1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị vật thực quản là những vật mắc lại ở thực quản, từ miệng thực quản
tới tâm vị, gây cản trở quá trình nuốt và gây ra các biến chứng nguy hiểm.
Dị vật thực quản là cấp cứu thường gặp trong Tai Mũi Họng, sẽ ảnh
hưởng đến sức khỏe và nguy hiểm tính mạng bệnh nhân nếu không được
chẩn đoán và xử trí kịp thời.
Dị vật thực quản giai đoạn biến chứng là khi dị vật gây tổn thương
viêm nhiễm tại thành thực quản hoặc áp xe quanh thực quản và các cơ quan
lân cận. Việc điều trị các biến chứng này rất khó khăn, mất nhiều thời gian,
tốn kém và có thể tử vong.
Ở Việt Nam, hiện nay, mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và
điều trị dị vật thực quản; tuy nhiên, biến chứng do dị vật thực quản còn gặp với
tỷ lệ khá cao, tùy các nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ khoảng 15-30% [1],[2],[3]. Dị
vật thực quản biến chứng thường gặp ở người lớn, bản chất dị vật chủ yếu là
xương động vật như: Xương cá, xương gà, xương lợn [1],[2],[3]. Tỷ lệ dị biến
chứng của dị vật thực quản theo Võ Thanh Quang ở người lớn gặp 69,55% [4];
theo Vũ Trung Kiên ở người lớn gặp 76,5% [5], xương động vật chiếm 96,3%;
Nguyễn Sơn Hà người lớn chiếm 86%, xương động vật 96% [6].
Ở nước các nước châu Âu, dị vật thực quản chủ yếu ở trẻ em dưới 6 tuổi,
thường dị vật là đồng xu, đồ chơi. Ở người lớn dị vật thường là răng giả, thịt,
xương động vật ít gặp hơn [7],[8],[9],[10]. Theo Rybojad B., năm 2012, Ở
Mỹ hàng năm có khoảng 100.000 trường hợp dị vật thực quản, trong đó có
khoảng 1500 trường hợp tử vong do biến chứng dị vật thực quản gây ra
[11]. Trong khi các nước Á Đông có tình hình dị vật thực quản tương tự
Việt Nam [12],[13],[14].
2
dạ dày [15].
- Năm 1868, Kessmaul sử dụng ống soi tiết niệu để soi thực quản (TQ) [6].
- Với phát minh nguồn sáng vào năm 1778 của Thomas Edison, năm
1881, Leiter đã ứng dụng vào soi TQ [15] .
- Năm 1890, Mac K. sử dụng ống soi TQ lấy dị vật (DV) và sau đó được
cải tiến bởi Ingals Moshes Jackson [15].
- Năm 1891, Gottstei đã sử dụng cocaine để gây tê tại chỗ và đến năm
1897, G.Kilian lần đầu tiên lấy DV bằng ống nội soi TQ [15].
- Năm 1905, Chevalier-Jackson đã đề xướng và sử dụng ống nội soi có
nguồn sáng ở đầu tận ống soi [15].
- Năm 1962, Robinson sử dụng papain, là một enzym giúp tiêu hóa
protein để làm tiêu DVTQ, phương pháp này chỉ sử dụng khi không có điều
kiện hoặc chống chỉ định soi thực quản, niêm mạc thực quản không tổn
thương, không có xương [16].
- Năm 1972, Morrissey đã thực hiện lấy DV bằng ống soi mềm [15].
- Năm 1987, Rubin S.Z và cộng sự (cs) đã thực hiện lấy DV bằng sonde
Foley dưới sự kiểm soát của chất nhuộm huỳnh quang [17].
- Năm 1998, Al-Qudah A, Daradkeh S, Abu-Khalaf M đã dùng sonde Foley
để lấy DVTQ cho 25 trường hợp và thành công 21/25 trường hợp, chiếm 84% [18].
- Năm 2005, Sankinsi U. và cs đã đưa ra kỹ thuật mở TQ để lấy DVTQ khi
DV quá lớn không thể lấy qua nội soi [15].
4
Năm 2013, Wang C. và Chen P. sử dụng dụng cụ nội soi có hai đường
dẫn, bên phải có đường dẫn bơm bóng, bên trái có đường đưa dụng cụ gắp
DV [19].
Năm 2014, Abdurehim Y. và cs lấy DV có hình dạng tù trong TQ ở trẻ
em bằng sonde Foley [20].
- Năm 2002, Lưu Vân Anh nghiên cứu tình hình biến chứng của DVTQ
tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ 1/1998 - 10/2002 [3].
- Năm 2004, Trần Phan Chung Thủy và cộng sự báo cáo nhân 6 trường
hợp mở cạnh cổ lấy DVTQ, chỉ định mở cạnh cổ khi DV quá lớn không lấy ra
bằng đường nội soi được, DV đâm xuyên ra ngoài TQ, DVTQ đâm thủng TQ
và đã có áp xe quanh TQ [22].
- Năm 2010, Trần Thanh Hải nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả
điều trị DVTQ bằng ống soi mềm tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ
4/2007 - 2/2010 [23].
- Năm 2012, Nguyễn Sơn Hà nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
DVTQ giai đoạn biến chứng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương [6].
- Năm 2014, Trần Việt Hồng và cs nhận xét tình hình DVTQ và kết quả
điều trị tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định [24].
1.2. GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG
1.2.1. Giải phẫu thực quản
1.2.1.1. Giải phẫu mô tả thực quản
- TQ là một ống cơ - niêm mạc nối liền hạ họng với dạ dày, nửa trên dẹt
theo chiều trước sau, nửa dưới hơi tròn. Vì cấu tạo như vậy nên ảnh hưởng tới
chiều mắc của DV trong TQ.
- Giới hạn [25]:
+ Trên: là miệng TQ, tương ứng ở phía trước với bờ dưới sụn nhẫn, ở
phía sau ngang tầm đốt sống cổ 6 nếu đầu thẳng.
6
+ Dưới: tận hết ở lỗ tâm vị của dạ dày, ngang sườn trái của đốt sống
ngực 11.
- Đường đi: TQ có hướng chung từ trên xuống dưới và chếch sang trái,
bắt đầu ở cổ, liên tiếp với họng, TQ chạy xuống dọc theo mặt trước cột sống,
Khoảng cách nội soi từ cung răng trên cung răng trên đến các vị trí hẹp
tự nhiên của TQ như sau [28]:
Quai động Phế quản
Lỗ cơ
quản
mạch chủ
gốc trái
Sơ sinh
7 cm
12 cm
13 cm
1
9 cm
14 cm
15 cm
3
10 cm
15 cm
16 cm
6
11 cm
16 cm
18 cm
10
12 cm
17 cm
20 cm
14
34 cm
40 cm
Miệng thực quản:
- Giới hạn trước là 1/2 dưới của sụn nhẫn.
- Phía sau miệng TQ được phủ bởi một lớp cân rất dai, nối liền hai bên
miệng TQ đến cột sống. Trong lá cân có các thớ cơ tạo thành miệng TQ, có
hướng chéo lên trên và ra sau ở ngang tầm họng, hướng chéo xuống dưới và
ra sau ở ngang tầm TQ. Các sợi cơ có hướng khác nhau này tạo nên một
khoảng hình thoi ở giữa có các sợi ngang của cơ siết họng dưới. Đây chính là
điểm yếu của miệng TQ. Các thớ cơ cùng sụn nhẫn tạo thành một vòng cơ
sụn, đó là miệng TQ.
Đoạn thực quản cổ [25]: từ miệng TQ tới bờ dưới của D2, dài 5-6cm.
- Phía trước: liên quan với khí quản. TQ dính vào thành màng của khí
quản bởi mô liên kết lỏng lẻo. Các thần kinh thanh quản quặt ngược chạy lên
trong rãnh giữa khí quản và TQ.
- Phía sau: liên quan với cột sống cổ, cơ dài cổ và lá trước sống của mạc cổ.
- Hai bên: liên quan với phần sau thùy bên tuyến giáp và bó mạch thần
8
kinh cổ (gồm động mạch cảnh gốc, tĩnh mạch cảnh trong và thần kinh X, cả 3
thành phần này nằm trong bao cảnh). Riêng bên phải có dây thần kinh quặt
ngược phải đi sát bờ TQ.
Ở đoạn này, TQ được bao quanh bởi một mô liên kết rất lỏng lẻo cho
Hình 1.1: Liên quan giải phẫu của thực quản [29]
Đoạn thực quản hoành: là phần TQ chui qua lỗ cơ hoành. Lỗ TQ của cơ
hoành nằm phía trước và trên hơn so với lỗ động mạch chủ. TQ được cột chặt
vào cơ hoành bởi các sợi cơ và tổ chức liên kết tạo thành vòng đai quây quanh
lấy đoạn hoành và đoạn bụng [25].
Đoạn thực quản bụng: dài khoảng 2 cm, chạy hơi lệch sang trái, có hình nón
mà đáy của nó liên tiếp với lỗ tâm vị của dạ dày [25].
- Phía trước: có phúc mạc phủ. TQ nằm trong một rãnh ở mặt sau của
thùy gan trái (gọi là rãnh TQ).
- Phía sau: TQ nằm đè lên trụ trái của cơ hoành và qua cơ hoành liên
quan với động mạch chủ.
- Bờ trái: có dây chằng tam giác trái của gan dính vào. Ngay trên lỗ tâm
vị, TQ ngăn cách với đáy vị bởi khuyết tâm vị.
- Bờ phải: có phần trên bờ vị của mạc nối nhỏ dính vào.
10
1.2.1.3. Cấu tạo mô học thành thực quản
Thành TQ có chiều dày 3 mm khi TQ rỗng, được cấu tạo bởi 3 lớp [30]:
- Lớp cơ: dày và được cấu tạo bởi các bó sợi cơ vân bao quanh họng. Ở
1/4 trên của TQ, các bó sợi này lẫn với các sợi cơ trơn. Khi xuống dưới, các
sợi cơ trơn tăng dần lên và tạo nên toàn bộ lớp cơ của TQ ở 3/4 dưới. Ở tâm
vị, các sợi cơ vân lại xuất hiện, hình thành cơ thắt tâm vị.
- Ở trên là nền cổ, có thể coi là một bình diện cắt qua xương sườn I ở
phía trước và bờ trên thân D1 ở phía sau.
- Ở dưới ngăn cách với ổ bụng bởi cơ hoành.
- Hai bên là mặt trung thất của màng phổi.
Trung thất được chia thành 2 phần bởi một mặt phẳng ngang qua góc ức ở
phía trước và khe gian đốt sống ngực IV và V ở phía sau [25]:
- Trung thất trên là khoang nằm giữa hai ổ màng phổi, phía trước được
giới hạn bởi cán xương ức, phía sau là mặt trước thân 4 đốt sống ngực trên.
- Trung thất dưới là khoang nằm giữa hai phần trung thất của màng phổi
thành, phía trước giới hạn bởi thân xương ức, phía sau là mặt trước cột sống
ngực (kể từ đốt sống ngực V). Trung thất dưới lại được chia thành 3 phần:
+ Trung thất trước: là khe hẹp nằm giữa thân xương ức ở phía trước và
ngoại tâm mạc ở phía sau. Ở trên ngang mức các sụn sườn IV. Trong trung
thất trước có mô liên kết lỏng lẻo, dây chằng ức-màng ngoài tim, hạch bạch
huyết và các nhánh trung thất của động mạch ngực trong. Nhiễm trùng hay
một ổ mủ ở cổ có thể lan theo đường nền cổ vào trung thất trước và từ đó lan
ra toàn bộ trung thất.
+ Trung thất giữa: ở phía sau trung thất trước và phía trước mặt phẳng
tưởng tượng qua mặt sau khí phế quản. Trong trung thất giữa có tim, màng
ngoài tim và các mạch máu lớn.
+ Trung thất sau: là một khe hẹp được giới hạn bởi:
Phía trước là mặt phẳng tưởng tượng đứng ngang qua mặt sau khí phế
quản. Phía sau là cột sống ngực, từ đốt sống ngực V tới đốt sống ngực XII.
12
Hai bên là phần trung thất của màng phổi thành.
Viêm tấy-áp xe quanh TQ cổ và viêm tấy-áp xe trung thất [31]:
Một áp xe thành TQ rất dễ làm thủng TQ, mủ sẽ lan rộng và vào mô liên
kết. Ổ mủ có thể lan theo khoảng Henké xuống khoảng sau tạng của trung thất
13
sau. Ngoài ra, mủ lan xuống được còn do trọng lực, do tư thế đứng của BN,
do động tác nuốt, do áp lực âm trong trung thất ở thì thở vào. Nếu xảy ra ở
vùng TQ cổ sẽ gây viêm tấy quanh TQ cổ hoặc áp xe cạnh cổ. Nếu ở vùng TQ
ngực sẽ gây viêm tấy hoặc áp xe trung thất.
Biến chứng phổi-màng phổi và rò thực quản-hô hấp [31]:
Thủng TQ do DV và viêm trung thất có thể dẫn đến các biến chứng phổimàng phổi như thủng màng phổi gây tràn khí màng phổi, viêm màng phổi
mủ... hoặc gây ra các đường rò thực quản-hô hấp như rò thực quản-khí quản,
rò thực quản-phế quản ...
Tổn thương mạch máu lớn [31]
Dị vật sắc nhọn có thể làm thủng động mạch như động mạch cảnh gốc,
thân động mạch cánh tay đầu hoặc động mạch chủ. Đôi khi cũng có thể gây
vỡ thành mạch thứ phát do hiện tượng viêm lan rộng tới thành động mạch,
gây hoại tử thành động mạch, làm vỡ mạch máu lớn gây suy tuần hoàn cấp.
1.4. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA BIẾN CHỨNG
DO DỊ VẬT THỰC QUẢN
1.4.1. Những điều kiện thuận lợi gây mắc dị vật thực quản
+ Chụp phim X quang cổ nghiêng có thể thấy hình ảnh DV cản quang
ở đoạn TQ cổ.
+ Chụp phim X quang phổi thẳng có thể thấy DV kim loại ở đoạn TQ
ngực.
1.4.2.2 Giai đoạn biến chứng
Viêm tấy hoặc áp xe thành thực quản [32],[33]:
- Toàn thân: sốt nhẹ hoặc vừa, có thể sốt cao.
- Cơ năng: đau cổ hoặc đau ngực, đặc biệt đau tăng lên khi nuốt khiến
BN không ăn uống được.
- Thực thể: ấn máng cảnh có điểm đau nếu là DV ở TQ cổ, dấu hiệu lọc
cọc thanh quản cột sống (LCTQCS) giảm hoặc mất.
15
- Chụp phim X quang cổ nghiêng: có thể thấy DV cản quang, dày
phần mềm trước cột sống cổ.
Hình 1.2: Hình ảnh DVTQ và dày phần mềm trước cột sống cổ
trên phim X quang cổ nghiêng [34]
Viêm tấy hoặc áp xe quanh thực quản cổ [32],[33]:
Dị vật làm thủng TQ cổ, qua lỗ thủng này, mủ thoát ra khỏi TQ gây ra
viêm tấy mô liên kết quanh TQ và mô liên kết cạnh cổ.
- Toàn thân: sốt cao, hội chứng nhiễm trùng rõ rệt, toàn trạng suy kiệt.
trung thất.
17
Biến chứng phổi-màng phổi [32],[33]:
Dị vật có thể đâm xuyên qua thành TQ, thủng màng phổi gây viêm màng
phổi mủ hoặc từ viêm trung thất dẫn đến viêm màng phổi mủ:
- Sốt cao.
- Đau ngực, khó thở.
- Khám phổi có hội chứng 3 giảm.
- Chụp X quang phổi thẳng có hình ảnh tràn dịch màng phổi.
Chọc dò màng phổi có mủ.
Hình 1.4: Hình ảnh nội soi, xương gà xuyên thực quản [36]
Hình 1.5: Hình ảnh dị vật xuyên thành thực quản và nhu mô phổi [36]
18
Tổn thương các mạch máu lớn [32],[33]:
Dị vật nhọn, sắc đâm thủng thành TQ và chọc trực tiếp vào các mạch máu
lớn hoặc quá trình viêm hoại tử lan đến làm vỡ các mạch máu lớn như: Động
mạch cảnh trong, thân động mạch cánh tay đầu phải, quai động mạch chủ. Dấu
1.4.3.2. Chẩn đoán phân biệt dị vật thực quản giai đoạn biến chứng [32]
- Hóc giả: còn gọi là loạn cảm họng. BN có cảm giác nuốt đau, nuốt
vướng nhưng không sốt, vẫn ăn uống bình thường, chụp phim không thấy
hình ảnh DV, không thấy hình ảnh dày phần mềm trước cột sống cổ.
- Dị vật đã trôi đi: thực chất BN có bị hóc xương nhưng xương đã trôi đi,
để lại vết loét nên BN ăn uống cảm thấy đau. Vết loét có thể tự lành nhưng có
khi nhiễm trùng tạo thành ổ viêm tấy hoặc áp xe. Chụp phim không thấy hình
ảnh DV nhưng có thể thấy dày phần mềm trước cột sống cổ hoặc ổ áp xe.
- Khối u TQ: cảm giác chủ yếu là nuốt vướng, nuốt nghẹn, không sốt
nhưng thể trạng gầy sút. Nội soi thấy u trong lòng TQ.
- Áp xe cạnh cổ do một số nguyên nhân khác như: áp xe tuyến giáp, áp
xe rò xoang lê, áp xe hạch cổ, áp xe do răng ...
1.5. ĐIỀU TRỊ DỊ VẬT THỰC QUẢN GIAI ĐOẠN BIẾN CHỨNG
1.5.1. Điều trị ngoại khoa lấy dị vật thực quản
1.5.1.1. Soi thực quản gắp dị vật
Nếu DV chưa chọc thủng TQ thì soi gắp DV là biện pháp tốt nhất. Trước
khi soi cần khám kỹ toàn thân BN, hồi sức tốt, tiền mê và giảm đau chu đáo.
Nếu viêm tấy hoặc áp xe thành TQ: soi TQ gắp DV đồng thời hút mủ ổ viêm
trong lòng TQ [37].
Soi thực quản bằng ống soi kiểu Chevalier-Jackson:
Dùng ống soi kiểu Chevalier-Jackson có ưu điểm là có cảm giác tay khi
chạm vào tổn thương hoặc dị vật và có thể kiểm tra bằng mắt nhìn trực tiếp.
Tuy nhiên, phương pháp này lại có nhược điểm là thao tác khó khăn, gây
nhiều khó chịu cho BN, không thực hiện được trong trường hợp BN có dị tật
giải phẫu của hàm miệng hay của đốt sống cổ làm cho BN khó há miệng hoặc
không nằm được ở tư thế Boyce, dễ xảy ra tai biến thủng TQ, gãy răng...
20
lý do sau: thực hiện dễ dàng, BN không lo sợ, ít đau, không bị kích thích,
lấy DV theo đường tự nhiên dễ dàng hơn và ít tai biến hơn.
Kỹ thuật [31]:
- Bước 1: Tìm lưỡi gà, sụn thanh thiệt, sụn phễu
Phẫu thuật viên đứng ở phía đầu bệnh nhân, tay trái vén môi bệnh nhân,
tay phải cầm ống soi để gần như thẳng đứng, đi sát cung răng trên, lướt qua
khẩu cái đến lưỡi gà, đó là mốc giải phẫu thứ nhất. Khi đến lưỡi gà, phẫu
21
thuật viên hạ thấp đuôi ống soi làm cho ống soi đi bám sát thành sau họng.
Đẩy ống từ từ để quan sát thanh thiệt: đây là mốc giải phẫu thứ hai. Khi nhìn
thấy thanh thiệt sẽ tìm thấy hai sụn phễu ở phía sau và dưới nó. Sụn phễu là
mốc giải phẫu rất quan trọng, thầy thuốc dùng đầu ống soi vén nếp liên phễu
lên và tức khắc nhìn thấy ngay nếp niêm mạc miệng TQ. Miệng TQ có hình
giống như một khe gấp nằm ngang, hơi ngoằn ngoèo dài độ 15mm.
- Bước 2: Chui qua miệng thực quản
Đây là giai đoạn khó khăn nhất và nguy hiểm nhất. Nếu thấy miệng TQ
mở, ta cứ tiếp tục đẩy ống soi vượt qua. Nếu miệng TQ đóng kín, chúng ta phải
đợi nó mở ra. Khi đóng kín, miệng TQ giống một đường ngang nằm ngoằn
ngoèo. Qua khỏi miệng TQ thấy nếp niêm mạc lòng TQ xuất hiện và ống soi đi
một cách nhẹ nhàng, niêm mạc lòng TQ có màu hồng nhạt.
- Bước 3: Soi thực quản ngực
Tiếp tục đẩy ống soi xuống từng cm một và giữ cho đầu ống soi luôn nhìn
thẳng vào lòng TQ. Khi đến quai động mạch chủ, ta thấy thành TQ bên trái đập
theo nhịp mạch. Dưới eo động mạch chủ là eo phế quản. Qua đoạn này, thành
- Bóc tách đi qua cân cổ nông, vén cơ ức đòn chũm và bó mạch cảnh ra ngoài.
- Bóc tách đi qua cân cổ giữa. Bộc lộ các cơ dưới móng, cắt phần trên cơ
vai móng. Có thể sẽ gặp vỏ của ổ áp xe. Khi đi qua lớp vỏ ổ áp xe, nếu có mủ
trào ra thì cấy mủ làm kháng sinh đồ, hút sạch mủ trước khi tiếp tục.
- Dùng Farabeuf kéo tuyến giáp vào trong, buộc và cắt các mạch máu
giáp trạng. Ở đáy hố mổ lúc này, ta sờ thấy các đốt sống cổ. Ngay trước các
đốt sống cổ, phía sau khí quản, ta thấy những sợi cơ dọc màu đỏ, đó là TQ.
- Khi tiếp cận khu vực gần TQ, phẫu thuật viên dùng ngón tay để khám
xét xem có chạm DV không. Đây là động tác cần thiết và rất hữu dụng để tìm
DV. Động tác cần nhẹ nhàng, không làm tổn thương thêm mô xung quanh.
- Nếu DV quá lớn, còn nằm trong TQ, hoặc DV đã đâm thủng TQ nhưng
còn nằm trong TQ thì phải rạch TQ. Rạch dọc, rạch đủ rộng để lấy DV. Khi gắp
23
DV ra khỏi lòng TQ thì phải hết sức nhẹ nhàng, xoay DV theo đúng chiều dễ ra
nhất, không làm rách, tổn thương thêm TQ.
- Rửa sạch hố mổ bằng oxy già, sau đó bằng Betadine pha loãng.
- Khâu vết thủng TQ 2 lớp nếu vết thủng là do rạch ra, tổn thương gọn và
xung quanh không bị nhiễm khuẩn.
- Khâu tái tạo mạch máu nếu có tổn thương thủng.
- Để hở vết mổ nếu có áp xe quanh TQ.
- Dẫn lưu ổ áp xe bằng mèche.
- Sau mổ đặt sonde mũi-dạ dày.
- Hậu phẫu: thay băng vết mổ hằng ngày, thay mèche mới nhỏ dần.
1.5.2.2. Phẫu thuật lồng ngực
- Áp xe trung thất: mở trung thất dẫn lưu.
- Viêm màng phổi mủ: chọc màng phổi hút mủ, bơm dung dịch kháng
sinh vào rửa hoặc mở màng phổi dẫn lưu mủ.
trí sớm. Không mặc cảm xấu hổ hoặc tin vào chữa mẹo, đến khám muộn để
đề phòng biến chứng do DVTQ [32],[33],[39].
25
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Những BN có các biến chứng do DVTQ, điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi
Họng Trung ương và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đọan từ 8/2016 7/2018, không phân biệt tuổi, giới, địa dư, nghề nghiệp.
Mẫu nghiên cứu: gồm 42 BN, trong đó có 31 BN tại Bệnh viện Tai Mũi
Họng Trung ương và 11 BN tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Có 19 bệnh án
nghiên cứu tiến cứu và 23 bệnh án nghiên cứu hồi cứu .
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Lâm sàng: BN có tiền sử hóc DV hoặc ăn thức ăn có xương, có triệu
chứng nuốt đau hoặc nuốt vướng khi vào viện.
- Cận lâm sàng:
+ Xét nghiệm máu gồm sinh hóa và huyết học đánh giá có tình trạng
nhiễm trùng.
+ Chẩn đoán hình ảnh có tối thiểu một trong các dấu hiệu sau:
•
Bệnh nhân được chụp X quang cổ nghiêng hoặc phim phổi thẳng thấy có
hình ảnh DV hoặc hình ảnh dày phần mềm trước cột sống cổ, mức nước mức
•
•
dịch trên phim.