Quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam (tt) - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TẠ VĂN VIỆT

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 62 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Văn Chức
PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Phản biện 1: …………………………………………………………....
…………………………………………………………...........................
Phản biện 2: …………………………………………………………....
…………………………………………………………...........................
Phản biện 3: …………………………………………………………....
…………………………………………………………...........................

nghiệt, gây thiệt hại lớn về tính mạng con ngƣời và vật chất. Biến đổi khí hậu kéo theo nạn đói và
bệnh tật, tình trạng ô nhiễm không khí với lƣợng khí thải CO2 quá lớn đang làm cho 50 triệu ngƣời
chết mỗi năm. Nếu các quốc gia không làm gì, số ngƣời chết do ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu có
nguy cơ lên đến 100 triệu vào năm 2030.
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các thiên tai nói trên với biến đổi khí hậu.
Trong Báo cáo đánh giá tác động lần thứ 5 của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC)
thì các nhà khoa học đã chắc chắn đến 95% rằng các hoạt động của con ngƣời đang là nguyên nhân
chính gây ra biến đổi khí hậu. Vì vậy, con ngƣời cần phải có những hành động khẩn trƣơng và phù
hợp để ngăn chặn những biến đổi đó nếu không muốn phải gánh chịu những hậu quả từ chính hoạt
động của mình.
Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu
cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền
vững (PTBV) của đất nƣớc. Vì vậy, việc ứng phó với biến đổi khí hậu hiện là vấn đề đƣợc Đảng và
Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm và đã trở thành nội dung quan trọng trong nhiều chƣơng trình nghị sự.
Là quốc gia chịu ảnh hƣởng nặng nề của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã nỗ lực triển khai thực hiện
Công ƣớc khí hậu, Nghị định thƣ Kyoto, đặc biệt là tăng cƣờng hợp tác, đối tác trong ứng phó với
biến đổi khí hậu, theo tinh thần của Thỏa thuận Paris. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Kế hoạch
thực hiện Thỏa thuận Paris (tại Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016) bao gồm 5 trụ cột
chính: giảm nhẹ, thích ứng, minh bạch, tài chính khí hậu và quản lý nhà nƣớc với 3 nhóm nhiệm vụ
tăng cƣờng chủ động thích ứng với thiên tai và giám sát khí hậu; đảm bảo an sinh xã hội; ứng phó
với nƣớc biển dâng và ngập lụt đô thị.
Nhiều giải pháp đƣợc đƣa ra một cách kịp thời và tƣơng đối toàn diện nhƣ xây dựng kịch bản biến
đổi khí hậu cho 63 tỉnh, thành và kịch bản nƣớc biển dâng cho 28 tỉnh ven biển, có bản đồ chi tiết về vấn
đề nƣớc biển dâng cho Hoàng Sa và Trƣờng Sa…, nghiên cứu các giống cây trồng mới ở những vùng hạn
hán kéo dài và đất đai bị xâm ngập mặn, tích cực triển khai Chiến lƣợc quốc gia về biến đổi khí hậu và các
chiến lƣợc Tăng trƣởng xanh, Phòng, chống thiên tai, Phát triển năng lƣợng tái tạo... với nhiều chƣơng
trình, dự án thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính…
Ứng phó với biến đổi khí hậu trên nhiều l nh vực đã đạt đƣợc những kết quả quan trọng.
Nhận thức về biến đổi khí hậu, cả về nguy cơ, thách thức và những cơ hội đã có chuyển biến tích
cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; thể chế, chính sách về ứng phó với

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu ở
Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu với góc
độ chuyên ngành quản lý công.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí
hậu trên phạm vi cả nƣớc.
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến
đổi khí hậu từ năm 2002 đến nay (thời điểm Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đƣợc giao là cơ quan đầu
mối quốc gia về biến đổi khí hậu tại Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của
Chính phủ).
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận án đƣợc nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của Chủ ngh a Mác-Lênin; tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chính sách của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nƣớc Việt Nam về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng những phƣơng
pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Trong khuôn khổ của luận án, tác giả đã tiến hành nghiên cứu: các công trình nghiên cứu (trong
và ngoài nƣớc) đi trƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu; vai trò của nhà nƣớc trong ứng phó với
biến đổi khí hậu; quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm xây dựng cơ sở lý luận
quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nhà
nƣớc về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam; số liệu thống kê từ báo cáo
của các cơ quan liên quan.
Trên cơ sở đó, luận án tập trung vào nghiên cứu những vấn đề cần làm sáng rõ cả về mặt lý
luận và thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu. Phƣơng pháp
này đƣợc sử dụng trong nghiên cứu tài liệu để xây dựng Chƣơng 1, tổng quan tình hình nghiên cứu;

Cán bộ
Ngƣời dân
ĐỐI VỚI CẤP TRUNG ƢƠNG
Luận án tổ chức lấy ý kiến của các cán bộ, công chức tại một số Bộ có ảnh hƣởng trực tiếp tới
hoạt động quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu
1 Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng
40
2 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
20
3 Bộ Công thƣơng
20
4 Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
20
5 Bộ Tài chính
20
6 Bộ Khoa học và Công nghệ
20
7 Bộ Giáo dục và Đào tạo
20
8 Bộ Thông tin và Truyền thông
20
9 Bộ Giao thông Vận tải
20
10 Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội
20
11 Bộ Y tế
20
TỔNG SỐ
240
ĐỐI VỚI CẤP ĐỊA PHƢƠNG

- Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra nhƣ thế nào ? Ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay ra
sao ? Nhà nƣớc có vai trò gì trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu ?
- Quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam có những nội dung nào ?
Phƣơng thức quản lý ra sao ?
- Thực trạng quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay thế nào ?

3


- Giải pháp nào để tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu ở
Việt Nam từ nay đến 2020 và sau 2020 ?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Biến đổi khí hậu đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới và cần có sự chung tay của cả
cộng đồng nhƣng vai trò của nhà nƣớc là đặc biệt quan trọng bởi biến đổi khí hậu đã vƣợt qua ranh
giới của một vấn đề mang tính khoa học thuần túy để trở thành vấn đề mang tính chính trị.
- Việt Nam đã có những hành động kịp thời ứng phó với biến đổi khí hậu, nhƣng nếu có đƣợc
một thể chế, chính sách, một bộ máy tổ chức độc lập hơn, đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách
có trình độ, cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và cơ chế tài chính phù hợp thì quản lý nhà nƣớc
về ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án bổ sung, phát triển lý luận quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu. Ở Việt
Nam, các vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu đã đƣợc tập trung nghiên cứu, tuy nhiên, khía cạnh
vai trò quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam còn tiếp cận chƣa mang tính
hệ thống và toàn diện. Việc xác định vai trò quản lý nhà nƣớc trong vấn đề ứng phó với biến đổi khí
hậu trong mối tƣơng quan với các chủ thể khác cần đƣợc làm rõ để chỉ ra nhà nƣớc cần phải làm gì
để ứng phó và ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án tổng quan đƣợc những công trình nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nƣớc
về biến đổi khí hậu, ứng phó với biến đổi khí hậu và vai trò của Nhà nƣớc trong hoạt động về ứng


4


Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu ở
nƣớc ta: kiện toàn tổ chức bộ máy cho Cục BĐKH từ nòng cốt là Cục Khí tƣợng thủy văn và Biến
đổi khí hậu; pháp điển hóa các quy định pháp luật về ứng phó BĐKH ở các luật khác nhau thành
một đạo luật riêng cho ứng phó BĐKH để tạo cơ sở pháp lý cho Cục BĐKH hoạt động có hiệu lực
và hiệu quả; xây dựng cơ chế quản lý giữa Trung ƣơng với địa phƣơng trong l nh vực ứng phó với
BĐKH, đặc biệt là tổ chức phân cấp giữa Trung ƣơng với địa phƣơng, tăng tính tự chủ cho địa
phƣơng trong ứng phó với BĐKH.
8. Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của
luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2. Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu
Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Chương 4. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi
khí hậu ở Việt Nam.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu và ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu
1.2. Các công trình nghiên cứu về ứng phó với biến đổi khí hậu
1.3. Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nƣớc về ứng phó với biến đổi khí hậu
1.4. Một số nhận xét về các nghiên cứu đi trƣớc
1.5. Những vấn đề luận án cần tiếp tục làm rõ
Chƣơng 2
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

đất thấp bị ngập chìm v nh viễn, hiện tƣợng xâm nhập mặn gia tăng, v.v...
2.1.2.2. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do những tác động từ
bên ngoài, hoặc do tác động thƣờng xuyên của con ngƣời hoặc do sử dụng đất đã làm thay đổi thành
phần cấu tạo của khí quyển. Những tiến bộ đạt đƣợc về quan trắc cũng nhƣ các mô hình gần đây
càng cung cấp thêm những hiểu biết vững chắc, cho phép kết luận rằng BĐKH có nguồn gốc từ hai
nguyên nhân: nguyên nhân từ tự nhiên và nguyên nhân từ con ngƣời.
2.1.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu
BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trƣờng bao gồm cả các l nh vực của môi trƣờng
tự nhiên, môi trƣờng xã hội và sức khỏe con ngƣời trên phạm vi toàn cầu với những mức độ ảnh
hƣớng không giống nhau.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động có lợi rất nhỏ đó từ BĐKH thì những ảnh hƣởng tiêu cực
của BĐKH đang là vấn đề khiến nhân loại phải quan tâm hơn cả. Mức độ tác động của BĐKH
nghiêm trọng ở các vùng có v độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các nƣớc nhiệt đới,
nhất là các nƣớc đang phát triển công nghiệp nhanh ở Châu Á. Trong đó, những ngƣời nghèo,
những ngƣời ít góp phần gây ra BĐKH nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm
trọng nhất về phát triển con ngƣời do BĐKH gây ra.
2.1.3. Ứng phó với biến đổi khí hậu
Trong phạm vi của luận án, tác giả quan niệm ứng phó với BĐKH là các hoạt động chủ động
của con người nhằm thích ứng với BĐKH (giảm nhẹ các thiệt hại do BĐKH gây ra) và giảm nhẹ
BĐKH (ổn định nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa sự can thiệp tiêu cực của
con người đối với hệ thống khí hậu).
Ứng phó với BĐKH cũng có thể đƣợc hiểu là “thích ứng với BĐKH” và “giảm nhẹ BĐKH”.
2.1.3.1. Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng là khái niệm rất rộng trong bối cảnh BĐKH, là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của các quốc gia đang phát triển (đặc biệt ở những khu vực chịu nhiều tổn thƣơng do BĐKH
nhƣ Việt Nam). Có nhiều quan niệm về thích ứng với BĐKH nhƣng đều đề cập đến hai nội dung
chính: nâng cao năng lực thích ứng, giảm nhẹ khả năng dễ bị tổn thƣơng do tác động của BĐKH; và
tận dụng những lợi ích của môi trƣờng khí hậu để duy trì và phát triển KT-XH bền vững.
2.1.3.2. Giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Thứ hai, Nhà nƣớc là chủ thể chính trong quá trình hoạch định, thực thi chiến lƣợc, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật về ứng phó với BĐKH. Đây là vai trò gắn liền với chức năng
thuộc về bản chất của nhà nƣớc.
Thứ ba, dù chúng ta kiểm soát việc phát thải KNK tốt đến đâu thì BĐKH là điều không thể
tránh khỏi.
Thứ tư, BĐKH không còn là vấn đề của một địa phƣơng hay một quốc gia nào mà đã trở
thành vấn đề toàn cầu.
Vì những lý do trên, QLNN về ứng phó BĐKH là một yêu cầu tất yếu để duy trì, đảm bảo sự
ổn định của một quốc gia nói riêng và thế giới nói chung.
2.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu
2.2.3.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu
Nhà nƣớc là chủ thể tổ chức nghiên cứu xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách, pháp luật
về BĐKH phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc, hài hòa với các chính sách toàn cầu
và các điều ƣớc quốc tế về BĐKH mà quốc gia tham gia. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của
Nhà nƣớc và đƣợc Nhà nƣớc sử dụng để điều chỉnh các hành vi và mối quan hệ giữa Nhà nƣớc với
công dân, các tổ chức nhằm thiết lập trật tự kỷ cƣơng xã hội. Xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật là một hoạt động quan trọng thể hiện bản chất chấp hành và điều hành của QLNN.
Trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định, cơ quan QLNN xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật về ứng phó với BĐKH nhằm đảm bảo thực hiện thống nhất trên phạm vi cả
nƣớc, từ trung ƣơng tới địa phƣơng trong l nh vực BĐKH.
2.2.3.2. Xây dựng chiến lược, kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu
Để ứng phó hiệu quả với BĐKH và đảm bảo PTBV đất nƣớc, một chiến lƣợc quốc gia về
BĐKH với tầm nhìn phù hợp, làm cơ sở cho các chiến lƣợc, kế hoạch, quy hoạch phát triển khác là
rất cần thiết đối với mỗi quốc gia trong ứng phó với BĐKH. Chiến lƣợc này sẽ là cơ sở để phát huy
năng lực của quốc gia, tiến hành đồng thời các giải pháp thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải
KNK, bảo đảm an toàn tính mạng ngƣời dân và tài sản, nhằm đạt đƣợc mục tiêu PTBV. Ở Việt
Nam, tùy từng giai đoạn với những diễn biến của điều kiện môi trƣờng thực tế, Đảng và Nhà nƣớc
đã chỉ đạo xây dựng các chiến lƣợc, kế hoạch hành động để định hƣớng, thực hiện các mục tiêu ứng
phó với BĐKH đã đề ra.
2.2.3.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu.

đã phát triển theo quan điểm đổi mới về chính sách đối ngoại, góp một phần đáng kể nguồn vốn hỗ
trợ của các nhà tài trợ và các đối tác quốc tế cho công tác QLNN về ứng phó với BĐKH.
2.2.3.7. Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong việc bảo đảm các mục tiêu ứng phó với
biến đổi khí hậu
Kiểm tra, thanh tra, đánh giá là một khâu tất yếu trong chu trình QLNN. Hoạt động kiểm tra,
thanh tra, đánh giá không chỉ là hoạt động nhằm phát hiện những sai phạm trong quá trình thực hiện
mà còn là kênh thông tin để đánh giá, hoàn thiện chính sách, thể chế QLNN về ứng phó với BĐKH;
thu thập những kinh nghiệm, những mô hình ứng phó với BĐKH phù hợp có khả năng khái quát
thành thể chế tầm quốc gia.
2.2.4. Phương thức quản lý
2.2.4.1. Ban hành chính sách, pháp luật
Ban hành chính sách, pháp luật về ứng phó với BĐKH là một trong những phƣơng thức
QLNN về ứng phó với BĐKH có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc ban hành các chính sách, pháp
luật về ứng phó với BĐKH hƣớng đến những mục đích cơ bản:
Thứ nhất, thể chế thể hiện ý chí chung của quốc gia về ứng phó với BĐKH, góp phần tạo lập
sự đồng thuận trong việc tiếp cận, chia sẻ quan điểm, hành động trong ứng phó với BĐKH.
Thứ hai, chính sách, pháp luật xác định trách nhiệm của các chủ thể trong QLNN về ứng phó
với BĐKH, phân định trách nhiệm của cơ quan nhà nƣớc ở trung ƣơng, cơ quan nhà nƣớc ở địa
phƣơng, cơ quan quản lý chuyên ngành, l nh vực, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan
trong QLNN về ứng phó với BĐKH.
Thứ ba, chính sách, pháp luật nhằm hƣớng dẫn các nghiệp vụ liên quan đến QLNN về ứng
phó với BĐKH.
2.2.4.2. Tuyên truyền, vận động
Tuyên truyền, vận động là một phƣơng thức QLNN về ứng phó với BĐKH. Tuyên truyền,
vận động nhằm triển khai và nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách, pháp luật QLNN về ứng
phó với BĐKH, giúp cộng đồng xã hội và các chủ thể liên quan nhận thức đƣợc sự cần thiết QLNN
về ứng phó với BĐKH, huy động sự tham gia của cả cộng đồng xã hội vào quá trình ứng phó với
BĐKH. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, vận động còn hƣớng đến nâng cao trách nhiệm của các cơ
quan nhà nƣớc, cán bộ, công chức trong QLNN về ứng phó với BĐKH.
2.2.4.3. Sử dụng công cụ hành chính, kinh tế và khoa học công nghệ

phó với BĐKH thể hiện qua những chƣơng trình, chiến lƣợc, kế hoạch quản lý v mô, qua hệ thống
pháp luật…
b. Về tổ chức ộ áy và nguồn nhân lực
Bộ máy QLNN và nguồn nhân lực có thể coi là vấn đề có cốt lõi cho nhiệm vụ ứng phó với
BĐKH ở Việt Nam hiện nay. Việc nghiên cứu kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN về BĐKH từ trung
ƣơng đến địa phƣơng là hết sức cần thiết; một mặt, phải có sự nghiên cứu kiện toàn tổ chức đáp ứng
yêu cầu phát triển trƣớc mắt đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2050 với cách nhìn nhận toàn diện có
tính dự báo, bảo đảm sự phù hợp của tổ chức bộ máy ngành trong từng giai đoạn.
c. Yếu tố về tài chính và đầu tư
Theo một số phân tích quốc tế, các nhu cầu về tài chính đối với việc thích ứng với BĐKH
cũng nhƣ giảm thiểu phát thải KNK là rất lớn. Theo Ngân hàng Thế giới, lƣợng vốn cần thiết cho
việc giảm nhẹ, thích ứng và công nghệ là rất lớn, có thể lên tới 140-175 tỷ USD mỗi năm trong
vòng 20 năm tới. Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2050, đầu tƣ toàn cầu cho BĐKH có thể lên tới
30 - 100 tỷ USD. Thế nhƣng, những nỗ lực nhằm huy động vốn cho việc giảm nhẹ và thích ứng là
chƣa đủ, hiện mới chỉ đáp ứng 5% nhu cầu tính toán trong tƣơng lai.
9


d. Yếu tố hoa học và c ng nghệ
Khoa học công nghệ đóng vai trò then chốt trong ứng phó BĐKH, là cơ sở để tìm ra các biện
pháp thích ứng và giảm nhẹ với BĐKH. Nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ là cơ sở để ban
hành chính sách, thể chế ứng phó với BĐKH của Nhà nƣớc.
2.2.6.2. Yếu tố khách quan
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia nếu muốn phát triển không thể nằm ngoài
mối liên hệ với các quốc gia khác... Sự ràng buộc pháp lý đối với một quốc gia chấp nhận khi tham
gia các cấu trúc quốc tế có ảnh hƣởng to lớn công tác QLNN của quốc gia đó. Việt Nam đã tham
gia Công ƣớc khí hậu, phê chuẩn Nghị định thƣ Kyoto và ký kết Thỏa thuận Paris, có ngh a là Việt
Nam phải thực hiện các điều thỏa thuận giữa các bên tham gia Công ƣớc khí hậu, giảm bớt phát thải
KNK, tăng cƣờng hiệu quả sử dụng năng lƣợng đồng thời với việc trồng rừng để ngăn ngừa xâm
nhập mặn, xói lở đất. Song song với đó Việt Nam đang nhận đƣợc sự hỗ trợ từ các nƣớc phát triển

riêng biệt trong văn bản luật mà vẫn đƣợc lồng ghép vào hoạt động BVMT nói chung. Vì vậy, cần
nghiên cứu và làm rõ các nội dung quản lý nhƣ: ban hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật
trong ứng phó với BĐKH; xây dựng chiến lƣợc, kế hoạch, chƣơng trình ứng phó với BĐKH; tổ
chức bộ máy và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực nhằm ứng phó hiệu quả với BĐKH; huy động
mọi nguồn lực trong và ngoài nƣớc để ứng phó với BĐKH; hợp tác quốc tế; thanh tra, kiểm tra và
xử lý vi phạm trong hoạt động QLNN về ứng phó với BĐKH.
Thứ ba, QLNN về ứng phó với BĐKH chịu ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố tác động cả chủ quan
lẫn khách quan nhƣ: thể chế, chính sách; tổ chức bộ máy; đầu tƣ tài chính; khoa học và công nghệ
và các yếu tố mang tính quốc tế.
Thứ tư, tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia có điều kiền hoàn cảnh tƣơng tự nhƣ Việt
Nam hoặc có những hành động phù hợp với điều kiện, khả năng của Việt Nam để từ đó rút ra đƣợc
những bài học kinh nghiệm trong QLNN về ứng phó với BĐKH ở Việt Nam hiện nay.
Chƣơng 3
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ỨNG PHÓ
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
3.1. Khái quát về biến đổi khí hậu và ứng phó biến đổi khí hậu ở Việt Nam
3.1.1. Khái quát về vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu của Việt Nam
Vị trí địa lý là một trong những yếu tố quan trọng quyết định việc hình thành khí hậu Việt
Nam. Lãnh thổ Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dƣơng, thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, trải dài
trên 15 v độ từ Bắc xuống Nam với khoảng 3.260 km bờ biển. Là một quốc gia có vị trí địa lý nằm
trọn vẹn trong dải nội chí tuyến nên mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam đều có mặt trời đi qua thiên
đỉnh hai lần trong một năm. Bị chi phối bởi ba nhân tố hình thành là bức xạ, hoàn lƣu và điều kiện
địa lý, nằm trong khu vực gió mùa Châu Á điển hình, có thể nói một cách khái quát “Khí hậu Việt
Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa với miền Bắc có mùa đông lạnh”.
3.1.2. Khái quát thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Không nằm ngoài xu thế BĐKH toàn cầu, ở Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ
trung bình hàng năm tăng khoảng 0,5oC, mực nƣớc biển đã dâng khoảng 20 cm.
Theo kết quả nghiên cứu nêu trong Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai
và các hiện tƣợng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH, chỉ tính trong 15 năm (1996 - 2011),
các loại thiên tai nhƣ: Bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai

Trên cơ sở chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng về chủ động ứng phó BĐKH gắn liền với phát
triển KT-XH theo hƣớng PTBV, Quốc hội, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành nhiều văn
bản. Vấn đề BĐKH mặc dù đã xuất hiện trong các văn bản Luật (Luật BVMT năm 2014, Luật Khí
tƣợng thủy văn năm 2015, Luật Tài nguyên nƣớc, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng
sinh học, Luật Đê điều v.v…) nhƣng vẫn còn rải rác. Điều này dẫn đến nguy cơ thiếu toàn diện,
hoàn chỉnh và không đầy đủ về nội dung pháp luật. Điều này sẽ hạn chế khả năng nhà nƣớc áp dụng
các biện pháp khuyến khích hoặc các chế tài đối với hành vi tƣơng ứng bởi lẽ về nguyên tắc, chỉ có
pháp luật mới có thể tác động trực tiếp làm thay đổi hành vi của các chủ thể. Để thay đổi điều này,
nhu cầu về việc luật hóa các quy định trong l nh vực BĐKH cần đƣợc nghiên cứu và đề xuất.
- Về ban hành chính sách, pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành.
Nội dung các văn bản này đã tập trung vào việc tổ chức thực hiện cập nhật kịch bản BĐKH
và NBD; đánh giá tác động của BĐKH, NBD đến một số khu vực trọng điểm; Nghiên cứu khoa
học, ứng dụng, phát triển công nghệ trong ứng phó với BĐKH và NBD; khung ma trận chính sách;
phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với BĐKH; giảm phát thải KNK thông qua nỗ lực hạn chế
mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lƣợng cácbon rừng; sử dụng năng lƣợng tiết kiệm và hiệu quả.

3.2.2. Xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu
Chính phủ đã kịp thời xây dựng và triển khai thực hiện:(i) Chiến lược quốc gia về biến đổi
khí hậu; (ii) Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; (iii) Chương trình ục tiêu quốc gia về ứng
phó với biến đổi khí hậu; (iv)Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu; (v) KHHĐ ứng phó
với biến đổi khí hậu; (vi) Đề án giảm phát thải KNK; (vii) Chiến lược PTBV Việt Nam; (viii) Về Cơ
chế phát triển sạch; (ix) Kế hoạch Châu thổ sông Cửu Long
3.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu
Bộ máy QLNN về ứng phó với BĐKH là một nhân tố có ý ngh a rất quan trọng trong công
tác ứng phó với BĐKH của Việt Nam. Hệ thống tổ chức bộ máy QLNN về BĐKH cần đƣợc chú
trọng xây dựng, hoàn thiện theo hƣớng theo hƣớng tập trung, tổng hợp, thống nhất đầu mối.
Trên cơ sở Nghị định số 36/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT, Bộ trƣởng Bộ TN&MT đã ban hành Quyết định số
1266/QĐ-BTNMT ngày 25 tháng 5 năm 2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Cục Biến đổi khí hậu. Theo đó, Cục BĐKH là tổ chức trực thuộc Bộ TN&MT, có chức

phó với BĐKH và cứu trợ, khắc phục thiên tai.
Nguồn vốn vay ƣu đãi và viện trợ của nƣớc ngoài đƣợc ƣu tiên huy động để có nguồn
lực lớn và tập trung cho ứng phó với BĐKH. Bƣớc đầu hình thành cơ chế huy động nguồn lực hợp
tác quốc tế để ứng phó với BĐKH nhƣ Chƣơng trình SP-RCC là chƣơng trình cho vay theo phƣơng
thức hỗ trợ ngân sách, với Nhật Bản là nhà tài trợ chính và một số nhà tài trợ khác. Chƣơng trình
nhằm hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam thực hiện Chƣơng trình NTP-RCC và NCCS, trong đó dành
phần lớn cho các dự án của các bộ, địa phƣơng về ứng phó với BĐKH theo tiêu chí lựa chọn dự án
đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt.
Tuy nhiên, cùng chung với xu hƣớng của quốc tế, các chính sách về cơ chế tài chính ứng phó
BĐKH tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu trong tƣơng lai.
3.2.6. Hợp tác quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu
Thời gian qua, công tác hợp tác quốc tế về BĐKH tiếp tục đƣợc đẩy mạnh. Bên cạnh các đối
tác truyền thống, các mối quan hệ hợp tác với các đối tác, nhà tài trợ mới cũng không ngừng đƣợc
tăng cƣờng, mở rộng. Ngoài các đối tác phát triển tham gia chính thức Chƣơng trình SP-RCC nhƣ
đã nêu ở trên, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác chặt chẽ với Vƣơng quốc Anh, Vƣơng quốc
Đan Mạch, Hà Lan, Canada, Na uy, Phần Lan, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Chƣơng trình
Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chƣơng trình Môi trƣờng của Liên hợp quốc (UNEP) và
nhiều đối tác khác trong việc hỗ trợ Việt Nam ứng phó với BĐKH.
COP21 diễn ra vào cuối năm 2015 tại Pháp, với Thỏa thuận Paris đƣợc ký kết, ghi dấu mốc
lần đầu tiên tất cả các quốc gia cùng cam kết tham gia cuộc chiến chống sự nóng lên của Trái đất.
Điểm nổi bật trong Thỏa thuận này là tính linh hoạt, nhờ đó đáp ứng đƣợc sự khác biệt về lợi ích
quốc gia của 195 quốc gia tham gia. Thỏa thuận này cũng khẳng định một xu thế không thể đảo
ngƣợc về việc sử dụng năng lƣợng trên toàn cầu hiện nay. Gần đây nhất là COP22 diễn ra tháng 11
năm 2016 tại thành phố Ma-ra-két, Ma-rốc, Việt Nam tái khẳng định cam kết và kêu gọi nỗ lực các
bên trong ứng phó với BĐKH. Đáng chú ý tại Hội nghị lần này, tuyên bố Hành động Ma-ra-két về
khí hậu và PTBV đã đƣợc các Bên thông qua nhằm kêu gọi các Bên thống nhất hành động trong
ứng phó với BĐKH, thực hiện các mục tiêu PTBV.

13


Các ngành, các cấp của nhiều địa phƣơng đã phối hợp thực hiện khá tốt công tác tuyên
truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức, ngƣời lao động và ngƣời dân về
BĐKH, từ đó hình thành ý thức trong việc sử dụng tiết kiệm năng lƣợng, giảm lƣợng chất thải
nhằm hạn chế phát thải KNK.
3.3.2. Những hạn chế
Quy hoạch phát triển KT-XH của các ngành, l nh vực và địa phƣơng đa phần chƣa đƣợc bổ
sung yếu tố BĐKH. KHHĐ ứng phó với BĐKH còn nhiều điểm bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc các
yêu cầu thực tế. Vẫn còn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng chƣa thành lập Ban chỉ đạo về
ứng phó BĐKH để thống nhất trong công tác chỉ đạo, điều hành ứng phó với BĐKH ở địa phƣơng.
3.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
3.3.3.1. Về nguyên nhân chủ quan
BĐKH là vấn đề toàn cầu, tác động toàn diện lên mọi mặt đời sống KT-XH, con ngƣời, môi
trƣờng, đe dọa PTBV của đất nƣớc nhƣng chỉ mới đƣợc đề cập mang tính nguyên tắc trong một số
văn kiện của Đảng, chƣa đủ tạo nên quyết tâm cao, ý chí mạnh mẽ, huy động sức mạnh của cả hệ
thống chính trị để sớm hình thành thế chủ động ứng phó.
Nhận thức về BĐKH, bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng trên thế giới diễn biến nhanh, gắn với
nhận thức vị trí của con ngƣời đối với thiên nhiên, về mô hình phát triển, mẫu hình tiêu thụ và thái
độ ứng xử của con ngƣời với thiên nhiên, môi trƣờng. Các chủ trƣơng, giải pháp của Đảng chƣa có
các mũi đột phá về hƣớng này, đặc biệt là các chủ trƣơng, giải pháp thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế,
chuyển đổi mô hình tăng trƣởng theo hƣớng hài hòa với thiên nhiên, thân thiện với môi trƣờng,
thích ứng với BĐKH, hƣớng tới nền kinh tế xanh và PTBV. Nhận thức và tầm nhìn của các cấp uỷ,
chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về BĐKH chƣa đầy đủ, thiếu thống nhất, còn thiên về lợi
ích kinh tế trƣớc mắt, còn chƣa coi trọng PTBV.
14


Một số chủ trƣơng, chính sách, pháp luật chƣa đƣợc quán triệt và thể chế hoá đầy đủ, kịp
thời. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ; một số cơ chế, chính sách chƣa sát với thực tế, thiếu tính
khả thi.
Chất lƣợng công tác dự báo và quy hoạch còn nhiều hạn chế, chƣa theo kịp yêu cầu phát triển,

Nam trong thời gian qua, tác giả nhận thấy: Việt Nam đã tiếp cận với vấn đề BĐKH từ khá sớm và
nhận định vấn đề BĐKH là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị. Điều này đƣợc minh chứng bởi
số lƣợng lớn văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến BĐKH đã đƣợc ban hành; những Chƣơng
trình, KHHĐ, Chiến lƣợc quốc gia về BĐKH đã đƣợc ban hành và triển khai rộng khắp cả nƣớc; Bộ
máy QLNN về ứng phó với BĐKH đã và đang dần đƣợc kiện toàn từ Trung ƣơng đến địa phƣơng.
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động QLNN về ứng phó với BĐKH vẫn còn tồn tại những hạn chế
nhƣ:
- Nhận thức về vấn đề BĐKH đã đƣợc nâng lên nhƣng chƣa theo kịp với mức độ tác động của
BĐKH. BĐKH mới chỉ đƣợc coi là nguy cơ mà chƣa đƣợc quan tâm đúng mức tới việc chuyển đổi
lối sống, tập quán sản xuất và tiêu thụ theo định hƣớng cac-bon thấp, PTBV.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy nhƣng chƣa đủ, phần lớn mới chỉ chú trọng vào
phòng, chống thiên tai mà chƣa coi trọng đúng mức tới thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải
KNK. Một số nội dung liên quan đến ứng phó BĐKH trong các chƣơng trình, chiến lƣợc, kế hoạch,
đề án còn chồng chéo, chƣa nhất quán.

15


- Bộ máy QLNN mới chỉ đƣợc thiết lập ở cấp trung ƣơng với đội ngũ cán bộ còn thiếu về số
lƣợng và yếu về chuyên môn. Chƣa kiện toàn bộ máy QLNN về ứng phó với BĐKH; Ở địa phƣơng,
cán bộ phụ trách công tác ứng phó với BĐKH chủ yếu là kiêm nhiệm, chƣa đƣợc đào tạo chuyên
môn về l nh vực BĐKH.
- Chƣa có cơ chế, chính sách để khuyến khích thu hút sự tham gia đầu tƣ của cộng đồng.
- Nguồn lực cho ứng phó với BĐKH còn rất hạn chế, phân tán từ nhiều nguồn, cơ chế phân
bổ vốn cho BĐKH còn bất cập.
Từ những hạn chế nhƣ trên, việc hoàn thiện QLNN về ứng phó với BĐKH cần đƣợc xem xét
ở nhiều khía cạnh để đƣa ra đƣợc phƣơng hƣớng và giải pháp phù hợp, toàn diện.
Chƣơng 4
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

2010, giảm tiêu hao năng lƣợng tính trên đơn vị GDP từ 1 – 1,5% mỗi năm, giảm lƣợng phát thải
KNK trong các hoạt động năng lƣợng từ 10 – 20% so với phƣơng án phát triển thông thƣờng. Đƣa
giảm nhẹ phát thải và hấp thụ KNK thành các chỉ tiêu trong phát triển KT-XH; xây dựng đƣợc thị
trƣờng cac-bon trong nƣớc và tích cực tham gia thị trƣờng tín chỉ cac-bon quốc tế.
4.1.3. Nhiệm vụ trọng tâm
Tiếp tục quán triệt sâu sắc, tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết 24-NQ/TW để các cấp, các ngành và
mọi ngƣời dân đều nhận thức đầy đủ và có trách nhiệm cao trong việc ứng phó với BĐKH, phòng tránh
16


giảm nhẹ thiên tai, tăng cƣờng quản lý tài nguyên, BVMT để thích nghi, PTBV; Chuẩn bị mọi điều kiện
về thể chế, năng lực các bộ, ngành, địa phƣơng để triển khai đầy đủ, toàn diện các nội dung của Thỏa
thuận Paris từ năm 2020 trở đi; trong đó có một số nội dung liên quan đến thích ứng với BĐKH, trồng
rừng có thể triển khai ngay từ trƣớc năm 2020; Thể chế hóa các nội dung quan trọng đƣợc nêu trong Nghị
quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về BĐKH, NBD; rà soát, cập nhật, hoàn thiện hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật liên quan đến các nhiệm vụ ứng phó BĐKH, phòng tránh thiên tai. Chú trọng lồng
ghép vấn đề BĐKH vào trong chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển. Tập trung nghiên cứu, xây dựng
Luật Biến đổi khí hậu;
4.2. Xu thế biến đổi khí hậu và kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam
4.2.1. Xu thế biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong thế kỷ XXI
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu, đến cuối thế
kỷ XXI, hàm lƣợng khí CO2 trong khí quyển sẽ đạt 540 - 970ppm theo các kịch bản khác nhau về
phát thải KNK, ngh a là tăng ít nhất gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp, và nhƣ vậy, nhiệt độ
trung bình toàn cầu sẽ tăng lên tƣơng ứng là 1,1oC – 6,4oC, mực nƣớc biển trung bình toàn cầu sẽ
tăng lên từ 0,18 đến 0,59m so với cuối thế kỷ XX.
Theo các Kịch bản BĐKH, ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm sẽ tăng thêm 20C vào năm
2050 và 2,50C vào năm 2070 so với trung bình thời kỳ 1961 - 1990. Dự tính đến năm 2100, nhiệt độ
sẽ tăng khoảng 30C. Nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm tăng số đợt nắng nóng và số ngày nắng nóng
hàng năm. Mực nƣớc biển trung bình có thể tăng 35cm vào năm 2050, 50cm vào năm 2070 và dự
tính đến năm 2100, có thể tăng khoảng 1m.

nguyên tắc, chỉ có pháp luật mới có thể tác động trực tiếp làm thay đổi hành vi của các chủ thể tƣ
nhân, các chiến lƣợc, KHHĐ chỉ có tác động đến các cơ quan nhà nƣớc. Để thay đổi điều này, nhu
17


cầu về việc luật hóa các quy định trong l nh vực BĐKH đã đƣợc đặt ra. L nh vực BĐKH đã có tính
ổn định lâu dài hơn so với trƣớc đây. Pháp luật về BĐKH cũng đã đƣợc nhiều nƣớc khác trên thế
giới nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm. Do đó, Việt Nam nên ban hành Luật BĐKH.
4.3.3. Hoàn thiện chiến lược, quy hoạch, chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu
Thỏa thuận Paris đƣợc thông qua tại COP21 vào tháng 12 năm 2015 và có hiệu lực từ
04/11/2016, là văn bản pháp lý toàn cầu đầu tiên ràng buộc trách nhiệm của tất cả các Bên trong
ứng phó với BĐKH. Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Thỏa thuận Paris tại Nghị quyết số 93/NQCP ngày 31/10/2016 và đã trình văn bản phê duyệt lên Liên Hợp quốc ngày 04/11/2016. Đồng thời,
Thủ tƣớng Chính phủ cũng đã phê duyệt Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris tại Quyết định số
2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 làm cơ sở để các Bộ, ngành, địa phƣơng, doanh nghiệp, tổ chức cá
nhân Việt Nam ứng phó với BĐKH từ nay đến năm 2020 và 2030. Bên cạnh đó, Kịch bản BĐKH
và NBD cho Việt Nam cũng mới đƣợc cập nhật năm 2016 với cách tiếp cận mới. Vì vậy, cần cập
nhật và điều chỉnh lại chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch và chƣơng trình ứng phó với BĐKH để phù
hợp với bối cảnh.
4.3.4. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu
Kiện toàn năng lực tổ chức bộ máy cho các đơn vị từ cấp Trung ƣơng (Quốc hội, Các Bộ, cơ
quan ngang Bộ và cơ quan trực thuộc Chính phủ) đến cấp địa phƣơng (UBND các cấp Tỉnh/thành
phố, Quận/huyện, Phƣờng/xã) để bảo đảm thực hiện hiệu quả công tác QLNN về l nh vực BĐKH.
Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngành, địa phƣơng, đảm bảo quản lý tài
nguyên thống nhất, hiệu lực, hiệu quả và không chồng chéo.
BĐKH là vấn đề liên ngành, liên vùng đòi hỏi sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan
QLNN với nhau. Tuy vậy, mỗi cơ quan lại có những chức năng, nhiệm vụ khác nhau, mục tiêu,
động lực khác nhau nên việc tạo ra một cơ chế phối hợp và phân công giữa các cơ quan này là rất
quan trọng. Nếu cơ chế đó lỏng lẻo thì có thể khiến cho các cơ quan chỉ chạy theo mục đích của
mình và sẽ làm ảnh hƣởng tới mục đích chung. Nhƣng nếu cơ chế đó quá cứng nhắc thì có thể khiến
các cơ quan này không thể đồng thuận và cản trở lẫn nhau trong việc thông qua các chính sách

chƣơng 3, quan điểm để huy động, sử dụng và quản lý nguồn lực tài chính nhằm giảm thiểu và thích
ứng với BĐKH ở Việt Nam đƣợc xác định là: đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho ứng phó với
BĐKH và bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng; kết hợp tăng chi từ ngân sách với tăng cƣờng, đa dạng
hóa các nguồn vốn đầu tƣ, ƣu tiên vốn vay ƣu đãi, tích cực huy động nguồn tài trợ không hoàn lại
của các tổ chức quốc tế, chính phủ các nƣớc; đẩy mạnh hợp tác công, tƣ và huy động các nguồn lực
trong xã hội bảo đảm nguồn lực tài chính để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về ứng phó với
BĐKH và bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng; vận dụng linh hoạt phù hợp với điều kiện nƣớc ta các
nguyên tắc PTBV, nhƣ ngƣời gây ô nhiễm phải trả chi phí xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi môi
trƣờng; ngƣời hƣởng lợi từ tài nguyên, môi trƣờng phải trả tiền để hình thành cơ chế tạo nguồn thu
từ tài nguyên, môi trƣờng đầu tƣ trở lại cho công tác bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng; Tăng cƣờng, áp
dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách ƣu đãi, hỗ trợ nhƣ vay vốn ƣu đãi, giảm thuế, trợ giá đối với
hoạt động ứng phó với BĐKH và bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng.
4.3.7. Tăng cường hợp tác quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu
Hợp tác, kết nối với các chƣơng trình quốc tế và khu vực, trao đổi thông tin, thiết lập mạng
lƣới đối tác song phƣơng và đa phƣơng về BĐKH liên quan.
Xây dựng và đề xuất các đề tài, dự án, tìm nguồn tài trợ của cộng đồng quốc tế cho hoạt
động giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, trong đó quan tâm đến các l nh vực quản lý và phát triển
vùng đới bờ, l nh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, cung cấp nguồn nƣớc sạch, nhà ở cho
các hộ dân cƣ nghèo...
Học tập trao đổi kinh nghiệm về các hoạt động giảm thiểu và thích ứng với BĐKH đối với
các nƣớc có điều kiện tƣơng tự trên thế giới và trong khu vực thông qua các hoạt động hợp tác quốc
tế. Xây dựng các cơ chế thích hợp, tạo điều kiện để cán bộ đƣợc tham dự các khóa đào tạo, tập
huấn, tham quan khảo sát chuyên đề ở nƣớc ngoài, học hỏi các kinh nghiệm phục vụ ứng dụng
trong thực tế trong công tác giảm thiểu và thích ứng với BĐKH. Đặc biệt trong các l nh vực nhƣ:
thông tin dự báo, cảnh báo, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, yêu cầu cứu trợ, chỉ đạo, chuẩn bị phòng
tránh, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai với các tỉnh trong vùng và các nƣớc trong khu vực.
4.3.8. Thanh tra, kiểm tra trong việc bảo đảm các mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu
Những năm qua, hoạt động thanh tra, kiểm tra trong việc bảo đảm các mục tiêu ứng phó với
BĐKH luôn đƣợc Bộ TN&MT xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của QLNN song
song với việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về TN&MT và ứng phó với BĐKH.

7
8

Giải pháp hoàn thiện QLNN về
ứng phó với BĐKH

Rất
quan
trọng
Nâng cao nhận thức về ứng phó
233
với BĐKH
(61,3%)
Nâng cao chất lƣợng của chiến
162
lƣợc, quy hoạch, chƣơng trình (42,7%)
ứng phó với BĐKH
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy
218
phạm pháp luật về ứng phó với (57,3%)
BĐKH
Kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN
127
về ứng phó với BĐKH
(33,3%)
Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân
142
lực ứng phó với BĐKH
(37,3%)
Huy động và mở rộng nguồn lực

(32%)
(4%)
(0%) (2,7%)
182
20
5
10
5
(48%)
(5,3%) (1,3%) (2,7%)
142
(37,3%)

10
(2,7%)

0
(0%)

10
(2,7%)

2

152
76
(40%)
(20%)
172
56

(0%)

10
(2,7%)
15
(4%)

3

20
(5,3%)
106
(28%)

6
4

8

(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả)
Từ kết quả khảo sát cho thấy, các giải pháp có tính cấp thiết và tính khả thi khá cao. Điều
này cho thấy, khả năng vận dụng các giải pháp vào thực tiễn QLNN về ứng phó với BĐKH là có
thể thực hiện đƣợc và hứa hẹn đem lại những kết quả tích cực đối với công tác ứng phó với BĐKH.
4.4.2. Điều kiện thực hiện các giải pháp
4.4.2.1. Điều kiện về thể chế
Hiện nay, hệ thống thể chế QLNN về ứng phó với BĐKH ở nƣớc ta còn chƣa thống nhất và
chồng chéo gây khó khăn cho thực tiễn quản lý. Do vậy, muốn đảm bảo công tác QLNN tốt thì phải
đồng bộ hóa hệ thống thể chế, cụ thể phải thống nhất trong các quy định của pháp luật của các bộ,
ngành. Các quy định của pháp luật phải đảm bảo rõ ràng, thống nhất, đặc biệt là những quy định về
quản lý, phân cấp quản lý phải khoa học và đồng bộ. Mặt khác, hệ thống pháp luật phải tạo ra hành

đó, cần có những đổi mới trong chính sách tiền lƣơng cho cán bộ quản lý của các địa phƣơng phải kiêm
nhiệm về BĐKH để tạo động lực nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4
BĐKH đang diễn biến ngày càng khôn lƣờng và khó nhận định. Trong bối cảnh cả thế giới
đang chung tay chống lại BĐKH toàn cầu; đồng thời Việt Nam cũng là quốc gia chịu nhiều ảnh
hƣởng nặng nề bởi BĐKH và NBD nên Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những hành động kịp thời để
ứng phó với BĐKH. Điển hình là Nghị quyết số 24-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trung ƣơng khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cƣờng quản lý tài nguyên và BVMT.
Tại đây, BĐKH đƣợc coi là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại
trong thế kỷ XXI. Ứng phó với BĐKH phải đƣợc đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là
thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trƣởng theo hƣớng PTBV. Phải tiến
hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với BĐKH, chủ động phòng, tránh thiên
tai là trọng tâm và vai trò của Nhà nƣớc là hết sức quan trọng. Vì vậy, hoàn thiện QLNN về ứng
phó với BĐKH là một nhu cầu cấp thiết để đảm bảo những mục tiêu đã cam kết của Việt Nam với
thế giới.
Trên cơ sở lý luận và thực trạng công tác QLNN về ứng phó với BĐKH ở Việt Nam trong
Chƣơng 2 và Chƣơng 3, nghiên cứu sinh đã đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn
chế còn tồn tại, nhƣ sau:
Một là, nâng cao nhận thức về ứng phó với BĐKH;
Hai là, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về ứng phó với BĐKH;
Ba là, hoàn thiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chƣơng trình ứng phó với BĐKH;
Bốn là, kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN về ứng phó với BĐKH;
Nă là, phát triển nguồn nhân lực ứng phó với BĐKH;
Sáu là, huy động, mở rộng nguồn lực và xã hội hóa để ứng phó với BĐKH;
Bảy là, tăng cƣờng hợp tác quốc tế về ứng phó với BĐKH; và
Tán là, thanh tra, kiểm tra trong l nh vực ứng phó với BĐKH.

21



phó phù hợp.
Thứ hai, QLNN về ứng phó với BĐKH cần nghiên cứu và làm rõ các nội dung quản lý nhƣ:
ban hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; xây dựng chiến lƣợc, kế hoạch, chƣơng trình ứng
phó với BĐKH; tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực; huy động mọi nguồn lực; hợp tác quốc tế;
thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động QLNN về ứng phó với BĐKH.
Thứ ba, hoạt động QLNN về ứng phó với BĐKH chịu ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố tác động
khách quan và chủ quan nhƣ: thể chế, chính sách; tổ chức bộ máy; đầu tƣ tài chính; khoa học và
công nghệ và các yếu tố mang tính quốc tế.
Thứ tư, tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia có điều kiền hoàn cảnh tƣơng tự nhƣ
Việt Nam để hoàn thiện QLNN về ứng phó với BĐKH của Việt Nam.
3. Thực trạng QLNN về ứng phó với BĐKH ở Việt Nam trong thời gian qua, bên cạnh
những thành công bƣớc đầu vẫn còn tồn tại những hạn chế sau:
Thứ nhất, nhận thức về vấn đề BĐKH đã đƣợc nâng lên nhƣng chƣa theo kịp với mức độ tác
động của BĐKH. BĐKH mới chỉ đƣợc coi là nguy cơ mà chƣa đƣợc xem là cơ hội để thúc đẩy theo
hƣớng PTBV đất nƣớc;
Thứ hai, hệ thống chính sách, pháp luật đầy nhƣng chƣa đủ;
Thứ ba, cơ chế, chính sách chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc và khuyến khích thu hút
sự tham gia đầu tƣ của cộng đồng;
Thứ tư, bộ máy QLNN mới chỉ đƣợc thiết lập ở cấp trung ƣơng với đội ngũ cán bộ còn thiếu
về số lƣợng và yếu về chuyên môn;
Thứ nă , nguồn lực cho ứng phó với BĐKH còn hạn chế;
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status