Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị đục thủy tinh thể trên mắt có đồng tử kém giãn bằng phẫu thuật phaco - Pdf 37

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đục thủy tinh thể là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù
lòa ở nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới. Ở Việt Nam, tỷ lệ mù
lòa trong toàn dân số là 0,59% trong đó 66% là do đục thủy tinh thể.
Năm 1967, Charles D. Kelman là người đầu tiên trên thế giới mô tả
phương pháp điều trị đục thủy tinh thể sử dụng năng lượng siêu âm với đường
mổ nhỏ, được gọi là kỹ thuật phaco và được phát triển đến ngày nay. Sự ra
đời của kỹ thuật phaco là mốc lịch sử quan trọng trong sứ mệnh giải phóng
mù lòa trên toàn thế giới.
Kích thước đồng tử được xem là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng
đến kết quả của phẫu thuật. Đồng tử nhỏ là một thách thức đáng kể cho tất cả
phẫu thuật viên đục thủy tinh thể. Những trường hợp đồng tử nhỏ có nguy cơ
cao về các biến chứng như xé bao trước thất bại, vỡ bao sau, thoát dịch kính,
rơi nhân, mất tế bào nội mô và khả năng cố định IOL.
Đồng tử nhỏ thường được gây ra bởi nhiều nguyên nhân như dính sau
liên quan đến viêm màng bồ đào trước, chấn thương, phẫu thuật trước đó, tuổi
cao, đái tháo đường, hội chứng giả bong bao… .
Trước đây, các phương pháp khác nhau đã được đưa ra mở rộng kích
thước của đồng tử để tăng độ an toàn cho phẫu thuật. Graether phát triển kỹ
thuật bơm nhầy liên tục [8], Chang và Campbell đã báo cáo sử dụng móc
mống mắt trong những trường hợp đồng tử nhỏ do mất trương lực cơ mống
mắt. Malyugin đã đề xuất một phương pháp mở rộng mống mắt sử dụng vòng
mống mắt, rất hữu ích cho các trường hợp phẫu thuật đục thủy tinh thể đồng
tử kém giãn và dây zinn yếu.


2


mắt đều nhau có hình tròn đường kính 2 - 4mm.
Thông thường khi mắt điều chỉnh nhìn gần thì đồng tử thu hẹp lại.
Đồng tử thu hẹp do tác dụng của cơ thắt đồng tử hình vòng, dưới ảnh hưởng
của thần kinh vận động mắt (nhánh thần kinh III). Trong khi các sợi giãn nằm
theo hình nan hoa làm đồng tử nở ra do thần kinh giao cảm cổ chi phối. Sau
khi chiếu sáng khoảng 4 giây thì đồng tử co hẹp và sau khi làm tối khoảng 16
giây thì tình trạng giãn đồng tử mới chấm dứt. Đường kính đồng tử có thể co
giãn từ 2 - 8mm. Chính vì vậy mà võng mạc được bảo vệ khi gặp những
luồng sáng quá mạnh. Ngoài ra đồng tử còn hạn chế được những tia ở rìa,
đồng tử thu nhỏ cũng làm rõ nét thêm về chiều sâu như một máy ảnh [42].
1.1.2. Các nguyên nhân của đồng tử kém giãn
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đồng tử kém giãn, các nguyên nhân này
thường được thấy trong các bệnh lý về mắt phức tạp trước đó [36],[38], [16],[30].
Đồng tử ở những mắt có hội chứng giả bong bao (GBB) thường rất
kém giãndo sự lắng đọng của chất GBB trên đồng tử và mống mắt [4],[27],
[32]. Theo một số tác giả thì hiện tượng đồng tử kém giãn không rõ nguyên
nhân và sự tán rã sắc tố mống mắt tăng lên sau khi làm giãn đồng tử là một
dấu hiệu chỉ điểm để nghĩ đến hội chứng GBB [31],[27], [4].
Viêm màng bồ đào (MBĐ) dẫn tới đồng tử co, dính, không giãn .
Trong quá trình viêm nhiễm, mống mắt thường phản ứng theo xu thế co, dính


4

vào mặt trước TTT, thậm chí nhiều trường hợp đồng tử chỉ bé khoảng 0,5mm
và có màng xuất tiết che phủ. Mắt đã mổ cắt bè sau phẫu thuật glôcôm cũng là
nguyên nhân làmđồng tử kém giãn ,đặc biệt là glôcôm góc đóng do quá trình
tăng nhãn áp đột ngột, một trong những biến chứng của sự mất ổn định hàng
rào máu - mắt gây thiếu máu cục bộ, làm teo mống mắt từng phần. Ngoài ra
những chấn thương cơ học của phẫu thuật cắt bè củng - giác mạc cũng làm

Mống mắt là tổ chức của màng bồ đào trước. Tổn thương mống mắt gây
khó khăn cho phẫu thuật đục TTT sau này. Mất sắc tố mống mắt là hiện tượng
hay gặp nhất do tình trạng viêm nhiễm của MBĐ trước đó hoặc do chấn thương
cơ học của phẫu thuật cắt bè củng - giác mạc dễ dẫn đến viêm MBĐ, sắc tố
mống mắt phân tán vào góc tiền phòng, bám vào mặt trước TTT và mặt sau giác
mạc [43],[24],[20]. Ngoài ra trên những mắt có hội chứng GBB, chất GBB còn
lắng đọng ở các nếp mống mắt, đôi khi tạo thành các dải trắng quan sát rõ trên
sinh hiển vi [37],[4]. Các yếu tố này có thể làm mống mắt thoái hóa teo dần trở
nên mất xốp, nham nhở, đồng tử kém giãn gây khó khăn cho phẫu thuật.
* Thủy tinh thể
Nhiều nhà nhãn khoa trên thế giới cho rằng trên những mắt đã phẫu
thuật cắt bè củng - giác mạc và viêm MBĐ do NA tăng cao, do tác động cơ
học của phẫu thuật, do phản ứng MBĐ, do rối loạn dinh dưỡng và lưu thông
thủy dịch… sẽ làm tổn hại bao gây ngấm nước TTT. Những tổn thương này
kích thích làm tăng sinh lớp tế bào biểu mô nằm sát dưới bao trước TTT vì
vậy TTT trên những mắt này thường dầy dính, lớp vỏ sau dính vào phần lõi
TTT thành 1 khối, ranh giới giữa vỏ và nhân không còn rõ rệt như đục TTT
già thông thường [1], [24], [6].
Trên những mắt có hội chứng GBB chất GBB lắng đọng trên bề mặt
bao trước TTT gây hiện tượng thoái hóa bao TTT, đặc biệt có sự phá hủy bề


6

mặt bao làm cho bao TTT giảm đàn hồi, dễ rách khi phẫu thuật. Ngoài ra
trong trong hội chứng GBB hệ thống dây treo TTT bị suy yếu có thể đứt 1
phần hoặc toàn bộ trong phẫu thuật [38],[27],[49].
1.2. Phẫu thuật tán nhuyễn thủy tinh thể trên mắt có đồng tử kém giãn
1.2.1. Đặc điểm kỹ thuật phaco trên mắt có đồng tử kém giãn
Phẫu thuật tán nhuyễn TTT trên mắt đồng tử kém giãn gặp rất nhiều

* Trải rộng mống mắt bằng chất nhầy: trong trường hợp đồng tử giãn
kém nhưng không dính và không có xuất tiết diện đồng tử, sau khi mở tiền
phòng bơm thêm một lượng chất nhầy vào tiền phòng có thể làm đồng tử giãn
rộng. Nếu sau đó đồng tử không giãn thêm phải dùng các biện pháp can thiệp
vào đồng tử [22],[ 30],[ 33].
+ Kéo giãn đồng tử bằng tay (pupil stretch)
Phương pháp được tiến hành với một móc Kuglin và một móc chữ Y
kéo giãn đồng tử theo 2 hướng ngược nhau. Fry LL [39] thực hiện kỹ thuật
này trên 600 mắt có đồng tử kém giãn và cho rằng đây là một phương pháp
khá an toàn, hiệu quả. Các tác giả khác cho rằng kéo giãn đồng tử là một kỹ
thuật đơn giản, hiệu quả mà chỉ cần 2 dụng cụ rẻ tiền. Tuy nhiên với những
mống mắt xơ cứng nhiều thì phương pháp này ít có hiệu quả.


8

Hình 1.1. Kéo giãn đồng tử bằng tay
(Nguồn: https://www. Dezpl.com)
+ Phương pháp đồng tử hoàn hảo (perfect pupil)
Jol Milveton MD - Sydney - Aus, Kershner RM [12] sử dụng kỹ thuật
này vào nghiên cứu của mình trên 30 bệnh nhân thu được kết quả tốt. Tác giả
đặt tên cho dụng cụ là perfect pupil. Đây là phương pháp được các phẫu thuật
viên tâm đắc do nó có nhiều ưu điểm mà các phương pháp khác không thể có,
đó là giữ đồng tử giãn rộng 7-8mm trong khi phẫu thuật. Khi nó hoạt động,
Việc sử dụng kỹ thuật này không chỉ làm giãn đồng tử mà còn bảo vệ một cách
tốt nhất bờ đồng tử tránh những chấn thương trong phẫu thuật cho phép đồng
tử trở về hình dáng, kích cỡ và chức năng bình thường sau phẫu thuật. Tuy
nhiên kỹ thuật này khó thực hiện trên những mắt đồng tử co dính quá nhiều, giá
thành cao, khó đáp ứng với điều kiện kinh tế của phần lớn bệnh nhân.
+ Vòng Malyugin:


10

nhỏ bằng titan cho phép các móc cố định trong suốt quá trình mở rộng mống
mắt. Phương pháp này đã được hoàn thiện với sự ra đời của một dụng cụ nhẹ
hơn “móc mống mắt mềm dẻo” của Juan và Hickingbotham vào năm 1991.
Năm 1993, Nichamin [21] mô tả chi tiết hơn việc sử dụng móc mống mắt trên
mắt có đồng tử nhỏ, những cải tiến nhỏ đã mở rộng thêm nhiều ứng dụng của
móc mống mắt.
Gần đây, một móc mống mắt mềm dẻo làm bằng một sợi chỉ màu xanh
5/0 polypropylene và có một vòng cao su silicon có thể điều chỉnh linh hoạt.
Thân móc mềm mại và hình tròn cho phép thao tác dễ dàng đặc biệt khi đi
qua đường rạch giác mạc vào tiền phòng. Điểm cuối cùng của móc có một
nửa hình cầu để phòng chống tổn thương cho bao trước TTT trong khi phẫu
thuật [44],[22],[25].

Hình 1.4. Móc mống mắt bằng chỉ 5/0 polypropylene
(Nguồn: https://www. Dezpl.com)
Theo truyền thống 4 móc được đưa vào tiền phòng qua 4 đường rạch
vùng rìa giác mạc cách nhau 90 o trùng vào 1 trong 4 cạnh hình vuông. Tuy
nhiên một số phẫu thuật viên dùng móc mống mắt với mô hình một tam giác
cân để giảm một đường rạch thêm vào giác mạc [22].
Omphroy và Oetting [23] đã mô tả “cấu hình kim cương” của dụng cụ
bằng việc cải tiến các hình vuông được tạo bởi 4 móc mống mắt. Hình vuông


11

vòng quanh TTT giúp quan sát rõ đường vào của phaco trong tiền phòng, các
cạnh hình vuông được xác định bởi 4 móc, đầu phaco thay vì đi qua đường

Hình 1.5. Sử dụng 4 móc để làm giãn đồng tử phối hợp giãn vòng bao
(Nguồn: trích từ Novak J. (1997), "Flexible iris hooks for
phacoemulsification”. J Cataract Refact Surg)
Ưu điểm của sử dụng móc mống mắt: dụng cụ gọn nhẹ, tiện lợi, dễ sử
dụng không đòi hỏi phải có dụng cụ chuyên biệt đi kèm; đơn giản, dễ đưa vào
tiền phòng; giúp đồng tử giãn tối ưu, thay thế vòng căng bao trong mắt có dây
Zinn bị tổn thương; có thể sử dụng nhiều lần, đáp ứng với điều kiện kinh tế và
nhu cầu của bệnh nhân nhất là ở nước ta. Nhược điểm: cơ co đồng tử bị chảy
máu, có thể ảnh hưởng đến chức năng đồng tử.
Nhìn chung nhóm mở rộng mống mắt có ưu điểm là có thể giải phóng
được diện đồng tử, giúp cho các PTV thực hiện các thì Phaco được dễ dàng
trong khi đồng tử kém giãn hoặc có dính. Phẫu thuật mở rộng mống mắt còn
được đánh giá là loại phẫu thuật làm giảm đến mức thấp nhất sự biến dạng
của cơ co đồng tử với độ an toàn cao và thường tái tạo được hình dáng ban
đầu của đồng tử.
Bên cạnh những ưu điểm trên, nhược điểm của những phương pháp này
là đòi hỏi dụng cụ đắt tiền và sự khéo léo, tỉ mỉ trong thao tác. Ngoài ra phẫu
thuật có thể đụng chạm đến cơ co đồng tử làm mất trương lực, gây méo đồng


13

tử lâu dài. Đặc biệt trong những trường hợp đồng tử kém giãn, dính nhiều có
màng xuất tiết thì phải phối hợp với phương pháp phẫu thuật mống mắt.
1.2.1.2. Xé bao trước TTT
Đồng tử kém giãn là một trở ngại lớn nhất khi tiến hành xé bao trước,
sau khi đã mở rộng đồng tử bằng 4 móc mống mắt tạo một diện đủ rộng cho
thao tác xé bao được diễn ra an toàn, vòng xé bao tròn liên tục đi sát chu vi
hình vuông đã được tạo bởi 4 móc mống mắt. Đường kính của vòng xé bao
rất quan trọng thông thường 5 - 6mm là tốt nhất [37],[30]. Đối với mắt có hội

dây treo TTT. Sự không trong của giác mạc, quá trình can thiệp vào đồng tử
có thể gây XHTP, tiền phòng nông, dây Zinn yếu…là những sự cố có thể gặp
trong phẫu thuật. Điều này làm cản trở việc hút chất nhân do PTV không nhìn
rõ các thành phần bên trong, nên có thể hút vào bao trước hoặc bao sau gây
rách bao, hút vào mống mắt gây chảy máu… Khi gặp sự cố trên các PTV
khuyên nên ngừng hút, tránh di động đầu tip IA, chuyển bàn đạp về 0 hoặc
kẹp đầu hút cho dịch chảy ngược vào tiền phòng [48],[30].
1.2.1.6. Đặt thấu kính nội nhãn (IOL)
Ngày nay việc sử dụng IOL mềm đã trở nên phổ biến cho phép đưa
IOL qua đường rạch nhỏ, giảm được tối thiểu chứng loạn thị và biến chứng
sau phẫu thuật. Trước khi đạt IOL trong bao cần bơm chất nhầy để đặt phần
quang học của IOL dễ dàng, cân đối. Các thao tác nội nhãn phải nhẹ nhàng,
chính xác để tránh đụng chạm vào các thành phần nội nhãn: bong màng
descemet, chạm nội mô giác mạc, rách bao sau… Ở những mắt đồng tử kém
giãn việc đặt IOL khó khăn hơn do giác mạc có thể mất độ trong suốt, mống
mắt có thể bị tổn thương do phải can thiệp vào đồng tử… làm cản trở việc
nhìn rõ bao TTT. Vì vậy đòi hỏi PTV có kinh nghiệm, động tác khéo léo là
điều kiện của thành công [47],[43].
1.2.3.2. Biến chứng của phẫu thuật phaco trên mắt đồng tử kém giãn


15

Phẫu thuật tán nhuyễn TTT trên mắt có đồng tử kém giãn có thể gặp
mọi biến chứng như khi mổ trên mắt đục TTT thường nhưng dễ xảy ra hơn do
trên những mắt này thường kèm theo những yếu tố gây khó khăn cho phẫu
thuật như: tiền phòng nông, đồng tử co nhỏ khó tách dính, dây treo TTT yếu,
màng xuất tiết diện đồng tử làm dày bao trước, nhân TTT quá cứng, rửa hút
chất nhân khó…[30],[20],[10],[46].
* Biến chứng trong phẫu thuật:

mắt với màng viêm [11],[24].
 Giảm chức năng đồng tử: đồng tử méo, giảm hoặc mất phản xạ ánh
sáng do tác động cơ học vào cơ vòng đồng tử trong phẫu thuật dẫn đến bệnh
nhân nhìn lóa khi gặp ánh sáng mạnh [19],[35].
 Đục bao sau: là kết quả của nhiều nguyên nhân như sót chất nhân,
bao bị xơ hóa hoặc do viêm nhiễm mạn tính có sử dụng cortisol lâu dài trong
điều trị viêm MBĐ…[26],[46].
 Phù hoàng điểm dạng nang và bong võng mạc là những biến chứng ít
gặp hơn nhưng là những biến chứng nặng cần được phát hiện sớm [37],[51].
Nhiều phẫu PTV nhận thấy rằng: nếu được chuẩn bị kỹ tiền phẫu và
quản lý tốt hậu phẫu cùng với một PTV có kinh nghiệm thì phẫu thuật Phaco
trên những mắt có đồng tử nhỏ không còn là một thách thức, có thể làm giảm
được đáng kể các biến chứng trong và sau phẫu thuật, kết quả thu được khả
quan không kém phẫu thuật tán nhuyễn TTT trên mắt đục TTT già thông
thường. Theo Shigleton BJ [26], nghiên cứu trên 115 mắt có đồng tử được
kéo mở rộng trong mổ Phaco thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về thị lực tốt nhất sau mổ, nhãn áp và phản ứng viêm với kết quả ở nhóm
không phải can thiệp vào đồng tử.
1.3. Tình hình nghiên cứu phẫu thuật phaco trên mắt đồng tử kém giãn


17

Đã có nhiều nghiên cứu được nhiều nước trên thế giới thực hiện để
đánh giá kết quả của phẫu thuật Phaco có sử dụng các biện pháp mở rộng
đồng tử trên mắt đục TTT với đồng tử kém giãn.
- Kubota T và cộng sự (2003) [14] nghiên cứu trên 18 mắt của 15 BN
glôcôm góc đóng đã được mổ cắt bè củng- giác mạc trong đó có 7 mắt được
sử dụng móc mống mắt do đồng tử kém giãn, các BN được theo dõi trong 6
tháng thu được kết quả: NA trung bình giảm đáng kể, TL tốt hơn 2 dòng

các biến chứng trong mổ thông thường như rách bao sau và biến chứng phù
hoàng điểm dạng nang sau mổ.
- Jie Li và cộng sự (2014) [16] khi nghiên cứu trên 50 bệnh nhân (50
mắt) với kích thước đồng tử tối đa 2,5- 4mm được phẫu thuật Phaco có sử
dụng móc mống mắt so sánh với nhóm chứng gồm 50 mắt kích thước đồng tử
bình thường cũng trải qua phẫu thuật Phaco thấy rằng đồng tử có thể mở rộng
từ 4,5- 5,5mm. Không có biến chứng nghiêm trọng nào trong và sau mổ. 88%
đồng tử trở lại kích thước hình tròn hoặc bầu dục, phản xạ ánh sáng (pxas)
khôi phục với các mức độ khác nhau vào ngày thứ nhất sau phẫu thuật.
Không có sự khác biệt về thời gian, năng lượng Phaco trung bình, lưu lượng
dòng chảy, tế bào nội mô giữa 2 nhóm.
Ở nước ta, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về phẫu thuật tán nhuyễn
TTT có sử dụng các kỹ thuật xử lý đối với đồng tử kém giãn như:
- Vũ Hồng Châu [43], Nguyễn Thị Bạch Tuyết [48], Cung Hồng Sơn
[45] nghiên cứu về mổ tán nhuyễn TTT trên mắt viêm MBĐ, các tác giả cũng
đề cập đến phương pháp kéo giãn đồng tử bằng tay và cắt cơ vòng đồng tử
trong một số mắt có dính đồng tử.
- Đặng Xuân Nguyên [37] khi nghiên cứu về mổ tán nhuyễn TTT trên
40 mắt có hội chứng GBB có 6/40 mắt có đường kính đồng tử < 5mm phải
can thiệp kéo giãn đồng tử, trong đó 1 mắt phải bấm bờ đồng tử ở 4 vị trí mới
làm giãn được đồng tử khoảng 5mm.


19

- Trần Minh Chung [50] nghiên cứu mổ tán nhuyễn TTT trên 45 mắt đã
mổ cắt bè củng - giác mạc nhận thấy có 14/45 mắt (31,11% ) có đồng tử kém
giãn, 6/14 mắt này phải can thiệp mở rộng đồng tử trong phẫu thuật bằng 2
hook, trường hợp mống mắt xơ cứng nhiều phải bấm bờ đồng tử ở 4 vị trí, 50%
số mắt được kéo giãn có xuất huyết bờ đồng tử trong phẫu thuật.

21

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, can thiệp lâm sàng không đối chứng.
Cách thức lấy mẫu: lấy mẫu thuận tiện với mẫu dự kiến ≥ 45 mắt.
2.2.2. Phương tiện nghiên cứu
Để phục vụ nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương tiện sẵn có tại bệnh
viện mắt Nghệ An.
- Bảng thị lực Snellen, hộp thử kính.
- Máy khúc xạ kế tự động.
- Máy sinh hiển vi khám bệnh.
- Nhãn áp kế Maklakov, quả cân 10g.
- Kính Volk.
- Máy siêu âm A và B.
- Máy Javal đo khúc xạ giác mạc.
- Hiển vi phẫu thuật đồng trục Luxor Alcon
- Máy Phaco.
- IOL mềm.
- Bộ dụng cụ phẫu thuật phaco.
- Bộ dụng cụ móc mống mắt.
- Chất nhầy.
- Thuốc hạ nhãn áp trước mổ.
- Thuốc gây tê


22

- Thuốc giãn đồng tử Midrin P.
- Thuốc kháng sinh dùng tại chỗ và toàn thân.


TL 4/10 trở lên.

- Nhãn áp: đo bằng nhãn áp kế Maclakov, quả cân 10g.


23

- Khám sinh hiển vi:
+ Đánh giá tình trạng giác mạc: tủa sau giác mạc, viêm, sẹo, phù…
+ Tiền phòng: độ sâu tiền phòng trước mổ đo bằng phương pháp Smith, chia
làm 3 mức độ


Tiền phòng sâu: ≥ 3mm



Tiền phòng trung bình: từ 2,5- < 3mm



Tiền phòng nông: < 2,5 mm

+ Đồng tử: kiểm tra và đo đường kính đồng tử trên sinh hiển vi. Phòng đo
có ánh sáng vừa phải, sinh hiển vi được cắt khe 1mm để nghiêng 15 o so với
mặt phẳng đứng. Chỉnh bộ phận thước đo vòng trên sinh hiển vi sao cho 2
đầu khe sáng trùng với bờ đồng tử. Đọc kết quả trên thước đo, chúng tôi
chia làm 2 độ[37]:
Giãn kém: đường kính đồng tử 3- < 5 mm.



24

- Khám siêu âm B: để đánh giá tình trạng dịch kính, võng mạc. Đo trục nhãn
cầu để tính công suất TTT.
- Đo khúc xạ giác mạc: bằng Javal kế để tính công suất IOL phù hợp.
* Xác định Nguyên nhân của đồng tử kém giãn


Hội chứng GBB, tuổi già, đái tháo đường, xơ cứng mống mắt



Các nguyên nhân khác: đục TTT chín trắng, đục TTT nhân nâu đen…

2.2.4.2 Tiêu chí đánh giá kết quảphẫu thuật phaco trên mắt đồng tử kém giãn
Kết quả giải phẫu
* Đồng tử: đánh giá tình trạng đồng tử trước và sau phẫu thuật (qua các thời
gian theo dõi 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng )
• Hình dạng: tròn hoặc méo
• Đường kính: < 5mm, ≥ 5mm.
• Cơ vòng đồng tử: rách, đứt, mất trương lực
* Đánh giá IOL: cân hay lệch
Kết quả chức năng
Thị lực sau mổ chia 4 mức độ theo WHO:


Tốt: TL ≥ 7/10.


Các khó khăn trong phẫu thuật:
- Giác mạc: tủa, sẹo…
- Tiền phòng nông.
- Dính bờ đồng tử.
- Xuất tiết diện đồng tử.
- Dây treo TTT yếu.
- Nhân TTT cứng.
Các biến chứng trong phẫu thuật
- Xé bao trước không liên tục.
- Tổn thương mống mắt và cơ vòng đồng tử.
- Xuất huyết tiền phòng.
- Rách bao sau có thoát dịch kính.
- Đứt dây treo TTT
Các biến chứng sau phẫu thuật



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status