Thứ nhất, trong mô hình nghiên cứu của luận án, do số lượng biến
nghiên cứu và biến quan sát đưa vào mô hình là khá nhiều, nên thang
đo của một số biến nghiên cứu trong mô hình được thiết kế chưa thật
sâu theo từng nội dung cụ thể. Trên thực tế, Liên tưởng TH, Chất
lượng cảm nhận và Trung thành TH là những khái niệm phức tạp, đa
chiều (multi-dimensional concepts). Các nghiên cứu riêng về từng
thành phần của GTTH với những thang đo đa chiều và sâu hơn có thể
giúp khắc phục hạn chế này.
Thứ hai, mô hình nghiên cứu của luận án được dựa trên mô hình
của Aaker (1991), trong đó xem GTTH tổng thể là biến đầu ra. Trên
thực tế, sự ảnh hưởng giữa các yếu tố cấu thành GTTH và GTTH
tổng thể mang tính tương tác. Một số nghiên cứu lại tiếp cận theo
hướng ngược lại, chẳng hạn Taylor & cộng sự (2004) đã tìm hiểu ảnh
hưởng của GTTH tới Trung thành TH. Các nghiên cứu tương lai có
thể xem xét mối liên hệ ngược lại giữa GTTH và các nhân tố ảnh
hưởng nói trên.
Thứ ba, nghiên cứu mới thực hiện tại một số ít trường ĐH công
lập tại Hà Nội. Có thể có sự khác nhau giữa các trường ĐH tại Hà
Nội và tại các địa phương khác, cũng như là giữa các trường công lập
và các trường ngoài công lập. Để kết quả tin cậy hơn, cần làm những
nghiên cứu thêm tại những địa phương khác hoặc nhóm trường khác.
Các nghiên cứu tiếp theo có thể giúp bổ sung khiếm khuyết này.
Thứ tư, việc đánh giá GTTH và các thành phần của GTTH của
các trường ĐH mới dựa trên sự đánh giá của sinh viên đang theo học
tại trường. Những nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng diện khảo sát
để bao gồm thêm nhóm những nhà tuyển dụng và cựu sinh viên và có
được cái nhìn toàn diện hơn về GTTH trường ĐH.
Thứ năm, giáo dục ĐH là lĩnh vực sản phẩm phức tạp bao gồm
nhiều cấp độ TH khác nhau, trong đó có TH trường, TH khoa-viện,
TH chuyên ngành đào tạo và các TH của chương trình đào tạo (chính
quy, liên kết quốc tế, định hướng thực hành …). Luận án mới nghiên
số trường đại học công lập ngành kinh tế và quản trị kinh doanh tại
Hà Nội”.
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Luận án nhắm đến các mục tiêu nghiên cứu sau đây: (1) Phân tích
bản chất, các thành phần và các nhân tố ảnh hưởng tới GTTH trường
ĐH; (2) Thiết kế thang đo phù hợp cho khái niệm GTTH trường ĐH
và các nhân tố ảnh hưởng tới GTTH trường ĐH; (3) Xây dựng và
kiểm nghiệm mô hình về mối liên hệ giữa GTTH và các nhân tố ảnh
hưởng tới GTTH và (4) Đưa ra những đề xuất nhằm làm tăng GTTH
trường ĐH dựa trên mô hình đã kiểm nghiệm.
Để đạt các mục tiêu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu mà luận án
phải trả lời là: (1) GTTH trường ĐH là gì? GTTH trường ĐH theo
quan điểm người học được đo lường như thế nào? (2) Đâu là những
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lý do từ bối cảnh thực tiễn
Thương hiệu (TH), xây dựng TH và tạo dựng giá trị thương hiệu
(brand equity, viết tắt là GTTH) là vấn đề cực kỳ quan trọng và có ý
nghĩa dài hạn đối với tất cả các tổ chức (Keller 2013). Xây dựng
thương hiệu trong lĩnh vực dịch vụ đã được xem là quan trọng hơn
trong lĩnh vực sản phẩm hữu hình (Krishnan & Hartline 2001).
Giáo dục đại học (ĐH) là loại dịch vụ có hàm lượng vô hình cao,
tác động tới tâm trí con người, là sản phẩm dựa trên uy tín để lựa
chọn và đánh giá (credence goods), do đó TH càng đóng vai trò quan
trọng.
Trong vòng 15 năm qua, số lượng các cơ sở đào tạo ĐH tại Việt
Nam đã tăng nhanh. Sự gia tăng số trường ĐH và loại hình trường
ĐH (công lập, tư thục, quốc tế) đã làm cho sự cạnh tranh giữa các cơ
chương trình, nội dung giảng dạy, thực hành, kiểm tra và đánh giá),
hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động phong trào đoàn thể và
các mảng khác.
4. Đẩy mạnh các chương trình tăng cường lòng trung thành với
thương hiệu. Trung thành TH vừa có ảnh hưởng trực tiếp vừa có ảnh
hưởng trung gian tới GTTH với trọng số đáng kể. Do đó, cần thiết kế
và duy trì các chương trình tăng cường lòng trung thành (loyalty
programs) thông qua mạng lưới cựu sinh viên và tăng cường sự gắn
bó giữa sinh viên đang học và nhà trường (tích điểm thành tích học
tập và rèn luyện, cộng điểm ưu tiên, giảm học phí, tặng học bổng).
5. Lựa chọn và thiết kế các liên tưởng thương hiệu đặc trưng. Mỗi
trường ĐH cần căn cứ vào đặc điểm riêng, thế mạnh và tầm nhìn TH
của nhà trường để lựa chọn hoặc thiết kế mới một số lượng chọn lọc
các liên tưởng TH riêng có, giúp tạo nên tính cách riêng cho trường
mình.
6. Xây dựng và triển khai đồng bộ các chương trình truyền thông
thương hiệu tích hợp. Truyền thông tích hợp về thương hiệu (IBC –
Integrated Brand Communications) đóng vai trò quan trọng trong
việc tăng cường các thành phần của GTTH. Để thực hiện điều này,
cần có sự chỉ đạo thống nhất từ ban lãnh đạo nhà trường, thiết kế
thông điệp xuyên suốt, triển khai nhất quán và đồng bộ trong tất cả
các đơn vị trong trường.
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và gợi ý cho các hướng nghiên cứu
tiếp theo
Bên cạnh những đóng góp tích cực về mặt lý thuyết và thực tiễn,
nghiên cứu cũng còn một số hạn chế.
23
ĐH cho thấy các thang đo đã xây dựng đạt yêu cầu về độ tin cậy. Kết
Phương pháp nghiên cứu của luận án là kết hợp giữa phương pháp
nghiên cứu tài liệu, định tính và định lượng.
Nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu chuyên gia (các
giảng viên lâu năm) và thảo luận nhóm sinh viên đang học ĐH nhằm
khám phá bản chất và các khía cạnh của các biến nghiên cứu.
Nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định mô hình và các giả thuyết
đã đặt ra về mối liên hệ giữa GTTH trường và các nhân tố ảnh
hưởng. Trong nghiên cứu định lượng, các phương pháp phân tích
thống kê mô tả, thống kê suy diễn và mô hình phương trình cấu trúc
tuyến tính SEM (structural equation modelling) sẽ được sử dụng.
Phần mềm hỗ trợ là SPSS 22.0 và AMOS 22.0.
Thi t k
chi n
lư c
marketing
th ng
nh t toàn
trư ng
Xây
d ng
nh n
bi t
thương
hi u
Không
ng ng
nâng cao
1. Thiết kế chiến lược marketing thống nhất toàn trường. Để tác
động tích cực tới GTTH trường, cần có các chiến lược và chương
trình marketing phù hợp và hiệu quả. Ba bước chính trong hoạch định
chiến lược marketing để xây dựng GTTH trường ĐH là: (1) xác định
thị trường mục tiêu; (2) xây dựng chiến lược định vị thương hiệu và
chiến lược tạo sự khác biệt; và (3) thiết kế chiến lược marketing-mix.
2. Xây dựng nhận biết thương hiệu. Theo mô hình nghiên cứu,
22
lượng cảm nhận, liên tưởng thương hiệu và trung thành thương hiệu.
GTTH trường là GTTH tổng thể (overall brand equity) và được đo
lường bằng một thang đo riêng.
Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát thực tế với phần mềm AMOS
22.0 cho thấy mô hình chính có độ phù hợp cao với dữ liệu thực tế
(χ2/df = 2,558; CFI = 0,969; TLI = 0,958 và RMSEA = 0,052). Việc
kiểm định các giả thuyết cũng cho thấy tất cả 4 nhân tố ảnh hưởng (ở
đây là 4 yếu tố cấu thành GTTH) bao gồm Nhận biết TH (Brand
AWareness – BAW), Chất lượng cảm nhận (Perceived Quality –
PQ), Liên tưởng TH (Brand Association – BAS) và Trung thành TH
(Brand Loyalty - BL) đều có ảnh hưởng tích cực tới GTTH tổng thể
(Overal Brand Equity – BE). Phương trình hồi quy thể hiện ảnh
hưởng tổng hợp (vừa trực tiếp vừa gián tiếp) của các yếu tố cấu thành
GTTH tới GTTH tổng thể của trường ĐH là:
BE = 1,031.BAW + 0,530.PQ + 0,188.BAS + 0,410.BL
Mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành GTTH cũng được khám phá
và khẳng định trong luận án. Theo mô hình nghiên cứu chính, Nhận
biết thương hiệu có ảnh hưởng tích cực tới Chất lượng cảm nhận,
Liên tưởng thương hiệu và Trung thành thương hiệu. Chất lượng cảm
nhận cũng có tác động tích cực (cùng chiều) tới Liên tưởng thương
ĐH và các nhân tố ảnh hưởng với cỡ mẫu là 587 sinh viên tại 4
trường ĐH công lập đào tạo về kinh tế và kinh doanh ở Hà Nội. Các
nhân tố ảnh hưởng ở đây chính là các yếu tố cấu thành nên GTTH
theo mô hình của Aaker (1991), bao gồm nhận biết thương hiệu, chất
3
Phương trình hồi quy thể hiện ảnh hưởng tổng hợp (vừa trực tiếp vừa
gián tiếp) của Nhận biết TH, Chất lượng cảm nhận và Liên tưởng TH
đến Trung thành TH là:
BL = 0,729.BAW + 0,441.PQ + 0,149.BAS
Nhận biết TH và Chất lượng cảm nhận cũng có ảnh hưởng vừa
trực tiếp đến Liên tưởng TH theo phương trình hồi quy:
BAS = 0,631.BAW + 0,293.PQ
4.7 Bàn luận về kết quả nghiên cứu
So với lý thuyết và các nghiên cứu tương tự về GTTH, kết quả
nghiên cứu của luận án có những điểm tương đồng như sau: (1) Các
biến số Nhận biết TH, Chất lượng cảm nhận, Liên tưởng TH và
Trung thành TH cùng có ảnh hưởng tích cực (cùng chiều) tới GTTH
tổng thể; (2) Nhận biết TH, Chất lượng cảm nhận, Liên tưởng TH và
Trung thành TH không độc lập với nhau, mà có liên hệ qua lại với
quan hệ đồng biến (cùng chiều).
Điểm khác của kết quả nghiên cứu so với những nghiên cứu tương
tự là giá trị của các hệ số ảnh hưởng trong mô hình và phương trình
hồi quy. Theo kết quả nghiên cứu của luận án, nhận biết TH, chất
lượng cảm nhận, trung thành TH có ảnh hưởng chủ yếu đến GTTH
tổng thể trong khi liên tưởng TH có ảnh hưởng ít nhất. Trên thực tế,
giá trị của các hệ số ảnh hưởng này ở các nghiên cứu khác nhau cũng
rất khác nhau. Điều này là do mục tiêu, mô hình nghiên cứu, cách
thức đo lường các biến nghiên cứu, lĩnh vực sản phẩm, thị trường và
đối tượng khảo sát là khác nhau.
0,429
0,602
1,031
Ch t lư ng
c m nh n
PQ
0,312
0,218
0,530
Liên tư ng
thương hi u
BAS
0,127
0,061
0,188
Trung thành
thương hi u
BL
0,410
0,000
0,410
Phương trình hồi quy thể hiện ảnh hưởng tổng hợp của các biến số
BAW, PQ, BAS và BL tới giá trị thương hiệu chung BE là như sau:
BE = 1,031.BAW + 0,530.PQ + 0,188.BAS + 0,410.BL
Theo phương trình này, khi xét cả tác động trực tiếp và gián tiếp,
thì ảnh hưởng của Nhận biết TH tới GTTH là lớn nhất, thứ nhì là
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU
1.1 Khái niệm thương hiệu và giá trị thương hiệu
Có nhiều định nghĩa về giá trị thương hiệu (brand equity) như trong
Aaker (1991), Keller (1993), Trương Đình Chiến (2005, tr. 117-118),
Kotler & Keller (2012), Keller (2013) và Hiệp hội Marketing Mỹ
20
(American Marketing Association, 2015).
Mặc dù có những cách phát biểu khác nhau, nhưng tất cả đều có
những điểm chung là: (1) GTTH là giá trị mà TH đem lại cho sản
phẩm hay tổ chức mang tên nó, có được từ sự khác nhau trong đáp
ứng của người tiêu dùng đối với tên TH; (2) Những sự khác nhau
trong đáp ứng của người tiêu dùng có được từ kiến thức, nhận thức,
thái độ, cảm nhận, trải nghiệm và niềm tin của người tiêu dùng gắn
với TH.
1.2 Các mô hình nền tảng về giá trị thương hiệu
1.2.1 Mô hình giá trị thương hiệu của Aaker (1991)
David Aaker (1991) đã đề xuất mô hình cho rằng GTTH là một khái
niệm gồm 5 thành phần chính là: Nhận biết TH (BAW), Chất lượng
cảm nhận (PQ), Liên tưởng TH (BAS), Trung thành TH (BL), và các
tài sản khác gắn với tên TH (other proprietary assets). Trong lĩnh vực
marketing, bốn thành phần đầu tiên được quan tâm nghiên cứu nhiều,
còn thành phần thứ năm thì hầu như không được đề cập vì nó không
gắn với nhận thức của khách hàng về TH.
Theo quan điểm đo lường gián tiếp, GTTH sẽ được đo lường,
đánh giá thông qua 4 thành phần chính nêu trên. Ngược lại, theo quan
điểm đo lường trực tiếp, GTTH được xem là một khái niệm với thang
Critical
Ratio
(t-Stat)
pvalue
0,067
0,078
0,065
0,076
0,068
5,296
4,577
3,906
5,544
2,654
***
***
***
***
0,008
chu n hóa
H6
H7
H8
H9
p nh
p nh
p nh
n
n
n
n
n
Chú thích:
•BAW = Nh n bi t thương hi u. PQ = Ch t lư ng c m nh n. BAS = Liên tư ng thương hi u. BL
= Trung thành thương hi u. BE = Giá tr thương hi u t ng th c a trư ng ĐH.
•*** có nghĩa là p-value < 0,001. SE (standard error) là sai l ch chu n. CR (critical ratio) là giá tr
tính toán c a ch tiêu ki m đ nh Student t v tính khác không (0) c a h s beta (h s c a
phương trình h i quy).
4.5 Kiểm định các mô hình thay thế
Bên cạnh mô hình nghiên cứu chính, dưới đây sẽ xem xét một số mô
hình thay thế nhằm so sánh độ phù hợp của các mô hình dựa trên
cùng một bộ số liệu khảo sát. Dựa trên lý thuyết về GTTH, có 3 mô
hình thay thế có thể xem xét dựa trên nguyên tắc loại bỏ dần các mối
liên hệ giữa biến số trong mô hình. Kết quả thu được sau khi so sánh
là như sau (Bảng 4.13).
Bảng 4.13 So sánh độ phù hợp của mô hình chính và các mô hình thay thế
Mô hình
Mô hình
chính
Mô hình
thay th I
0,969
TLI
0,958
RMSEA
K t lu n
0,052 Mô hình
phù h p
105
309,849
2,951
0,959
0,947
0,058
105
716,915
6,828
0,879
trong khi Aaker (1991) nêu 4 thành phần chính. Thành phần Hình
ảnh TH (brand image) của Keller (1993) có thể xem đã ẩn chứa các
thành phần Chất lượng cảm nhận, Liên tưởng TH và Trung thành TH
trong mô hình của Aaker (1991); (2) Quan điểm của Keller (1993) về
2 thành phần của GTTH là logic, nhưng thành phần Hình ảnh TH là
khá trừu tượng về mặt đo lường, trong khi Aaker (1991) là cụ thể hơn
về mặt đo lường GTTH.
Do mô hình của Aaker (1991) có tính cụ thể hơn trong việc đo
lường các khía cạnh của GTTH và thuận tiện hơn trong việc xem xét
ảnh hưởng tương tác giữa các thành phần này, luận án sẽ sử dụng mô
hình của Aaker (1991) trong việc đo lường GTTH và các nhân tố ảnh
hưởng tới GTTH.
1.3 Các nghiên cứu gần đây về giá trị thương hiệu trong lĩnh
vực giáo dục đại học
Chú thích: χ2/df = 2,558; CFI = 0,969; TLI (Tucker-Lewis Index) = 0,958; RMSEA = 0,052; df =
102; Chi-Square = 260,957; Chi-Square/df = 2,558; p-value = 0,000; NPAR = 68.
Hình 4.4 Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu chính
Bảng 4.12 trình bày kết quả kiểm định các hệ số beta đã chuẩn
hoá (standardized regression weights) của mô hình cấu trúc tuyến
tính đã đề xuất. Kết quả cho thấy các hệ số này đều dương với độ tin
cậy trên 99% (p-value
0,001
***
***
chu n hóa
H1
H2
H3
H4
H5
BAW → BE
PQ → BE
BAS → BE
BL → BE
BAW → PQ
0,429
0,312
0,127
0,410
0,714
0,357
0,27
0,126
0,337
0,687
K t lu n
cứu này đã vận dụng mô hình của Aaker (1991) nhưng biến đầu ra
không chính xác là GTTH trường ĐH mà là danh tiếng TH.
Mourad, Ennew & Kortam (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của
đặc điểm người học, nhận biết TH và hình ảnh TH tới GTTH trường
ĐH. Mẫu nghiên cứu thu được bao gồm 135 sinh viên ĐH và 165
học sinh phổ thông chuẩn bị vào ĐH tại Ai Cập. Mô hình nghiên cứu
của Mourad & cộng sự (2011) dựa theo mô hình của Keller (1993)
với hai nhân tố ảnh hưởng chính tới GTTH là nhận biết TH và hình
ảnh TH, với sự bổ sung thêm một nhân tố ảnh hưởng nữa là đặc điểm
của người học. Nghiên cứu này theo mô hình hồi quy đa biến, một số
18
7
hệ số hồi quy của phương trình hồi quy có giá trị âm hoặc không có ý
nghĩa thống kê, phản ánh không thật chính xác quan hệ thực tế.
Pinar & cộng sự (2014) đã thực hiện một nghiên cứu khám phá về
thang đo GTTH trường ĐH dựa trên khảo sát 439 sinh viên tại 30 lớp
học ở một trường ĐH ở vùng Midwestern của nước Mỹ. Các tác giả
muốn đo lường GTTH dựa trên 3 thành phần cũ trong Aaker (1991)
là Nhận biết TH, Chất lượng cảm nhận, Trung thành TH, và các
thành phần mới. Tuy vậy, đây mới là nghiên cứu khám phá về các
thành phần của GTTH.
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Phạm Thị Minh Lý (2014) đã khảo sát 742 sinh viên tại 9 trường ĐH
khối ngành kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm nghiên
cứu ảnh hưởng của các biến đầu vào là nhận biết TH, hình ảnh TH,
chất lượng cảm nhận và trung thành TH tới GTTH (tác giả dịch
“brand equity” là tài sản TH). Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi
CFI > 0,95, TLI > 0,95 và RMSEA < 0,08 (Hu & Bentler 1999;
Hooper & cộng sự 2008). Dựa trên các tiêu chuẩn này, có thể kết
luận là mô hình nghiên cứu chính phù hợp tốt với dữ liệu thực tế.
17
chế sai lầm trong việc xác định nhân tố (Hair & cộng sự, 2009).
Kết quả kiểm định CFA lần 1 trên phần mềm AMOS cho thấy mô
hình CFA này là phù hợp. Các thang đo tiếp tục được kiểm định theo
hệ số tin cậy tổng hợp Composite Reliability ρc và phương sai trích
trung bình AVE (Average Variance Extracted hay ρvc).
Kết quả kiểm định ρc và AVE cho thấy cần loại bỏ thêm biến quan
sát BL4 do biến này có trọng số thấp. Sau khi loại bỏ BL4 và phân
tích CFA lần 2, thang đo của 5 biến nghiên cứu đã đạt yêu cầu, mô
hình CFA lần 2 có χ2/df = 3,522; CFI = 0,948; TLI = 0,932 và
RMSEA = 0,066 (Hình 4.3).
Thang đo của các biến nghiên cứu đã rút gọn sau các phân tích
Cronbach Alpha, EFA và CFA là như sau:
1. GIÁ TR! THƯƠNG HI$U CHUNG
BE1
Kh năng ki m vi c làm phù h p sau khi t t nghi p.
BE2
Kh năng có đư c thu nh p cao sau khi t t nghi p.
BE3
Kh năng thăng ti n ngh nghi p sau khi t t nghi p.
BE4
Đư c xã h i đánh giá cao sau khi t t nghi p.
2. NH%N BI&T THƯƠNG HI$U
BAW1 Thư ng đư c nghĩ đ n đ'u tiên khi nói v ngành tôi đang theo h c.
BAW2 D( dàng nh n ra nh)ng bi u tư ng, hình nh đ c trưng c a trư ng.
kinh tế và QTKD tại khu vực Hà Nội. Đây chính là khoảng trống cho
đề tài nghiên cứu của luận án.
CHƯƠNG 2
BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm của sản phẩm giáo dục đại học
Giáo dục ĐH là một lĩnh vực có những đặc điểm riêng. Những đặc
điểm đó là như sau: (1) Giáo dục ĐH là loại dịch vụ có hàm lượng vô
hình cao và tác động tới tâm trí con người; (2) Giáo dục ĐH là sản
phẩm dựa trên uy tín (a credence product), do đó khó đánh giá về
chất lượng hơn và sự lựa chọn phụ thuộc vào TH nhiều hơn
(Parasuraman & cộng sự, 1985; Kotler & Keller, 2012, tr. 356-357);
(3) Giáo dục đại học là dịch vụ có điều kiện sử dụng và đòi hỏi sự
tham gia tích cực từ người học; và (4) Giáo dục đại học có hai nhóm
khách hàng là người học và người tuyển dụng lao động.
2.2 Đặc điểm của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam
Trong vòng 15 năm qua, hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam đã có
những thay đổi lớn: (1) số lượng trường ĐH tăng nhanh và tỷ lệ phần
trăm trường ngoài công lập tăng lên; (2) tỷ lệ sinh viên chính quy
tăng lên trong khi sinh viên vừa làm vừa học giảm xuống; (3) số
lượng giảng viên cơ hữu ở nhiều trường ĐH còn thiếu và tỷ lệ giảng
viên có học vị tiến sĩ còn thấp; (4) cơ sở vật chất nhiều trường còn
thiếu và yếu.
Đứng trước thực trạng đó, Chính phủ đã đưa ra nhiều chỉ thị và
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ĐH. Bên cạnh đó, các
16
trường ĐH cũng chú trọng hơn tới công tác đảm bảo chất lượng và
xây dựng TH.
2.3 Cạnh tranh giữa các trường đại học
10
9
4.3 Kiểm định thang đo của các biến nghiên cứu
Các thang đo của 5 biến nghiên cứu trong mô hình sẽ được kiểm định
theo phương pháp Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA
và phân tích nhân tố khẳng định CFA. Kết quả phân tích Cronbach
Alpha được trình bày tại Bảng 4.6.
Bảng 4.6 Hệ số Cronbach Alpha của thang đo khái niệm nghiên cứu đã hiệu chỉnh
M3c
h0i
BAW1
BAW2
BAW3
BAS2
BAS3
BAS4
BAS5
BAS6
BAS7
PQ2
PQ3
PQ4
BL2
BL3
BL4
BL5
BL6
6,995
0,449
0,788
19,89
6,993
0,507
0,773
19,56
7,084
0,512
0,772
19,64
6,348
0,590
0,754
19,83
6,621
0,546
0,765
19,58
6,520
0,712
0,729
Ch t lư ng c m nh n (PQ): Alpha = 0,804
8,20
1,104
0,605
0,778
7,87
0,958
0,599
0,762
11,78
2,104
0,694
0,713
11,36
2,241
0,672
0,726
11,01
2,520
0,507
0,802
Tiếp theo, phân tích nhân tố khám phá EFA (exploratory factor
analysis) sẽ được tiến hành đối với tất cả các biến quan sát cùng một
lúc nhằm kiểm tra tính đơn hướng của mỗi thang đo và khám phá số
lượng nhân tố dựa trên dữ liệu thực tế (Nunnaly & Bernstein 1994).
Sau phân tích EFA, các thang đo tiếp tục được kiểm tra lại một
lần nữa bằng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA. Mục
đích là để đảm bảo chắc chắn hơn về độ tin cậy và giá trị của thang
đo dựa trên một số lượng xác định các nhân tố biết trước nhằm hạn
15
Bảng 4.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu theo trường và nhóm ngành học
Nhóm ngành h c Trư ng ĐH
Kinh t
7
197
33,56%
20
14
0
52
86
14,65%
31
20
24
91
166
28,28%
Đánh giá v t m quan tr ng
Ít quan tr ng
Quan tr ng
R t quan tr ng
A
29
(4,9%)
33
(5,6%)
27
(4,6%)
35
(6,0%)
B
227
(38,7%)
275
(46,9%)
272
(46,3%)
240
(40,9%)
C
(94,0%)
A+B+C
587
(100,0%)
587
(100,0%)
587
(100,0%)
587
(100,0%)
2.5 Đặc điểm thương hiệu của một số trường đại học khối ngành
kinh tế và quản trị kinh doanh
2.6 Tóm tắt bối cảnh và hàm ý đối với nghiên cứu về giá trị
thương hiệu
Qua việc tìm hiểu bối cảnh nghiên cứu, có thể rút ra hai điểm quan
trọng là: (1) nghiên cứu về GTTH trường ĐH và các nhân tố ảnh
hưởng là rất cần thiết do GTTH trường có ý nghĩa quan trọng đối với
các trường ĐH, người học và xã hội; (2) do giáo dục đào tạo là loại
dịch vụ có đặc điểm riêng, việc đo lường GTTH trường ĐH và các
nhân tố ảnh hưởng cần phải được thiết kế với mô hình và thang đo
riêng phù hợp với đặc điểm của loại dịch vụ này.
CHƯƠNG 3
MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Tổng hợp tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế gần đây về
GTTH (Chương 1) và đặc điểm bối cảnh giáo dục ĐH tại Việt Nam
(Chương 2), NCS xin đề xuất mô hình nghiên cứu như sau (Hình
3.1).
3,28
3,17
3,55
3,58
3,54
3,90
4,12
3,92
4,35
4,32
4,36
3,75
3,82
3,75
155
111
157
H10(+)
H3(+)
H8(+)
Nh n bi t
thương hi u
Trung thành
thương hi u
niệm, thang đo các biến nghiên cứu và kiểm định mô hình (Bảng
3.2).
Bảng 3.2 Kế hoạch tiến độ nghiên cứu định tính và định lượng
Lo i hình
nghiên c u
Nghiên c*u
đ nh tính
Kh o sát
đ nh lư ng
Th i
Đ i tư ng l y thông tin và m u d ki n
gian
Tháng Ph0ng v n sâu 5 gi ng viên
3/2014 Th o lu n nhóm 10 sinh viên năm cu i thu c Trư ng ĐH Kinh
t qu c dân và Trư ng ĐH Bách khoa Hà N i
Tháng 9- Kh o sát 630 sinh viên năm cu i t i 4 trư ng ĐH công l p v
11/2014 kinh t và qu n tr kinh doanh (Kinh t qu c dân, Thương m i,
Ngo i thương, H c vi n tài chính) 4 nhóm ngành Kinh doanh,
Tài chính – Ngân hàng – B o hi m, K toán – Ki m toán và
Kinh t h c.
Phương pháp lấy mẫu trong khảo sát định lượng là lấy mẫu phân
tầng thuận tiện (lấy mẫu định mức) theo tỷ lệ sinh viên của các nhóm
ngành học.
Cỡ mẫu khảo sát được dự kiến là 600. Kline (2011) cho rằng cỡ
mẫu cần thiết đối với các nghiên cứu theo hướng mô hình hóa là từ 5
đến 10 người trên mỗi tham số của mô hình. Với mô hình nghiên cứu
đề xuất, số lượng tham số ước tính là 75, nên cỡ mẫu dự kiến là 75 x
8 = 600.
đo nháp 2
• Ph0ng v n th5
v i c6 m2u nh0
• Ki m đnh sơ b
Cronbach Alpha
• Đi u chnh thành
Thang đo hoàn
chnh
Nghiên c u đ nh
lư ng chính
th c
• Ki m đnh
Cronbach Alpha
và EFA
• Ki m đnh CFA
• Ki m đnh mô
hình nghiên c*u
Ngu n: Churchill, G. A., Jr. (1979), ‘A Paradigm for Developing Better Measures of Marketing
Constructs’, Journal of Marketing Research, Vol. 16 (February 1979), 64-73.
Hình 3.2 Quy trình xây dựng và kiểm định thang đo của các biến nghiên cứu
Bảng 3.3 Số lượng mục hỏi và cơ sở lý thuyết để xây dựng thang đo ban đầu đối với
các biến nghiên cứu
Bi n nghiên c u S m c h i
c a thang đo
Nh n bi t
Aaker (1991), Keller (1993), Yoo & c ng s (2000), Yoo &
Donthu (2001), Xu & Chan (2010), Buil & c ng s (2013)
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm nhân khẩu của mẫu nghiên cứu
Với mục đích có được 600 bản câu hỏi, 630 bản câu hỏi đã được phát
ra cho sinh viên. Sau khi thu về, 43 bản hỏi đã bị loại bỏ do bị khuyết
nhiều dữ liệu, số còn lại là 587 bản câu hỏi đạt chất lượng yêu cầu
được nhập dữ liệu vào máy tính và phân tích.
Tất cả 587 sinh viên đều là sinh viên năm cuối hoặc gần cuối
(đang học năm thứ ba hoặc thứ tư của hệ đại học 4 năm). Cơ cấu mẫu
theo nhóm ngành học và trường được trình bày ở Bảng 4.2.
13