái
- Khuyết tật của cựa Tourneux - Teo HM-TT, rò TT- BQ
Na
- Khuyết tật của nếp gấp Rathes - Teo HM-TT, rò TT- niệu đạo sau
m
- Khuyết tật ụ TSM và nếp SD - Teo HM, rò TT- niệu đạo hành
Nữ
Cả
nam
và
nữ
- Khuyết tật của cựa Tourneux
- Khuyết tật của nếp gấp
Rathes
- Khuyết tật ụ TSM và nếp SD
- Màng ổ nhớp không thủng
hoặc thủng không hoàn toàn
- Khuyết tật hình thành hốc HM
- Khuyết tật nếp sinh dục ngoài
- Tai biến mạch máu nuôi TT
- Teo HM-TT, rò TT- BQ
- Teo HM-TT: Ổ nhớp, rò TTAĐ, TĐ
- HM- TSM trước, HM- AH
- Hậu môn màng hoặc hẹp hậu
kết quả phẫu thuật cũng rất khả quan với chức năng đại tiện ngày
càng tốt hơn.
Đánh giá kết quả về số lần đại tiện, khả năng đại tiện tự chủ,
chức năng đại tiện sau phẫu thuật cải thiện rõ rệt và tốt hơn so với
phẫu thuật mở. Các biến chứng sau phẫu thuật nội soi như són phân,
táo bón, sa niêm mạc hậu môn… cũng thấp thấp hơn so với phẫu thuật
mở.
* Điều trị dị tật hậu môn trực tràng trong nước
Trước năm 2005, DTHMTT loại cao và còn ổ nhớp được phẫu
thuật đường bụng. Sau năm 2005, DTHMTT loại cao và còn ổ nhớp
được phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Nhi Trung ương và năm 2009
tại bệnh viện Nhi đồng 2. Hiện nay có rất ít báo cáo về phẫu thuật nội
soi điều trị DTHMTT loại cao và còn ổ nhớp.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn bệnh nhân
- Bệnh nhân ≥ 3 tháng tuổi bao gồm cả nam và nữ
- Tiêu chuẩn chẩn đoán: bệnh nhân bị dị tật hậu môn trực tràng loại
cao và ổ nhớp được chẩn đoán dựa vào:
7
+ Chụp đầu dưới HMNT có bơm thuốc cản quang thấy túi cùng trực
tràng nằm trên đường mu cụt (đường PC), có đường rò vào bàng
quang, niệu đạo tiền liệt tuyến, kênh chung ổ nhớp hoặc không có rò.
+ Soi kênh chung ổ nhớp có chiều dài > 2,5 cm.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Dị tật hậu môn trực tràng loại thấp và trung gian
- Mổ theo các đường mổ khác
kính 5 mm có rãnh xoắn ở thân hoặc không có rãnh xoắn, trô-ca
đường kính 3 mm, kẹp phẫu tích không có răng, kéo phẫu thuật, móc
chữ L, kìm kẹp clip, clip nhựa.
- Máy hút kiểu bơm áp lực, vừa hút vừa bơm rửa.
- Máy kích thích cơ
2.3.3. Kỹ thuật phẫu thuật
* Vô cảm
Bệnh nhân được gây mê có đặt nội khí quản, phối hợp với gây tê cùng
cụt.
* Tư thế bệnh nhân và thầy thuốc
- Bệnh nhân nằm ngửa theo chiều ngang bàn mổ, có độn mỏng dưới
mông sát đến rìa hậu môn để mông cao hơn đầu. Phẫu thuật viên
đứng phía đầu bệnh nhân, trợ thủ viên thứ nhất đứng bên phải phẫu
thuật viên, trợ thủ viên thứ hai đứng bên phải phía chân bệnh nhân.
* Kỹ thuật phẫu thuật
- Thì 1: đặt trô-ca
- Thì 2: phẫu thuật nội soi bóng trực tràng, cắt đường rò tiết niệu
hoặc đường rò vào kênh chung ổ nhớp.
- Thì 3: tạo hình hậu môn: tạo đường hầm qua trung tâm cơ thắt hậu
môn, hạ trực tràng xuống tạo hình hậu môn.
- Thì 4: Đóng các lỗ trô-ca
2.3.4. Chăm sóc sau phẫu thuật
Cho bệnh nhân ăn sau khi hậu môn nhân tạo ra phân, 2 tuần sau phẫu
thuật khám lại để nong hậu môn. Sau 3 tháng tới để đóng hậu môn
nhân tạo. Còn ổ nhớp thì sau 1 tuổi đến tạo hình âm đạo và niệu đạo.
2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1. Các chỉ tiêu nghiên cứu trước phẫu thuật:
- Một số đặc điểm lâm sàng, tiền sử, bệnh mẹ mắc lúc mang thai
- Kết quả cận lâm sàng: chụp đầu dưới HMNT, siêu âm, chụp niệu
đại bàng quang ngược dòng….
Tuổi
Số lượng
≤ 3 tháng
33
> 3 đến 5 tháng
25
Trên 5 tháng
3
Tổng
61
Nhận xét: Bệnh nhân được phẫu thuật trong độ tuổi ≤ 5 tháng chiếm tỉ
lệ cao nhất (95,1%).
Tỉ lệ
54,1
41,0
4,9
100
10
3.2. Kết quả lâm sàng
Có 35 trẻ (54,4%) có vết tích hậu môn phẳng, 25 trẻ (41%) có tiền
sử đái phân su, 50 bệnh nhân không hậu môn loại cao, 11 bệnh nhân
còn ổ nhớp.
3.3. Kết quả cận lâm sàng
Chụp đầu dưới HMNT có tới 63,9% bệnh nhân không thấy rò
sang hệ tiết niệu, 14,8% bệnh nhân có rò trực tràng bàng quang trên
phim chụp đầu dưới hậu môn nhân tạo, 18,0% bệnh nhân có rò vào ổ
nhớp.
76,7 ± 19,3
60
45
60
45
45
90
115
115
120
120
0.416
11
Nhận xét: Thời gian phẫu thuật trung bình của nhóm rò vào NĐ-TLT là
81,7 phút, của nhóm không rò là 73,6 phút. Sự khác biệt về thời gian phẫu
thuật trung bình giữa các thể loại dị tật không có ý nghĩa thống kê với
p>0,05
3.4.3. Phương pháp phẫu thuật
Tỉ lệ tạo hình hậu môn đơn thuần chiếm tỉ lệ rất cao tới 58 trường
hợp (95,1%), 3 trường hợp phải kết hợp đóng hậu môn nhân tạo do
đầu dưới hậu môn nhân tạo ngắn, không có trường hợp nào phải
chuyển mổ mở.
3.4.4. Tổn thương trong phẫu thuật
- Thể loại dị tật được xác định trong phẫu thuật: Vị trí rò trực tràng
niệu đạo tiền liệt tuyến chiếm tỉ lệ cao nhất với 34,4%, tỷ lệ rò bàng
nhân tạo cùng thời điểm với phẫu thuật nội soi tạo hình hậu môn), 53
bệnh nhân được theo dõi sau phẫu thuật với thời gian trung bình là
43,0 ± 16,2 tháng, ngắn nhất là 12 tháng, dài nhất là 77 tháng, Tuổi
trung bình của bệnh nhân là 46,4 ± 16,2 tháng tuổi, thấp nhất là 15
tháng tuổi, cao nhất là 81 tháng tuổi (6,75 tuổi).
3.6.1. Số lần đại tiện
13
Biểu đồ 3.6. Số lần đại tiện/ngày
Nhận xét: Bệnh nhân đi đại tiện 1 – 2 lần/ngày chiếm tỉ lệ cao tới
62,3%, chỉ có 2 bệnh nhân đại tiện 6 lần/ngày (3,8%) và 1,9% bệnh
nhân bị táo bón.
- Số lần đại tiện /ngày theo thể loại dị tật:
Số trẻ đi đại tiện 1 – 2 lần/ngày gặp chủ yếu ở trẻ còn ổ nhớp
với tỉ lệ 81,8%, rò trực tràng bàng quang là 60%, số trẻ đi ngoài ngày
5 – 6 lần chiếm tỷ lệ cao với 11,1%. Không có mối liên quan giữa thể
loại dị tật và số lần đại tiện/ngày với p > 0,05
- Số lần đại tiện /ngày theo thời gian theo dõi sau phẫu thuật
Số trẻ đi đại tiện 1 – 2 lần/ngày gặp chủ yếu ở trẻ có thời gian
theo dõi sau phẫu thuật ≥ 36 tháng chiếm 75%, số trẻ đi đại tiện từ 5
– 6 lần/ngày ở trẻ dưới 36 tháng tuổi chiếm tỷ lệ cao với 15,4%. Mối
liên quan giữa số lần đại tiện/ngày theo thời gian theo dõi sau phẫu
thuật có ý nghĩa thống kê với p
quang và rò trực tràng NĐ – TLT. Không có mối liên quan giữa són
phân và thể loại dị tật với p > 0,05
- Liên quan giữa són phân và thời gian theo dõi sau phẫu thuật
Tỷ lệ không són phân ở trẻ có thời gian theo dõi sau phẫu thuật ≥
36 tháng cao 72,5%, tỷ lệ són phân thường xuyên ở trẻ có thời gian theo
dõi sau phẫu thuật < 36 tháng chiếm 7,7%. Mối liên quan giữa són phân
và thời gian theo dõi sau phẫu thuật có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
- Liên quan giữa són phân và tuổi bệnh nhân lúc kiểm tra
Tỷ lệ không són phân ở trẻ có thời gian theo dõi sau phẫu thuật ≥
36 tháng cao 73,2%, tỷ lệ són phân thường xuyên ở trẻ có thời gian theo
dõi sau phẫu thuật < 36 tháng chiếm 8,3%. Mối liên quan giữa són phân
và tuổi bệnh nhân lúc kiểm tra có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.6.3. Khả năng kiểm soát đại tiện với những bệnh nhân ≥ 3 tuổi
- Khả năng kiểm soát đại tiện tại thời điểm kết thúc nghiên cứu
Bảng 3.30. Khả năng kiểm soát đại tiện
Kiểm soát đại tiện
Số lượng
Tỷ lệ %
Kiểm soát hoàn toàn
33
80,5
Kiểm soát không hoàn toàn 8
19,5
Tổng
41
100
Nhận xét: Khả năng kiểm soát đại tiện hoàn toàn chiếm tỉ lệ cao tới
80,5%, tăng theo thời gian và độ tuổi của bệnh nhân
- Liên quan giữa kiểm soát đại tiện và tuổi phẫu thuật.
Khả năng kiểm soát đại tiện hoàn toàn ở nhóm tuổi phẫu thuật
trực tràng bàng quang với 6,7%. Không có mối liên quan giữa chức
năng đại tiện theo thể loại dị tật với p > 0,05
- Liên quan giữa chức năng đại tiện theo thời gian theo dõi sau mổ
Chức năng đại tiện tốt của thời gian theo dõi sau mổ trên 36
tháng là 77,5%, dưới 36 tháng là 76,9%. Không có mối liên quan
giữa chức năng đại tiện và thời gian theo dõi sau mổ với p > 0,05
- Liên quan giữa chức năng đại tiện theo tuổi bệnh nhân tại thời điểm
khám: Chức năng đại tiện tốt của tuổi bệnh nhân lúc đến khám ≥ 36
tháng là 78,1%, dưới 36 tháng là 75%. Không có mối liên quan giữa
chức năng đại tiện và tuổi bệnh nhân tại thời điểm khám với p > 0,05
3.6.6. Chức năng tiểu tiện
98,1% bệnh nhân không bị rối loạn tiểu tiện như són tiểu, tiểu
tiện không tự chủ hoặc đi tiểu khó khăn. Có 1 bệnh nhân (1.9%) bị
rối loạn tiểu tiện do có van niệu đạo sau phát hiện muộn gây nên
bàng quang thần kinh.
3.6.7. Khả năng cương dương vật ở trẻ nam
17
Có 100% trẻ trai có khả năng cương dương vật vào buổi sáng
sau khi ngủ dậy, trước khi đi tiểu.
3.6.8. Chụp niệu đạo bàng quang ngược dòng
Tất cả 53 bệnh nhân đến khám lại được chụp niệu đạo bàng
quang ngược dòng không có bệnh nhân nào có túi thừa niệu đạo.
Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị dị tật hậu
môn trực tràng loại cao và ổ nhớp
4.1.1. Một số đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
- Đặc điểm về giới, tuổi và tiền sử sản khoa
Endo (1999) thì tỉ lệ dị tật kết hợp là 45,2%. Dị tật thường kết hợp 1
hoặc nhiều dị tật, bao gồm các dị tật ở đường tiêu hóa, tiết niệu, tim
mạch, hệ thần kinh trung ương. xuất hiện ở hệ tim mạch, hệ tiêu hóa,
hệ tiết niệu sinh dục, thần kinh.
4.1.2. Một số vấn đề ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị dị tật hậu
môn trực tràng loại cao và ổ nhớp
- Chuẩn bị bệnh nhân
Chuẩn bị trước mổ khác nhau giữa các tác giả nhưng điểm
chung nhất là thụt tháo sạch đầu dưới hậu môn nhân tạo trước phẫu
thuật. Theo Tong (2011), Jung (2013) chuẩn bị trước phẫu thuật gồm
thụt tháo sạch đầu dưới hậu môn nhân tạo bằng nước muối sinh lí
ấm, dùng kháng sinh đương tĩnh mạch trước mổ 3 ngày.
Tư thế bệnh nhân: Bệnh nhân được gây mê toàn thể, nằm
ngang ở giữa bàn phẫu thuât, đầu hướng về phía phẫu thuật viên,
mông hướng về phía màn hình có độn dưới mông theo tư thế nằm
ngửa đầu thấp, mông cao.
- Thì phẫu thuật nội soi
Vị trí đặt troca
Theo Georgeson, 1 troca ở vị trí dưới sườn phải trên rốn 3cm
để đưa ống soi vào, 1 troca đặt ở đường giữa trên rốn 2cm, 1 troca
đặt ở bên trái cách rốn 2cm, troca thứ 4 đặt ở hạ vị phía bên trái.
Chúng tôi sử dụng 4 troca nhưng vị trí đặt troca có cải tiến
khác hơn so với của Goergeson. Chúng tôi đặt 1 troca 5mm ở rốn để
đưa ống soi vào (sau này hầu như không thấy sẹo ở rốn), 2 troca
5mm đặt ở hạ sườn hai bên thấp hơn rốn 1cm và cách rốn 3cm, troca
thứ 4 (3mm) đặt ở vị trí hạ vị bên phải. Sau năm 2010, chúng tôi chỉ
sử dụng 3 troca cho 42 bệnh nhân và troca thứ 4 chúng tôi thay bằng
cách khâu 1 mũi chỉ từ ngoài thành bụng vào để khâu treo nếp gấp
chính giữa cơ thắt và có thể kết hợp để cắt, thắt đường rò qua đường
hầm.
- Thì tạo hình hậu môn
Đặt 1 troca 10 mm qua đường hầm vào ổ bụng, dùng panh nội
soi đưa qua troca vào ổ bụng, dưới hướng dẫn của camera nội soi,
20
cặp túi cùng trực tràng và kéo trực tràng xuống qua đường hầm trung
tâm cơ thắt. Tiến hành kéo căng trực tràng và khâu thanh cơ thành
trực tràng với cơ thắt hậu môn xung quanh, khâu thành trực tràng vào
da ở 4 góc chữ thập bằng chỉ PDS 5/0, cắt phần vạt da thừa đủ khâu
thành trực tràng và da xung quanh hậu môn. Georgeson và một số tác
giả khác chủ động khâu thành trực tràng cố định vào cân trước
xương cùng nhằm chủ động phòng tránh sa niêm mạc trực tràng.
- Kết quả của cuộc phẫu thuật
Thời gian cuộc phẫu thuật trung bình là 76,7 ± 19,3 phút (từ 45 phút
đến 120 phút). Thời gian phẫu thuật khác biệt không có ý nghĩa giữa
độ tuổi phẫu thuật và thể loại dị tật.
Hay đã phẫu thuật nội soi cho 12 bệnh nhân có tuổi từ 3 đến 9
tháng bị rò trực tràng – bàng quang và rò trực tràng – niệu đạo tiền
liệt tuyến, thời gian phẫu thuật trung bình là 110 phút (từ 90 đến 120
phút). Thời gian phẫu thuật trung bình cho 5 bệnh nhân nữ bị không
hậu môn rò trực tràng âm đạo với độ tuổi trung bình là 21,4 tháng
của Bailez là 231 phút (từ 180 đến 285 phút. Jung và cộng sự phẫu
thuật nội soi cho 25 bệnh nhân nam bị dị tật hậu môn trực tràng có 16
bệnh nhân rò vào NĐ-TLT, 6 bệnh nhân rò vào bàng quang và 3 bệnh
nhân rò vào niệu đạo hành với độ tuổi trung bình là 2,7 ± 1,4 tháng,
thời gian phẫu thuật trung bình là 3,9 ± 1,3 giờ.
4.2. Đánh giá kết quả điều trị dị tật hậu môn trực tràng loại cao
gian nằm viện trung bình của phẫu thuật nội soi ngắn (11,3 ± 2,1
ngày) so với mổ mở (14,6 ± 2,3 ngày).
4.2.3. Kết quả theo dõi lâu dài
- Chức năng đại tiện
* Số lần đại tiện/ ngày: Kết quả theo dõi đánh giá số lần đại tiện tại
thời điểm theo dõi cho thấy số lần đại tiện/ngày cho thấy tỷ lệ bệnh
nhân đại tiện 1 – 2 lần/ngày chiếm tới 62,3%, có 32,1% bệnh nhân
đại tiện 3 – 4 lần/ngày và chỉ có 3,8% bệnh nhân đại tiện 5 – 6
lần/ngày. Nghiên cứu của Lin và cộng sự cho thấy bệnh nhân sau
phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mổ mở thì số lần đại tiện/ngày
không có sự khác biệt.
* Táo bón:
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ táo bón thấp chỉ có 1
trường hợp táo bón kéo dài và đang điều trị bằng thuốc, thay đổi chế
độ ăn và tập thói quen đi ngoài đúng giờ có tiến triển nhưng chậm.
Nghiên cứu của Holschneider và cộng sự cho thấy có 9,8% bệnh
nhân bị dị tật hậu môn trực tràng loại cao, 11,1% bệnh nhân bị dị tật
loại trung gian, 5,4% bệnh nhân bị dị tật loại thấp bị táo bón thường
xuyên và nặng. ngoài ra, còn có 34,1% bệnh nhân bị dị tật loại cao,
22
38,9% bệnh nhân bị dị tật loại trung gian, và 17,9% bệnh nhân bị dị
tật loại thấp có táo bón nhẹ và đáp ứng tốt với điều trị bảo tồn và
tổng tỷ lệ táo bón là 37% . Tỷ lệ táo bón này cũng có liên quan đến
đường mổ, đường sau trực tràng trước xương cùng của Pena có
10,4% trẻ, đường bụng kết hợp đường sau trực tràng của Pena có
9,5% trẻ và chỉ có 3,6% trẻ bị dị tật loại thấp có táo bón thường
xuyên và nặng
* Són phân:
46,2% và loại tốt là 15,4% so sánh với phẫu thuật mổ mở thì loại tốt
là 14,3%, loại trung bình là 85,7% và không có loại kém. Kết quả
này cho thấy chức năng đại tiện sau phẫu thuật nội soi tốt hơn phẫu
thuật đường sau trực tràng, mặc dù chức năng đại tiện giữa hai nhóm
phẫu thuật không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
- Biến chứng:
* Sa niêm mạc trực tràng:
Trong các báo cáo về tỷ lệ sa niêm mạc trực tràng sau phẫu
thuật nội soi thì tỷ lệ này thấp hơn so với phẫu thuật mổ mở và tỷ lệ
sa niêm mạc trực tràng trong khoảng từ 0% - 56%. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, tỷ lệ sa niêm mạc trực tràng là 18,9%, với tỷ lệ này
cũng tương tự với nghiên cứu của Iwanaka, Yang. Theo Belizon, việc
phòng tránh sa niêm mạc sau phẫu thuật cần chú ý tới 3 bước quan
trọng. Thứ nhất là khâu đính trực tràng vào phức hợp cơ thắt hậu
môn, thứ hai là làm nhỏ bớt bóng trực tràng vì trực tràng giãn có thể
gây sa niêm mạc trực tràng và cuối cùng là khâu kéo căng trực tràng
lên trên tạo ra hậu môn hơi bị lõm vào trong cũng làm giảm sa niêm
mạc.
* Hẹp miệng nối:
Tỉ lệ hẹp miệng nối cũng khác nhau giữa các tác giả và giữa
các phương pháp phẫu thuật, tỷ lệ này từ 0% - 37,8%. Trong nghiên
cứu, tỷ lệ hẹp lỗ hậu môn là 3,8%, nguyên nhân chủ yếu là do cơ địa
bệnh nhân bị sẹo lồi gây cứng miệng nối và việc nong hậu môn sau
phẫu thuật tạo hình hậu môn của gia đình bệnh nhân không theo
đúng qui trìnhNhững bệnh nhân bị hẹp miệng nối được phẫu thuật lại
tạo hình Y – V và cho kết quả sau mổ tốt hơn.
* Túi thừa niệu đạo sau phẫu thuật tạo hình cũng là biến chứng cần
phải phẫu thuật lại để cắt túi thừa nhằm làm giảm các biến chứng
khác của hệ tiết niệu như nhiễm trùng đường tiết niệu gây trào ngược
bàng quang niệu quản. Tỷ lệ túi thừa trong phẫu thuật đường sau trực
mạc, đồng thời ruột nhu động trở lại sớm sau phẫu thuật nên trẻ có
thể được ăn sớm khi hậu môn nhân tạo ra phân.
Phẫu thuật nội soi có thể cho phép phẫu thuật viên chủ động
phẫu tích mạch máu để tránh trường hợp mạch máu bị căng gây hoại
tử trực tràng.
Chủ động quan sát được đoạn trực tràng đưa xuống qua đường
hầm cơ thắt để tạo hình hậu môn tránh bị xoắn ruột.
Phẫu thuật nội soi là phương pháp tối ưu bảo toàn được toàn bộ
cơ thắt, tránh làm tổn thương hệ thống cơ thắt hậu môn, làm giảm
25
các biến chứng thường gặp của phẫu thuật tạo hình hậu môn bằng
các phương pháp khác như són phân, táo bón…. Do đo, khả năng đại
tiện chủ động của trẻ được tăng lên, khả năng học tập, kết bạn và hòa
nhập với xã hội của trẻ được dễ dàng hơn.
* Nhược điểm
Vấn đề đầu tiên của phẫu thuật nội soi là phải trang bị những
dụng cụ trang thiết bị hiện đại, đắt tiền.Tuy nhiên, hiện nay dụng cụ
trang thiết bị của phẫu thuật nội soi giá thành đã giảm rất nhiều nên
được áp dụng rộng rãi.
Với những trẻ nhỏ thì có thể có ảnh hưởng trong lúc phẫu thuật
do tác dụng của khí CO2 khi bơm vào ổ bụng có thể gây rối loại về
hô hấp và khí máu. Nhưng hiện nay cũng đã có nhiều nghiên cứu về
vấn đề này nhưng mức độ ảnh hưởng của việc bơm khí CO2 vào ổ
bụng hầu như không ảnh hưởng gì tới trẻ sau khi được phẫu thuật.
Phẫu thuật viên phải được đào tạo cơ bản và thực hành thuần
thục về phẫu thuật nội soi nhi, đặc biệt là phẫu thuật nội soi tiêu hóa,
hậu môn – trực tràng.
Phẫu thuật nội soi chỉ được áp dụng tại các trung tâm phẫu