1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mở thông dạ dày là phương pháp đặt một ống thông từ trong dạ dày
qua thành bụng ra ngoài để nuôi dưỡng, có thể thực hiện bằng nội soi dạ dày
hoặc bằng phương pháp khác: phẫu thuật, điện quang can thiệp.
Mở thông dạ dày chỉ định cho bệnh nhân rối loạn nuốt kéo dài do
nguyên nhân thần kinh, các bệnh lý tắc nghẽn hầu họng- thực quản; những
bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng do giảm cung cấp thức ăn qua miệng,
giảm khả năng hấp thu và tăng dị hóa.
Nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa có các ưu điểm: phù hợp với chức
năng sinh lý hệ tiêu hóa, ít nguy cơ biến chứng ở bệnh nhân và giá thành thấp.
Thời gian nuôi dưỡng bệnh nhân dưới 4 tuần, có thể áp dụng qua xông
mũi- dạ dày. Nhưng với thời gian nuôi dưỡng bệnh nhân dài hơn 4 tuần, phương
pháp xông mũi- dạ dày sẽ bất lợi vì gây viêm loét thực quản, gây khó chịu kéo
dài cho bệnh nhân. Do vậy cần áp dụng mở thông dạ dày để nuôi dưỡng.
Kỹ thuật mở thông dạ dày qua nội soi dạ dày (kỹ thuật Pull) được thực
hiện từ năm 1980 bởi Ponsky và Gauderer. Kỹ thuật Pull là kỹ thuật dùng nội
soi dạ dày để kéo một dây dẫn từ ngoài thành bụng qua dạ dày, thực quản và
miệng để nối với ống mở thông; ống mở thông được kéo qua miệng, thực
quản vào dạ dày và qua lỗ mở thông trên thành bụng, được cố định tạo đường
thông giữa dạ dày ra ngoài da. Tuy về sau có nhiều kỹ thuật cải tiến nhưng kỹ
thuật Pull vẫn được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới. Nhiều công
trình nghiên cứu về mở thông dạ dày qua nội soi đã được thực hiện. Grant JP
nghiên cứu 598 bệnh nhân từ 1/1985- 3/1992 tại đại học Duke Caroline: 65%
bệnh nhân rối loạn tinh thần (n= 389) bao gồm: sốc, chấn thương đầu hoặc u
não; 34,9% bệnh nhân nuốt khó (n= 209) bao gồm: ung thư đầu- cổ, điều trị
2
và hạ sườn trái, ngay dưới vòm hoành trái.
- Hình thể của dạ dày thường thay đổi. Dung tích của dạ dày khoảng 30
ml ở trẻ sơ sinh, 1000 ml ở tuổi dậy thì và 1500 ml khi trưởng thành.
- Dạ dày rỗng có hình chữ J với 2 thành: trước và sau, 2 bờ cong: bờ
cong lớn và bờ cong nhỏ, 2 đầu: tâm vị và môn vị.
- Các phần của dạ dày kể từ trên xuống dưới là phần tâm vị, đáy vị, thân
vị, hang vị và môn vị.
- Liên quan của thành trước dạ dày: chia 2 phần: phần nằm trên và phần
nằm dưới bờ sườn trái.
Ở trên bờ sườn, thành trước dạ dày tiếp xúc với cơ hoành, qua cơ hoành
liên quan với màng phổi trái, đáy phổi trái, màng ngoài tim, các xương sườn
và khoang gian sườn từ 6 đến 9. Thùy gan trái lách giữa dạ dày và cơ hoành.
Ở dưới bờ sườn, dạ dày nằm sát vào thành bụng trước, trong tam giác
được giới hạn bởi gan- cung sườn trái – mặt trên đại tràng ngang.
4
1.3. Đại cương sinh lý hệ tiêu hóa và sinh lý đường tiêu hóa trên [5]
Bộ máy tiêu hóa cung cấp liên tục cho cơ thể các chất dinh dưỡng,
vitamin, các chất điện giải và nước…thông qua các chức năng sau:
+ Chức năng cơ học: để vận chuyển thức ăn, nghiền nát và nhào trộn
thức ăn với các dịch tiêu hóa.
+ Chức năng hóa học: các tuyến tiêu hóa bài tiết các dịch để tiêu hóa
thức ăn thành các dạng đơn giản.
+ Chức năng hấp thu: đưa thức ăn đã được tiêu hóa từ ống tiêu hóa vào
tuần hoàn máu.
Tất cả các chức năng trên được điều hòa theo cơ chế thần kinh và
hormon. Trong từng đoạn của ống tiêu hóa, ba chức năng trên cùng phối hợp
hoạt động để vận chuyển, tiêu hóa và hấp thu thức ăn.
- Phương pháp Witzel: tạo một đường hầm dài 5- 7 cm bằng mặt trước dạ
dày để che kín ống thông, sau đó đưa ống thông ra ngoài thành bụng.
- Một số phương pháp khác: phương pháp Beck-Janu, phương pháp
Jenaway- Depage. Hoặc có thể mở thông dạ dày bằng phẫu thuật nội soi.
1.4.3. Đại cương mở thông dạ dày qua da bằng nội soi ống mềm
- Kỹ thuật mở thông dạ dày bằng nội soi được mô tả lần đầu vào năm
1980 bởi Ponsky và Gauderer và được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
- Là phương pháp đặt ống mở thông từ trong khoang dạ dày ra ngoài da
bằng kỹ thuật nội soi ống mềm để nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa.
- Là phương pháp nuôi dưỡng đường ruột kéo dài ở những bệnh nhân
đường ruột còn chức năng mà không được cung cấp đủ dinh dưỡng qua
đường miệng.
- Kỹ thuật mở thông dạ dày bằng nội soi được áp dụng rộng rãi vì đơn
giản, an toàn, dễ thực hiện, giá trị hiệu quả cao và giá thành thấp.
- Nuôi dưỡng qua ống mở thông dạ dày có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn.
6
1.4.4. Mở thông dạ dày qua da bằng điện quang can thiệp
- Mở thông dạ dày bằng điện quang can thiệp được thực hiện đầu tiên
vào năm 1981 do Preshaw, ứng dụng kỹ thuật Seldinger, để đưa trực tiếp ống
xông từ ngoài da vào dạ dày dưới hướng dẫn của điện quang. Sau đó có sự cải
tiến về kỹ thuật, có thể kết hợp khâu treo thành trước dạ dày vào thành bụng
trước bằng cách sử dụng dụng cụ giữ hình T hoặc cái neo giữ đơn được mô tả
bởi Brown và Cope.
- Áp dụng ở những bệnh nhân nuốt nghẹn do khối u đường tiêu hóa trên
hoặc u hầu họng gây hẹp nhiều và để tránh lan truyền tế bào u vào vị trí mở
thông. Ngoài ra áp dụng ở những bệnh nhân có vị trí dạ dày bất thường (dạ
dày nằm cao về phía ngực), dạ dày đã cắt nhiều, khó khăn đưa ống nội soi vào
- Nguyên nhân thần kinh: ALS (bệnh xơ cứng cột bên teo cơ_
amyotrophic lateral sclerosis), mất trí, Parkinson, Alzheimer, sốc, di căn não,
khối u não, bại liệt.
- Bệnh lý đầu mặt cổ: Khối u đầu và cổ; Khối u hầu họng; Dị tật mặt và
miệng hầu; Xơ cứng bì
- Bệnh lý đường tiêu hóa: Hội chứng ruột ngắn; bệnh viêm ruột.
- Bệnh lý hệ thống: Loạn dưỡng cơ tiến triển; nhược cơ và viêm cơ mạn
tính; bệnh thoái hóa tinh bột (amyloidosis); bệnh xơ nang.
•Một số trường hợp bệnh lý cần cân nhắc và tham khảo ý kiến chuyên
gia trong việc đặt ống mở thông dạ dày vì lợi ích đặt ống không rõ ràng.
Chúng ta cần phải căn cứ vào nhu cầu của bệnh nhân (cải thiện tình trạng dinh
dưỡng, cải thiện chất lượng sống), dự đoán khả năng sống kéo dài của bệnh
nhân (căn cứ vào các yếu tố nguy cơ, tình trạng bệnh lý đang mắc) để đưa ra
những chỉ định chính xác. Đó là các bệnh lý nặng mà khả năng sống kéo dài
tương đối (cần hội chẩn chuyên gia) [9], như là:
- Viêm não
- Sốc tái diễn.
8
- U ác tính tiến triển
- Giai đoạn AIDS cuối.
- Viêm ruột xạ trị.
• Ngăn ngừa suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nhi
- Điều trị hóa chất trong bệnh ung thư.
- Uống sữa khó khăn, trong trường hợp dị ứng nhiều thực phẩm.
- Không cung cấp đủ cân bằng năng lượng.
- Nhiều dị tật bẩm sinh.
- Hội chứng ruột ngắn.
thiệp nội soi có nguy cơ biến chứng chảy máu.
- Bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống đông để điều trị hay phòng ngừa
trong những bệnh tim mạch hoặc bệnh mạch não; đồng thời có chỉ định mở
thông dạ dày. Cần cân nhắc nguy cơ chảy máu khi làm thủ thuật can thiệp mở
thông dạ dày và nguy cơ tắc nghẽn mạch khi ngừng sử dụng các thuốc này.
- Trước khi mở thông dạ dày qua nội soi ống mềm, bệnh nhân phải được
dừng sử dụng thuốc chống đông. Tùy theo từng loại thuốc chống đông mà
thời gian ngừng thuốc trước mở thông dạ dày, cũng như thời gian sử dụng lại
thuốc chống đông sau mở thông dạ dày là khác nhau.
- Có nhiều hướng dẫn về sử dụng thuốc chống đông trước khi làm can
thiệp thủ thuật trên thế giới. Một trong số các hướng dẫn có thể tham khảo
của Hội nội soi tiêu hóa Mỹ (ASGE) xuất bản năm 2009 có đưa ra:
+ Sử dụng Clopidogrel hoặc ticlopidine nên dừng thuốc trong 7- 10 ngày
trước khi làm thủ thuật mở thông dạ dày.
+ Sử dụng aspirin hoặc thuốc chống viêm non- steroid khác có thể tiếp tục
dùng khi làm thủ thuật nếu không có biểu hiện chảy máu tạng trước đó [10].
+ Warfarin nên được dừng 3- 5 ngày trước khi làm thủ thuật mở thông dạ
dày và được thay thế bằng Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) hoặc
10
heparin tự nhiên (heparin chưa phân đoạn- UFH) khi có nguy cơ tắc mạch
huyết khối.
+ Heparin được dừng trước 12 giờ trước mở thông dạ dày và sử dụng lại
ít nhất 6 giờ sau thủ thuật hoàn thành [10], không làm tăng nguy cơ chảy máu
sau thủ thuật [12]
1.5.3.2. Sử dụng kháng sinh dự phòng trước mở thông dạ dày.
- Bệnh nhân được đặt ống mở thông dạ dày thường có nguy cơ nhiễm
khuẩn vì nhiều lý do khác nhau: tuổi già, thiếu dinh dưỡng, suy giảm miễn
1.5.4.2. Dụng cụ mở thông.
- Máy nội soi dạ dày Olympus hoặc Pentax với đường kính kênh sinh
thiết 2,8 mm.
- Bộ mở thông dạ dày: gồm bơm kim tiêm, dao mổ, trocar, dây dẫn, ống
mở thông và thòng lọng, toan vô khuẩn có lỗ.
- Vô cảm: tê tại chỗ bằng Xylocain 2%; thuốc tiền mê Midazolam 5
mg/1 ml hoặc thuốc mê tĩnh mạch Propofol 1%.
1.5.4.3. Kỹ thuật mở thông [14,15].
Có 3 phương pháp đặt ống mở thông dạ dày thường được sử dụng
trong thực hành y khoa. Kỹ thuật “Pull” hay được sử dụng hơn vì đơn giản
hơn, ít biến chứng:
- Các bước giống nhau giữa 3 thủ thuật:
+ Người thực hiện: 1 bác sĩ làm thủ thuật mở thông, 1 bác sĩ làm nội soi
dạ dày, 1 điều dưỡng hoặc kỹ thuật viên hỗ trợ thủ thuật.
+ Phương pháp vô cảm: gây tê tại chỗ, nếu bệnh nhân kích thích nhiều
có thể dùng thuốc tiền mê; có trường hợp có thể gây mê tĩnh mạch.
+ Tư thế: Nằm ngửa.
+ Nội soi dạ dày: kiểm tra thương tổn trong lòng thực quản- dạ dày- tá
tràng. Sau đó tiến hành bơm hơi căng đủ cho thành trước dạ dày áp sát vào
thành bụng.
12
+ Xác định điểm chọc (quan trọng nhất): vị trí có ánh đèn soi trên thành
bụng là vị trí mặt trước dạ dày áp sát vào vào thành bụng trước; dấu hiệu ấn
ngón tay: ấn ngón tay thẳng góc vào vị trí có ánh đèn soi trên thành bụng thấy
dấu ấn ngón tay vào thành dạ dày được nhìn trên màn hình nội soi.
Hình 1.1: Xác định điểm mở thông dạ dày
và qua lỗ rạch thành bụng ra ngoài.
+ Cắt bớt chiều dài ống thông (khoảng 20 cm từ đế trong ra đầu ngoài)
và cố định đế ngoài.
+ Nội soi dạ dày: kiểm tra lại vị trí đế trong của ống thông ở thành dạ
dày, đánh giá xem có chảy máu tại vị trí đặt ống mở thông dạ dày.
+ Bôi dung dịch sát khuẩn betadine vùng da thành bụng trước xung
quanh chân ống mở thông dạ dày; đặt gạc mỏng vô khuẩn xung quanh chân
ống mở thông dạ dày.
14
Hình 1.2: Kỹ thuật Kéo (Pull)
- Kỹ thuật Đẩy (Push): thực hiện bởi Sacks và Vine năm 1983:
+ Xác định điểm chọc; rạch da và chọc kim có vỏ qua đường rạch da
vào khoang dạ dày, rút kim (quan sát dưới trường nhìn nội soi).
+ Luồn dây dẫn qua vỏ ngoài kim vào dạ dày, và kéo một đầu dây qua
thực quản ra ngoài miệng bởi máy soi.
+ Ống nuôi dưỡng được đẩy trên dây dẫn vào dạ dày và được kéo ra
ngoài thành bụng qua chỗ rạch da.
+ Sát khuẩn xung quanh vị trí mở thông bằng betadine và đặt gạc mỏng
vô khuẩn dưới đế ngoài.
Hình 1.3: Kỹ thuật Đẩy (Push)
15
- Kỹ thuật Mở thông dạ dày qua da dưới hướng dẫn nội soi ống mềm
(Introducer) thực hiện bởi Russell, sử dụng phương pháp Seldinger.
- Nuôi dưỡng qua ống mở thông dạ dày trước đây thường được trì hoãn
cho tới ngày tiếp theo sau khi đặt ống mở thông vì sợ những biến chứng sớm
ngay sau thủ thuật; bao gồm rò vào ổ bụng hoặc các tạng, viêm phúc mạc,
chảy máu ổ bụng do đâm kim vào gan, xuất huyết tiêu hóa.
- Một vài nghiên cứu đánh giá sự khác biệt giữa nuôi dưỡng sớm từ 6 giờ
đầu sau đặt ống mở thông dạ dày và nuôi dưỡng sau 12 giờ sau đặt ống mở
thông dạ dày. Trong một số nghiên cứu của tác giả nước ngoài đưa ra kết quả
không có sự khác biệt đáng kể ở tình trạng nhiễm khuẩn tại chỗ, ỉa chảy, chảy
máu, trào ngược dạ dày- thực quản, sốt, nôn, viêm dạ dày, biến chứng rò và
chết được ghi nhận ở bệnh nhân được nuôi dưỡng sớm. Nuôi dưỡng sớm an
toàn và làm giảm chi phí và giảm thời gian nằm viện [17 18, 19, 20, 21].
1.5.6. Phiền muộn, tai biến và biến chứng của thủ thuật mở thông dạ dày
Thủ thuật mở thông dạ dày qua da bằng nội soi ống mềm được đánh giá
là thủ thuật an toàn nhưng có thể gặp cả biến chứng nhẹ và biến chứng nặng,
thậm chí biến chứng nghiêm trọng. Tỷ lệ gặp biến chứng nặng và nghiêm
trọng tương ứng khoảng 6% và 3% [22].
1.5.6.1. Xác định yếu tố nguy cơ.
- Một vài báo cáo hồi cứu đã xác định những yếu tố nguy cơ cho biến
chứng liên quan đến mở thông dạ dày.
17
- Những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được:
+ Tuổi: tuổi càng cao thì yếu tố nguy cơ càng tăng, đặc biệt tuổi > 75
được ghi nhận là yếu tố dự đoán khả năng tử vong < 1 tháng sau đặt ống mở
thông dạ dày [23].
+ Suy dinh dưỡng: giảm chỉ số khối cơ thể (BMI) và kết quả Albumin
huyết thanh thấp dưới, liên quan đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ gặp biến chứng cao
sau đặt ống mở thông dạ dày [24].
- Rối loạn tiêu hóa:
+ Ỉa lỏng: có thể do chế độ nuôi dưỡng (chế độ ưu trương, nhiều lactose,
nhiều chất béo hoặc chế độ ăn lạnh). Hướng giải quyết: thay đổi chế độ ăn
gồm dung dịch đẳng trương, bớt lactose, bớt chất béo.
+ Táo bón: do chế độ nuôi dưỡng ít dịch hoặc ít chất xơ. Hướng giải
quyết: thay đổi chế độ ăn có lượng dịch đủ, bổ xung thêm thức ăn có chất xơ.
- Buồn nôn và nôn: có thể do truyền quá nhanh hoặc do sữa có áp lực
thẩm thấu cao, nhiều chất béo trong chế độ ăn hoặc do bệnh nhân không dung
nạp lactose. Hướng giải quyết: pha loãng sữa với tỷ lệ thích hợp, quản lý chế
độ ăn không lactose hoặc sử dụng chế độ ăn ít chất béo.
- Nôn trớ, trào ngược: do vị trí đế trong của ống mở thông dạ dày quay
lên trên hoặc mở thông ở vị trí cao, bơm nhanh nhiều. Xử trí: hướng dẫn tư
thế cho bệnh nhân, bơm thức ăn lỏng tốc độ chậm, số lượng thức ăn vừa phải.
Nếu nôn trớ mức độ nhiều: có thể truyền nhỏ giọt thức ăn qua xông mở thông
dạ dày 24 giờ hoặc đặt 1 xông nhỏ hơn qua xông mở thông dạ dày và đưa
xuống dưới tá tràng.
- Tắc ống: do thức ăn khô đặc, không bơm tráng rửa ống sau khi ăn.
Hướng giải quyết: có thể sử dụng men tụy phối hợp với dung dịch
bicarbonate để bơm rửa thông tắc, sau dùng nước ấm và dung dịch carbonate.
Không dùng dụng cụ để cố gắng đẩy chỗ tắc ra vì có thể gây vỡ ống mở thông
hoặc thủng dạ dày. Nếu không được thì có thể phải thay đổi ống mở thông.
19
- Tràn khí ổ bụng: là dấu hiệu hay gặp sau mở thông dạ dày, chiếm 50%
ở nhiều nghiên cứu, không gây hậu quả nghiêm trọng.
Do quá trình thủ thuật không đúng kỹ thuật làm tách lớp da và lớp dưới
niêm mạc.
Trong trường hợp không có dấu hiệu viêm phúc mạc, biểu hiện tràn khí
khuẩn, loét, hội chứng chân xông nằm trong đường hầm mở thông (buried
bumper), hoặc bất kỳ nguyên nhân tiềm tàng khác như di lệch ống mở thông,
dạ dày chậm rỗng, nuôi dưỡng quá mức hoặc mở rộng đường rò dạ dày.
Can thiệp: kéo ống mở thông dạ dày lên để khoảng cách giữa đế trong
và đế ngoài của ống mở thông dạ dày thu ngắn lại; điều trị các bệnh phối hợp
và tăng cường nuôi dưỡng. Nếu lỗ mở thông dạ dày bị viêm loét rộng ra thì có
thể khâu thu hẹp hoặc loại bỏ hoàn toàn ống mở thông để làm đường mở
thông đóng lại hoàn toàn. Khi có chỉ định, đặt lại ống mở thông dạ dày khác ở
vị trí khác trên thành bụng.
1.5.6.2. Các biến chứng của mở thông dạ dày.
• Ngay trong khi mở thông dạ dày có thể gặp một số tai biến:
- Tai biến liên quan đến kỹ thuật mở thông dạ dày: rò dạ dày với các
tạng; thủng các tạng rỗng gây viêm phúc mạc, chảy máu ổ bụng do đâm kim
vào gan, xuất huyết tiêu hóa do tổn thương loét chảy máu đường tiêu hóa trên.
- Các tai biến liên quan đến tiền mê hoặc mê tĩnh mạch (nếu sử dụng):
rối loạn hô hấp và tuần hoàn: suy hô hấp, co thắt thanh quản-khí quản; rối
loạn nhịp tim: nhịp nhanh xoang, nhịp chậm xoang, loạn nhịp, hạ huyết áp và
trụy tim mạch.
• Một số biến chứng có thể gặp sau mở thông dạ dày:
- Ống bị rút ra có thể do vô tình hoặc tự ý: cần thiết đặt 1 ống xông tạm
thời để đường hầm mở thông không khép lại, sau đó đưa đến phòng nội soi
liên hệ đặt lại ống xông mở thông.
- Hội chứng chân xông nằm trong đường hầm mở thông “Buried Bumper”:
21
Hội chứng này có thể xảy ra khi đã hình thành đường hầm thành bụng:
xuất hiện sớm vào tuần thứ 3 sau đặt ống mở thông dạ dày hoặc muộn vài
tháng sau.
xuống hỗng tràng.
- Rò dạ dày- đại tràng: do trong quá trình tổn thương đâm kim qua đại
tràng vào dạ dày, tạo đường rò từ đại tràng vào dạ dày và có thể ra ngoài da.
Gây phân từ đại tràng trào ngược vào dạ dày, ra ngoài ống xông.
- Tổn thương cơ quan nội tạng, có thể gây viêm phúc mạc.
Bất kỳ tạng trong ổ bụng đều có thể bị tổn thương khi đặt mở thông dạ
dày, nhiều nhất là thủng đại tràng và ruột non, ít hơn là tổn thương gan và
lách. Chẩn đoán gặp nhiều khó khăn vì bệnh nhân được đặt mở thông dạ dày
thường bị tổn thương thần kinh, khó tiếp xúc nên các biểu hiện hội chứng
kích thích phúc mạc dễ bị bỏ qua. Ngoài ra, tình trạng tràn khí ổ bụng trong
khi mở thông dạ dày làm giảm giá trị sử dụng phim để chẩn đoán thủng ruột.
Hướng giải quyết: Cần theo dõi sát sau khi mở thông dạ dày để phát hiện dấu
hiệu viêm phúc mạc; nếu nghi ngờ có thể cho siêu âm bụng, chụp CT Scan có
thuốc cản quang tan trong nước hoặc soi huỳnh quang để xác định tổn thương
ruột khi thấy có sự rò chất cản quang vào khoang màng bụng. Nếu thấy tổn
thương ruột gây viêm phúc mạc thì là chỉ định phẫu thuật cấp cứu.
- Hoại tử cân cơ thành bụng.
Đây là biến chứng hiếm gặp nhưng là biến chứng nặng. Lực kéo mạnh
hoặc đè ép vào ống mở thông dạ dày là hai yếu tố chính làm tăng nguy cơ
hoại tử cân thành bụng sau khi đặt ống mở thông, kèm theo nhiễm khuẩn lan
rộng. hướng giải quyết: Đòi hỏi phẫu thuật cấp cứu cắt lọc rộng phần hoại tử,
điều trị kháng sinh phổ rộng và chăm sóc hồi sức tốt. Dự phòng: Giữ cho đế
ngoài của ống mở thông không ép sát vào thành bụng để loại bỏ lực đè ép vào
chỗ mở thông dạ dày.
- Sự lan truyền ung thư ở lỗ mở thông.
23
Đây là biến chứng hiếm gặp ở bệnh nhân ung thư hầu họng được đặt
- Trong 2 tuần đầu tiên sau mở thông dạ dày qua da, vùng xung quanh
chỗ mở thông dạ dày nên được vệ sinh hàng ngày với nước muối sinh lý và
betadine.
- Kiểm tra xem có tình trạng viêm nhiễm tấy đỏ hoặc dịch tiết dạ dày
xung quanh lỗ mở thông dạ dày không?.
- Khuyến cáo bệnh nhân sử dụng quần áo lỏng để không đè ép vào lỗ mở
thông dạ dày. Nếu lỗ mở thông dạ dày không đỏ, bệnh nhân có thể được tắm
sau 2 tuần.
1.5.7.3. Chăm sóc trong quá trình nuôi dưỡng.
- Tư thế bệnh nhân: ngồi chếch góc 30- 45 độ để làm dạ dày dễ dàng
trống thức ăn và ngăn ngừa trào ngược. Tư thế này nên giữ khoảng 1 giờ sau
khi ăn xong.
- Thức ăn dạng xay lỏng, bơm trực tiếp qua xông dạ dày hoặc truyền nhỏ
giọt qua xông trong 24 giờ. Bơm trực tiếp qua xông thường khoảng 250- 300
ml mỗi bữa, chia nhỏ bữa 6- 8 lần trong ngày.
- Sau mỗi lần sử dụng ống mở thông dạ dày, bơm khoảng 30 – 50 ml nước
qua ống mở thông để tráng rửa các chất cặn trên thành trong ống thông [27].
- Trong trường hợp ống mở thông dạ dày bị tắc, sử dụng men tụy phối
hợp với dung dịch bicarbonate để làm thông ống, sau đó tráng ống với nước
ấm và dung dịch carbonated [27].
1.5.7.4. Sự sử dụng thuốc qua ống mở thông dạ dày.
- Ưu tiên các loại thuốc dạng lỏng, các thuốc được sử dụng cùng với
nước (khoảng 5- 30 ml) và không sử dụng cùng với sữa công thức.
- Các thuốc ưu trương hoặc cô đặc nên được pha với nước trước khi sử dụng.
- Không được phá vỡ các thuốc có lớp vỏ ngoài và các thuốc giải
phóng chậm.
25