Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị đục thể thủy tinh nhân nâu đen bằng phương pháp phaco qua đường rạch giác mạc 2,2mm - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, bệnh đục thủy tinh thể tuổi già
là một trong những nguyên nhân gây mù hàng đầu làm ảnh hưởng tới sinh
hoạt, làm việc và chất lượng cuộc sống. Bệnh đục thể thủy tinh tiến triển qua
từng giai đoạn từ đục bắt đầu cho tới đục hoàn toàn dẫn tới mù lòa nếu không
được can thiệp điều trị kịp thời.
Phẫu thuật Phaco điều trị đục thể thủy tinh đã trở nên phổ biến trên
toàn thế giới với việc tán nhuyễn và lấy thể thủy tinh ngoài bao bằng siêu âm
qua đường mổ nhỏ, thị lực phục hồi nhanh và hậu phẫu đơn giản so với các
phương pháp khác. Phương pháp Phaco làm thuận lợi trên những mắt có nhân
cứng vừa phải độ II, III nhưng làm phương pháp này với nhân nâu đen (độ IV,
V) thì gặp phải những khó khăn nhất định như dễ toạc bao khi xé, chẻ và tán
nhân khó hơn, phải dùng năng lượng phaco cao, thời gian phaco kéo dài... dễ
dẫn tới nhiều biến chứng trong và sau mổ, như phù giác mạc, rách bao sau,
đứt và yếu dây chằng Zinn [43],[32],[47],[48].
Y học nhãn khoa thế giới đã không ngừng cải tiến, phát triển và hoàn
thiện về máy móc, thiết bị dụng cụ, kỹ thuật mổ phaco đáp ứng những tiêu chí
về thời gian phẫu thuật, chất lượng thị giác sau phẫu thuật, độ hài lòng của
người bệnh. Từ đó đòi hỏi bác sỹ phẫu thuật phải lựa chọn cài đặt thông số
máy phaco hợp lý, kích thước và vị trí đường rạch rìa giác mạc, cách chẻ và
hút nhân nhanh, hiệu quả, ít làm ảnh hưởng tới cấu trúc giải phẫu đại thể và vi
thể của mắt để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh. Kích thước
đường rạch rìa ban đầu là 4mm, thu nhỏ dần xuống 3,2mm, rồi 2,8mm;
2,2mm; 1,9mm. Vì kích thước đường rạch rìa càng nhỏ thì càng hạn chế được
loạn thị sau phẫu thuận [1]. Tuy nhiên cũng có một số bất lợi nhỏ khi dùng
đường rạch nhỏ là hạn chế một số thao tác dụng cụ trong phẫu thuật, kích thước


2

Đục thể thủy tinh là biểu hiện mất tính trong suốt thường có của TTT tự
nhiên. Hiện tượng này có thể hậu quả của sự phá vỡ cấu trúc protein thông
thường, sự lắng đọng bất thường của các protein trong lòng TTT hoặc sau kết
hợp của 2 yếu tố gây ra. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở Việt Nam
cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Theo kết quả, điều tra nhanh (RAAB)
tiến hành năm 2007 ở Việt Nam, mù do đục TTT chiếm 66,1% các nguyên
nhân gây mù. Trong số bệnh nhân đục TTT thì đục TTT tuổi già chiếm đa số.
Tuy nhiên cho tới nay, bệnh sinh của đục TTT do tuổi già vẫn chưa được hiểu
biết một cách đầy đủ. Trong một số nghiên cứu tiến hành tại Mỹ, tỉ lệ đục
TTT là 50% ở nhóm người từ 65 đến 74 tuổi và là 70% ở nhóm người trên 75
tuổi. Đục TTT do tuổi già có 3 hình thái chính: Đục nhân, đục vỏ và đục dưới
bao sau. Khi tất cả các thành phần của TTT đều bị mờ đục sẽ đưa đến tình
trạng đục TTT hoàn toàn hay đục chín. Ở hình thái đục thể thủy tinh người già
thì hiện tượng oxi hóa khử có vai trò quan trọng nhất, khả năng hoạt động và
độ tập trung của các phân tử glutathion giảm dần theo tuổi khiến hoạt động
gây oxi hóa khử tăng lên làm biến đổi các protein và làm chết các tế bào biểu
mô dẫn tới đục thể thủy tinh [6].
Các hình thái đục TTT tuổi già: có ba hình thái chính của đục TTT tuổi
già [6].


4

+ Đục nhân TTT: nhân TTT xơ cứng và có màu vàng ở một mức độ nhất
định được coi là sinh lý bình thường ở người già và tình trạng này ảnh hưởng
không đáng kể đến chức năng thị giác. Sự xơ cứng và chuyển sang màu vàng
quá mức sẽ gây ra đục ở vùng trung tâm và được coi là đục nhân TTT.
+ Đục vỏ TTT: còn được gọi là đục hình chêm thường xảy ra ở cả 2
mắt và không cân xứng trên kính hiển vi, các vết đục được thể hiện bằng
những vết đục màu trắng. Khi khám bằng kỹ thuật phản chiếu ánh sáng các

nội nhãn số lượng tế bào nội mô sẽ mất thêm 0,09% mỗi năm. Số lượng tế
bào nội mô mất dần theo độ tuổi, tuổi càng cao số lượng tế bào nội mô giác
mạc càng giảm [16].
Khi xảy ra mất tế bào nội mô giác mạc do phẫu thuật thì lớp tế bào nội
mô bù trừ khoảng trống bằng cách tăng kích thước các tế bào nội mô còn lại,
nếu diện tích bù trừ không đủ do mất nhiều tế bào nội mô sẽ dẫn tới giác mạc
bị tổn thương không hồi phục như phù bọng kéo dài và loạn dưỡng giác mạc.
Dịch kính võng mạc ở người cao tuổi thường có những tổn thương do
thoái hóa như vẩn đục dịch kính nhiều, tổ chức hóa dịch kính, bong dịch kính
sau, thoái hóa hắc võng mạc.
Hình thái đục thể thủy tinh này gặp ở bệnh nhân tuổi đã cao sức đề
kháng không tốt có thể đi kèm bệnh toàn thân do lão hóa tuổi già nên
phẫu thuật điều trị đục TTT nhân nâu đen luôn là thách thức lớn đối với
các phẫu thuật viên.


6

Để đạt được thành công trong phẫu thuật, hạn chế tối đa biến chứng có
thể gặp phải trong và sau phẫu thuật đem đến kết quả cải thiện thị lực tốt cho
bệnh nhân thì đòi hỏi phải là sự tổng hợp của nhiều yếu tố như kinh nghiệm
của phẫu thuật viên, sự lựa chọn kích thước đường rạch rìa để hạn chế tối đa
loạn thị do phẫu thuật, cài đặt thông số máy phaco hợp lý, dùng kỹ thuật chẻ
và tán nhân thích hợp dẫn đến kết quả tốt sau phẫu thuật.
1.1.3. Những khó khăn khi thực hiện phẫu thuật Phaco với nhân nâu đen
Tiền phòng nông và không ổn định trong lúc phẫu thuật: đục TTT nhân
nâu đen thường gặp với bệnh nhân cao tuổi nên các tổ chức trong nhãn cầu
cũng thoái hóa đi kèm với sự lão hóa của TTT, sự đàn hồi các cơ của mống
mắt giảm, áp lực dịch kính - võng mạc thường tăng do bệnh nhân cao tuổi lo
lắng khi đang phẫu thuật làm cho tiền phòng nông và không ổn định [16].

năng lượng siêu âm lớn và thời gian phaco kéo dài, lưu lượng dòng chảy chậm
hơn bình thường, nhiều mảnh vỡ hạt nhân cứng di chuyển trong tiền phòng gây
tổn thương lớp tế bào nội mô giác mạc dẫn tới mất tế bào nội mô không hồi
phục gây biến chứng phù giác mạc kéo dài sau mổ [16],[25],[26],[28].
Bao sau dễ bị tổn thương do chịu áp lực nhiều ở thì chẻ và tán nhuyễn.
Việc bao sau bị rách sẽ dẫn đến rất nhiều khó khăn để có thể xử trí lấy hết
những mảnh nhân cứng ra khỏi nhãn cầu.
1.2. Một số kỹ thuật Phaco áp dụng trên hình thái đục TTT nhân nâu đen
và những biến chứng của phẫu thuật Phaco với nhân nâu đen
1.2.1. Một số kỹ thuật Phaco áp dụng trên hình thái đục TTT nhân nâu đen
Phẫu thuật phaco nói chung và phẫu thuật phaco nhân nâu đen nói riêng
đều trải qua các bước thực hiện giống nhau:
• Vô cảm.
• Tạo đường hầm giác mạc và đường rạch phụ.


8

• Xé bao trước.
• Tách nước xoay nhân.
• Phaco nhân trong bao.
• Rửa hút Cortex.
• Đặt IOL.
• Hút sạch viscos và bơm phù mép mổ.
+ Kỹ thuật “Quick chop”
Được phát minh bởi David Dillman nó chính là biến thể của kĩ thuật
phaco chop của Nagahara chỉ khác ở chỗ chopper được đặt trên mặt trước của
TTT, ở trước hoặc cạnh chỗ đầu tip đâm vào. Kĩ thuật này có thể sử dụng cho
cả nhân mềm, trung bình, nhân cứng và ngay cả khi đồng tử nhỏ với 1 lỗ xé
bao nhỏ. Phẫu thuật viên đâm sâu đầu phaco tip vào trung tâm nhân TTT, hút

+ Kỹ thuật “Decrease and Conquer”
Tác giả Kim HK không yêu cầu phải chẻ nhân hoàn toàn mà thay vào đó
là tách thượng nhân ra khỏi nhân vì sóng siêu âm tác động vào vùng có lực
liên kết yếu giữa các lớp nhân thay vì chẻ nhân từ trung tâm. Kỹ thuật này có
ưu điểm là sóng siêu âm không tác động đến vùng cực sau của nhân nhưng
vẫn tác động hiệu quả đến lõi nhân cứng. Đồng thời kỹ thuật làm giảm nguy
cơ rách bao sau do lớp thượng nhân ở phía sau như một lớp đệm bảo vệ trong
quá trình tán lõi nhân cứng phía trong, kĩ thuật này áp dụng tốt trong trường
hợp nhân cứng độ IV [22].
Đa phần những bệnh nhân đục TTT nâu đen tuổi thường khá cao nên sự
đàn hồi của dây chằng zinn cũng kém. Khi tán nhân những mảnh vỡ nhân cứng
cùng các cạnh sắc nhọn và áp lực mạnh của đầu tip có thể gây đứt dây chằng


10

Zinn dẫn đến rách bao sau, thoát dịch kính [22]. Biến chứng nặng hơn nữa là
khi vết rách bao sau lớn có thể gây chìm nhân vào trong buồng dịch kính.
Tùy theo kinh nghiệm của các phẫu thuật viên mà chọn bẻ và tán nhân
bằng cách kỹ thuật khác nhau như Phaco chop, Quick chop hay Stop and
chop. Tốt nhất sau khi bẻ được nhân làm đôi rồi ta nên phân chia nhóm thành
nhiều mảnh nhỏ thì việc hút nhân sẽ dễ hơn và tránh gây tổn hại nội mô giác
mạc do các mảnh nhân to và cứng [27],[11]. Đồng thời các phẫu thuật viên
phải thao tác nhẹ nhàng chính xác, tốt nhất là đầu phaco tip luôn ở trung tâm
và nằm ngang với diện đồng tử.
1.2.2. Những biến chứng của phẫu thuật tán nhuyễn TTT nhân nâu đen
1.2.2.1. Biến chứng trong phẫu thuật
+ Biến chứng ở thì tạo đường hầm giác mạc
Không tạo được đường bậc thang như mong muốn làm ảnh hưởng đến
sự ổn định tiền phòng trong phẫu thuật và mép mổ kín sau phẫu thuật. Không

cứng cọ sát vào mặt sau giác mạc.
- Rách bao sau hay gặp do năng lượng siêu âm tác động vào, do mảnh
nhân cứng cứa rách bao, do đặt TTT nhân tạo không đúng cách. Tỷ lệ rách bao
sau khoảng 4,4- 4,9% đối với phẫu thuật viên có kinh nghiệm, tùy tác giả [51].
- Nhân rơi vào buồng dịch kính: tỷ lệ biến chứng này khoảng 1% đối với
phẫu thuật viên phaco [51].
+ Biến chứng ở thì đặt IOL
Dùng súng bơm IOL mềm qua cartridge 2,2mm nếu bơm nhanh và mạnh
có thể tạo lực đẩy lớn IOL vào trong lòng bao gây vỡ bao.
1.2.2.2. Biến chứng sau phẫu thuật
+ Biến chứng trên giác mạc
- Tổn hại biểu mô
+ Phù biểu mô giác mạc.
+ Chấm nông, bọng biểu mô giác mạc.


12

- Tổn hại nhu mô: phù khu trú ở mép mổ hay gặp trong những ngày
đầu và thường ở mép mổ do tạo đường hầm quá dài. Trên những mắt đục
TTT nâu đen nguy cơ phù giác mạc rất cao do năng lượng phaco sử dụng
cao và thời gian phaco kéo dài. Phù giác mạc thường tự tiêu nhanh chóng mà
không cần điều trị.
- Bong màng Descemet: thường hay gặp, có thể do dao rạch rìa cùn,
kích thước đường rạch lớn, bơm phù mép mổ làm tách lớp giữa nhu mô và
màng Descemet hoặc do các thao tác trong quá trình phẫu thuật làm tổn
thương màng Descemet.
- Tổn hại nội mô thời gian phẫu thuật kéo dài trong những trường hợp
đục TTT nâu đen, năng lượng phaco cao và thời gian phaco kéo dài là nguyên
nhân gây tổn hại nội mô. Theo Zheng D và cộng sự [43] thì tỷ lệ phù giác mạc

+ Biến chứng cơ học của IOL
Đánh giá tình trạng cân hay lệch của thể thủy tinh nhân tạo sau phẫu thuật.
1.3. Đặc điểm kỹ thuật phương pháp Phaco nhân nâu đen sử dụng đường
rạch giác mạc 2,2mm
1.3.1. Sự lựa chọn đường rạch giác mạc kích thước nhỏ trong phẫu thuật
Phaco nhân nâu đen
Kết quả thị lực sau phẫu thuật phaco nhân nâu đen là tổng hợp của nhiều
yếu tố như không có biến chứng trong phẫu thuật, giác mạc ít bị tổn hại, đặt
IOL trong bao an toàn và 1 yếu tố cũng rất quan trọng đó là chỉ số khúc xạ
giác mạc sau phẫu thuật. Việc sử dụng đường rạch giác mạc 2,2mm cho phẫu
thuật phaco nhân nâu đen có ưu điểm hơn so với đường rạch giác mạc thường
quy 2,8mm là giảm độ loạn thị gây ra do phẫu thuật, vết mổ kín và liền nhanh
ngay sau phẫu thuật [5],[12],[13],[17]. Ngoài ra các tác giả nghiên cứu còn
chỉ ra đường rạch giác mạc 2,2mm giúp tiền phòng ổn định trong phẫu thuật,


14

hạn chế phản ứng viêm sau mổ, giảm tỷ lệ nhiễm trùng do đường vào nhỏ
[14],[36],[44]. Từ đó thị lực của bệnh nhân phục hồi nhanh sau mổ.
Việc lựa chọn vị trí rạch, kiểu rạch giác mạc và kích thước đường rạch có
một vai trò rất quan trọng. Nhãn cầu ở trạng thái bình thường thì lực tác dụng
lên giác – củng mạc đều ở các hướng, tổng hợp lực tại đỉnh giác mạc bằng 0.
Khi thực hiện rạch giác mạc thì tính ổn định của hình dạng nhãn cầu bị ảnh
hưởng, thay đổi lực tác động lên giác mạc ở những kinh tuyến khác nhau.
* Vị trí đường rạch
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng khoảng cách vùng rìa giác mạc phía
thái dương đến trung tâm là 6,23mm lớn hơn khoảng cách từ vùng rìa cực trên
(chỉ có 5,2mm). Mà vị trí đường rạch càng xa giác mạc trung tâm thì càng ít
loạn thị sau phẫu thuật vì vậy đường rạch lí tưởng trực tiếp trên giác mạc

liên quan tới kích thước đường rạch. Antonio S năm 2008 đã chỉ ra rằng giảm
kích thước đường rạch là một biện pháp làm giảm độ loạn thị gây ra do phẫu
thuật và thị lực phục hồi sớm sau phẫu thuật [1].


16

Trước đây với phương pháp mổ lấy TTT ngoài bao đòi hỏi phải mở rộng
giác mạc từ 8-10mm và phục hồi vết mổ bằng những mũi chỉ khâu hướng tâm
gây loạn thị không nhiều sau phẫu thuật. Với sự ra đời của phương pháp phaco
và công nghệ sản xuất IOL mềm có thể gấp lại thì kích thước đường rạch giảm
xuống còn 3,2mm; 2,8mm; 2,2mm thậm chí còn 1,8mm; 1,4mm [5],[15].
Năm 2003 Merriam C khi nghiên cứu 622 mắt mổ được chia thành 5
nhóm với kích thước đường rạch khác nhau đã cho thấy đường rạch càng dài
thì gây loạn thị càng nhiều so với đường rạch ngắn [34].
Năm 2007 Samuel M và Wang Jun (2009) đã so sánh loạn thị gây ra do
phẫu thuật của 3 đường rạch giác mạc trong có kích thước là 2,2mm; 2,6mm
và 3,0mm cho thấy rằng độ loạn thị do phẫu thuật gây ra do 2 đường rạch
2,2mm và 2,6mm thấp hơn so với đường rạch 3,0mm [17],[35].
Gần đây nhất 2011 tác giả Yao K so sánh độ loạn thị sau mổ của đường
rạch rìa 1,8mm và 3,0mm trên 40 trường hợp ở mỗi nhóm trong khoảng thời
gian 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng và 3 tháng thì kết quả cho thấy độ loạn thị với
đường rạch 1,8mm giảm đáng kể [15].
Đường rạch nhỏ làm giảm độ loạn thị vì vậy nó có thể gián tiếp làm thị
lực phục hồi nhanh sau phẫu thuật, các tác giả khi sử dụng đường rạch 2,2mm
đều có nhận định rằng kết quả phẫu thuật làm giảm độ loạn thị và thị lực đạt
được sau mổ cao hơn, phục hồi giải phẫu sớm [376,[18],[44].
Ngoài ưu điểm làm giảm độ loạn thị sau phẫu thuật thì đường rạch nhỏ
còn làm giảm tỉ lệ nhiễm trùng sau mổ, giúp ổn định tiền phòng trong phẫu
thuật [1]. Các tác giả cũng nhận định đường rạch nhỏ làm giảm tỉ lệ mất tế

Hình 1.4. Hình ảnh kim phá bao 26G
(Nguồn: www.hindawi.com)
- Dùng dao 150 tạo đường rạch hình bậc thang phía thái dương và đường
chọc phụ. Bơm thuốc nhuộm bao vào tiền phòng rồi đẩy hết thuốc nhuộm bao ra
ngoài tiền phòng bằng viscos lượng vừa đủ trải đều trong tiền phòng.
- Yuan Zeng và Jian-hua Gao đã thực hiện xé bao bằng kim 26G bẻ gập
3 lần ở 153 mắt với tỷ lệ thành công là 98,7% [4]. Theo nghiên cứu này thì
kỹ thuật thực hiện có hiệu quả hơn hẳn dùng kim phá bao bẻ gập góc 2 lần
về thời gian hoàn thành xé bao và độ ổn định, duy trì tốt độ sâu tiền phòng.
- Luồn kim phá bao vào tiền phòng qua đường rạch nhỏ phía thái
dương, phẫu thuật viên chọc thủng bao trước ở vị trí trung tâm rồi rạch hơi
chéo về ngoại vi khoảng 2,5- 3mm, lật 1 vạt bao trước lên. Đẩy vạt bao đã
mở theo hình tròn đồng tâm song song với bờ đồng tử kích thước khoảng
5,5- 6mm. Ưu điểm chính của bẻ kim gập góc 3 lần là không đè ấn vào mép
sau của mép mổ khi thực hiện xé bao làm viscos không thoát ra ngoài và ít
gây biến dạng giác mạc đảm bảo quan sát rõ ràng để xé bao. Cùng với đó
đường vào giác mạc bé nên hầu như viscos không thoát ra ngoài giúp tiền
phòng ổn định trong suốt quá trình xé bao.


19

Hình 1.5. Hình ảnh xé bao bằng kim 26G
(Nguồn: www.hindawi.com)
- Sau khi hoàn thành thì xé bao, dùng dao pick 2,2mm vào lại tiền phòng qua
đường rạch vừa tạo phía thái dương để đạt được kích thước 2,2mm như dự định.
1.3.2.2. Kỹ thuật tách nước và tán nhuyễn TTT nhân nâu đen
- Với đặc điểm nhân nâu đen phần Cortex thường ít và dính phần lớn
với khối nhân rắn. Dùng bơm 3ml chứa dung dịch Ringer Lactac với kim
tách nước đầu tù luồn đầu kim xuống dưới bao trước ở bờ vòng xé bao tại vị

D

Hình 1.6. Hình ảnh kỹ thuật Horizontal Chop
(Nguồn: www.oculist.com)

- Do sử dụng đường rạch 2.2mm nên đầu phaco tip kích thước nhỏ hơn
so với các kích cỡ đường rạch khác lớn hơn nên thời gian tán và hút nhân sẽ


21

lâu hơn. Việc loại bỏ mảnh nhân to và cứng sẽ đòi hỏi phải dùng năng lượng
phaco cao và thời gian kéo dài, dễ gây bít tắc làm cho việc phải đưa ra đưa
vào đầu phaco tip dễ dẫn đến những biến chứng như rách bao sau, tổn thương
mép mổ, rách màng Descemet. Để khắc phục điều này thì nên thực hiện kỹ
thuật chẻ nhân thành nhiều mảnh nhỏ bằng chopper để giảm tối đa kích thước
khối nhân cần tán nhuyễn, sau đó dùng năng lượng phaco vừa phải để tán và
hút giúp tránh biến chứng bỏng vết mổ và phù giác mạc kéo dài sau mổ.
1.5.2.3. Kỹ thuật đánh bóng bao TTT
Biến chứng đục bao sau là biến chứng thường gặp và là nguyên nhân
chính gây giảm thị lực sau phẫu thuật phaco. Theo nghiên cứu của các tác giả
cho rằng đục bao sau do sự tăng sản quá mức các tế bào biểu mô TTT dưới
bao trước di chuyển đến bao sau, sinh ra các sợi collagen gây co kéo xơ hóa
làm đục bao sau [49]. Ngoài ra còn do không lấy hết được lớp thượng nhân
dính vào mặt trước của bao sau trong quá trình phẫu thuật.
Để hạn chế tình trạng đục bao sau phải hút sạch hết lớp thượng nhân dưới
viền bao trước và đánh bóng bao sau. Cài đặt chế độ máy: hạ chiều cao cột
nước, giảm tốc độ dòng chảy và áp lực hút, dùng đầu IA đánh bóng sạch viền
bao trước, dùng chopper kênh nhẹ một bên IOL lên sau đó luồn đầu IA xuống
dưới IOL hút sạch hết viscos và nhẹ nhàng dùng đầu tù làm sạch bao sau.

hết 90% bề dày tại nhân trung tâm, hố sâu này cho phép bẻ nhân an toàn,
bao sau ít bị tác động [24].
Năm 2002 Nguyễn Quốc Toản, Trần Thị Phương Thu đã tiến hành
nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật tán nhuyễn TTT trên bệnh nhân đục
TTT nhân cứng và trong 50 bệnh nhân được nghiên cứu với kỹ thuật “Phaco
chop”, kết quả thị lực sau mổ 3-7 ngày trên 5/10 đạt tỷ lệ 89% [25].


23

Năm 2007 Nguyễn Đỗ Nguyên nghiên cứu đánh giá hiệu quả phẫu
thuật TTT nhân cứng độ V bằng phương pháp Phaco Chop cải biên ở 60 mắt
cho kết quả khả quan, 100% tăng thị lực ở ngày đầu hậu phẫu [26].
Merriam C khi nghiên cứu 622 mắt được chia 5 nhóm với kích thước
đường rạch khác nhau đã thấy rằng đường rạch giác mạc càng dài thì gây loạn
thị nhiều hơn so với đường rạch ngắn [34].
Samuel M (2007) và Wang Jun (2009) đã so sánh loạn thị gây ra do phẫu
thuật của 3 đường rạch giác mạc trong đó có kích thước là 2,2mm; 2,6mm và
3,0mm thấy rằng độ loạn thị do phẫu thuật gây ra do đường rạch 2,2mm và
2,6 mm thấp hơn hẳn so với đường rạch 3,0mm [17],[35].
Năm 2012 Đặng Ngọc Hoàng và cộng sự nghiên cứu kết quả phẫu thuật
phaco với đường rạch giác mạc 2,2mm trên 50 mắt thì độ loạn thị sau phẫu
thuật hầu như không thay đổi so với trước phẫu thuật [12].


24

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu

- Z(1- α/2) = 1,96 là hệ số tin cậy với xác xuất 95%, khi α= 0,05.
- p: tỉ lệ thành công của phương pháp ước tính lấy p = 97,9%
- ε: sai số mong muốn tương đối, chọn ε = 0,05
⇒ n ≈ 33
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu là 33 mắt. Chọn cỡ mẫu 34 mắt.
Chọn mẫu nghiên cứu: bắt đầu từ tháng 1/2015 tất cả các bệnh nhân đục
TTT nhân nâu đen được mổ thay TTTNT bằng phương pháp phaco tại khoa
Đáy mắt-Màng bồ đào Bệnh viện Mắt Trung Ương có đủ tiêu chuẩn sẽ được
chọn vào danh sách theo dõi. Chỉ những bệnh nhân đến khám tại thời điểm 3
tháng sau mổ mới chính thức được đưa vào nhóm nghiên cứu. Chọn liên tục
cho đến khi đủ số lượng.
2.3. Phương tiện nghiên cứu
2.3.1. Phương tiện thăm khám
Để phục vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng những phương tiện hiện có
của Bệnh viện Mắt Trung Ương:
- Bảng thị lực Snellen.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status