Quyền của người dân tộc thiểu số ở việt nam hiện nay - Pdf 43

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ MẠC NGÂN DOANH

QUYỀN CỦA NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Lý luận và Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số

: 62 38 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

1. PGS.TS. Nguyễn Thị Báo 2. PGS.TS. Trƣơng Thị Hồng Hà

HÀ NỘI – 2017


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận án là trung thực,
đảm bảo độ chuẩn xác. Các số liệu, thông tin, tài liệu
tham khảo trong luận án có xuất xứ rõ ràng, được trích
dẫn đầy đủ.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu

Nam hiện nay
3.4. Thực trạng tổ chức thực hiện quyền của ngƣời dân tộc thiểu số ở Việt
Nam hiện nay
3.5. Thực trạng các điều kiện bảo đảm quyền của ngƣời dân tộc thiểu số ở
Việt Nam hiện nay
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA
NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Quan điểm bảo đảm quyền của ngƣời dân tộc thiểu số ở Việt Nam
hiện nay
4.2. Giải pháp bảo đảm quyền của ngƣời dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện
nay
KẾT LUẬN
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1
9
9
30
36
39
39
49
59
62
66
66
69
82


90

Bảng 3.2. Tỷ lệ trẻ em dƣới 5 tuổi đƣợc đăng ký khai sinh và tỷ lệ trẻ em không

90

đƣợc đăng ký khai sinh ở Việt Nam đến năm 2011
Bảng 3.3. Tình hình tiếp cận giáo dục ở Việt Nam năm 2014

100

Bảng 3.4. Tỷ lệ trẻ em đi học đúng tuổi ở Việt Nam năm 2014

100

Bảng 3.5. Tỷ lệ hộ nghèo ở các khu vực của Việt Nam đến tháng 9/2014

109

Bảng 3.6. Hệ thống trƣờng học ở các vùng dân tộc thiểu số trọng điểm ở Việt

116

Nam
Bảng 3.7. Số lƣợng học sinh phổ thông trong các lớp học ở một số vùng trọng

117

điểm ở Việt Nam

hoặc hạ thấp nhân phẩm

International Convention for the
Protection of All Persons from
Enforced Disappearance

Công ƣớc quốc tế bảo vệ tất
cả mọi ngƣời khỏi bị cƣỡng
bức mất tích

Convention on the Elimination of
All Forms of Discrimination
against Women

Công ƣớc về xóa bỏ mọi hình
thức phân biệt chống lại phụ
nữ

Convention on the Rights of the
Child

Công ƣớc về quyền của trẻ
em

Convention on the Rights of
Persons with Disabilities

Công ƣớc về quyền của
ngƣời khuyết tật


International Covenant on Civil
and Political Rights

Công ƣớc quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị

CAT
(1984)

CED
(2006)
CEDAW
(1979)
CRC
(1989)
CRPD
(2006)
CPPG
(1948)
EU
HRC
ICERD

ICCPR
(1966)


Chữ viết
tắt


NDTTS

Ethnic minorities

Ngƣời dân tộc thiểu số

OHCHR

Office of the High Commissioner
for Human Rights

Văn phòng Cao ủy Liên hợp
quốc về quyền con ngƣời

Human rights

Quyền con ngƣời

ICESCR
(1966)
ICSPCA
(1973)
ICRMW

QCN

QCNDTTS Rights of ethnic minorities/
Minority Rights
UDHR
(1948)

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nếu quyền con ngƣời (QCN) xuất hiện khi ngƣời ta có đƣợc những nhận thức
đầu tiên về phẩm giá của mình, thì quyền của ngƣời dân tộc thiểu số đƣợc hình thành
khi xuất hiện ý thức về “dân tộc” (ethnic). Cho tới đầu thế kỷ XX, quyền của ngƣời
dân tộc thiểu số cũng trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu cùng với
vấn đề về quyền của trẻ em, ngƣời bản địa và tù binh chiến tranh [61; tr.1].
Trên bình diện quốc tế, nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền của ngƣời
dân tộc thiểu số (QCNDTTS) là một trong những nội dung đƣợc Tiểu ban về ngăn
ngừa và bảo vệ ngƣời thiểu số (thành lập năm 1947) và Ủy ban nhân quyền (nay là
Hội đồng nhân quyền) nỗ lực để đƣa vào các văn kiện pháp lý đầu tiên của Liên hợp
quốc. Tuy nhiên, phải đến năm 1966, QCNDTTS mới đƣợc ghi nhận chính thức trong
một điều ƣớc quốc tế có giá trị ràng buộc pháp lý toàn cầu. Đó là Điều 27 Công ƣớc
quốc tế về các quyền dân sự chính trị (ICCPR 1966), một trong những văn kiện cơ bản
của Bộ luật Nhân quyền quốc tế (International Bill of Human Rights). Đến nay, ngoài
Điều 27 ICCPR 1966, QCNDTTS còn đƣợc đề cập trong Tuyên ngôn về quyền của
những ngƣời thuộc các nhóm thiểu số về quốc tịch hoặc dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ
(UDRM 1992). Mặc dù vậy, so với các đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng khác, cơ sở pháp lý
quốc tế bảo vệ QCNDTTS vẫn còn nhiều khoảng trống.
Ở Việt Nam, nghiên cứu lý luận về QCN đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt
quan tâm từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992
của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ
trương của Đảng ta” đã đánh dấu mốc cho bƣớc chuyển biến về tƣ tƣởng về QCN,
Đảng ta chính thức ghi nhận: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu
dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và
cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó,
quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”. Mƣời năm sau đó, QCN mới
thực sự trở thành đề tài đƣợc nhiều nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
Thực tiễn nghiên cứu lý luận liên quan đến QCNDTTS ở Việt Nam lại đƣợc tiến
hành sớm hơn so với nhân quyền nói chung nhƣ trên. Thành công đầu tiên của


về mặt pháp lý, mặc dù Việt Nam là quốc gia đƣợc đánh giá có nhiều đạo luật nhất
trên thế giới và có hệ thống chính sách về dân tộc đồ sộ với hơn 183 chính sách đƣợc
thể chế qua 264 văn bản của Chính phủ [71]. Nhƣng việc tồn tại những vƣớng mắc về

2


sự chồng chéo, rƣờm rà, chậm trễ và thiếu hiệu quả... trong hoạt động bảo đảm quyền
là không thể tránh khỏi. Cũng bởi chƣa đƣợc rà soát và giám sát bởi một tiếp cận
chuyên biệt nhƣ QCN, cho nên khoảng trống pháp lý nhằm quy định chi tiết và hƣớng
dẫn thi hành hiệu quả các quy định về cơ chế, phƣơng thức bảo đảm QCNDTTS còn
hạn chế. Tình hình nói trên cho thấy việc triển khai nghiên cứu các khía cạnh lý luận
và thực tiễn liên quan đến bảo đảm QCNDTTS ở Việt Nam hiện nay đang đƣợc đặt ra
một cách cấp bách.
Cuối cùng, đến nay, chƣa có công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nƣớc,
cấp Bộ cũng nhƣ luận án tiến sĩ nào nghiên cứu đề tài “Quyền của ngƣời dân tộc
thiểu số ở Việt Nam hiện nay”. Thực hiện đề tài “Quyền của ngƣời dân tộc thiểu số
ở Việt Nam hiện nay” để triển khai nghiên cứu trong quy mô luận án tiến sĩ luật học
với mong muốn góp phần giải quyết một cách hệ thống và bài bản những vấn đề liên
quan đến chủ đề đƣợc lựa chọn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận án là đề xuất một hệ thống giải pháp nhằm bảo đảm
QCNDTTS ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án sẽ tập trung làm sáng tỏ 05 nhiệm vụ cơ bản sau:
- Đánh giá tình hình nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài liên quan đến đề tài
nghiên cứu nhằm rút ra những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
- Phân tích làm rõ những vấn đề cơ bản về QCNDTTS: Đặc điểm, bản chất; nội

- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu các số liệu trong khoảng thời gian từ
2010 cho đến nay.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phƣơng pháp luận
Luận án đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, phƣơng pháp biện chứng của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh (về đoàn kết, bình đẳng, tƣơng trợ [29;
tr.587], quan tâm phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số [30; tr.323], chú
trọng đến công tác đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ ngƣời dân tộc thiểu số [31;
tr.136]...) và các quan điểm cơ bản của Đảng ta về vấn đề dân tộc, đề tài sử dụng các cách
tiếp cận sau:
- Tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội (triết học, chính trị học, văn

4


hóa học, xã hội học, sử học, dân tộc học...) và liên ngành luật học. Đây là phƣơng
pháp tiếp cận phổ biến của khoa học xã hội nhân văn hiện nay, có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn lớn đối với nghiên cứu bảo đảm QCNDTTS ở Việt Nam trong bối cảnh
hiện nay. Các hiện tƣợng nhƣ đói nghèo, di cƣ, nguy cơ tổn thƣơng do tác động của
biến đổi khí hậu và môi trƣờng... ở vùng dân tộc thiểu số đƣợc xem xét trong mối
liên hệ chặt chẽ với nhau sẽ góp phần đem đến cái nhìn toàn diện trong các phân tích
luật pháp, chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay.
- Tiếp cận dựa trên QCN (human right based approach). Đây là cách tiếp cận
vấn đề nghiên cứu sử dụng các tiêu chuẩn về QCN làm cơ sở để xác định kết quả
mong đợi, đồng thời xem các nguyên tắc về QCN là khuôn khổ, điều kiện để đạt
đƣợc kết quả nhƣ mong đợi. Áp dụng cách tiếp cận này giúp đề tài định hình rõ hơn
vị trí và triển vọng bảo đảm QCNDTTS trong quan hệ tƣơng tác với các mục tiêu
phát triển khác một cách bền vững, bao gồm: tăng trƣởng kinh tế và nâng cao thu
nhập, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng và đoàn kết dân tộc... Hỗ trợ tốt hơn cho phân
tích, đánh giá luật pháp, chính sách, đề xuất giải pháp lồng ghép QCNDTTS vào

thập các nguồn tài liệu (cả tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp). Phƣơng pháp này đƣợc sử
dụng hầu hết trong các chƣơng của luận án.
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: đƣợc sử dụng bao quát trong tất cả các
chƣơng, mục của luận án để phát hiện, luận giải thuyết phục về các nội dung liên
quan đến chủ đề luận án.
- Phƣơng pháp cấu trúc hệ thống: đƣợc sử dụng chủ yếu trong chƣơng 2 và 3 của
luận án nhằm nhận diện và đánh giá toàn cảnh về QCNDTTS ở Việt Nam hiện nay.
- Phƣơng pháp luật học so sánh: đƣợc sử dụng chủ yếu trong chƣơng 2 và 4
của luận án để làm sáng tỏ các mô hình pháp lý về bảo đảm QCNDTTS và những
kinh nghiệm bảo đảm mang tính tham khảo cho Việt Nam.
- Phƣơng pháp thống kê: đƣợc sử dụng trong chƣơng 1 và 3 của luận án nhằm
tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và thực trạng bảo đảm
QCNDTTS ở Việt Nam hiện nay.
- Phƣơng pháp xã hội học pháp luật: đƣợc sử dụng trong chƣơng 2, 3, 4 của
luận án nhằm thu thập thông tin, nhu cầu về quyền, tiến hành phân loại, đánh giá
nhằm làm rõ thực trạng QCNDTTS ở Việt Nam hiện nay.
- Phƣơng pháp thực chứng pháp lý: đƣợc sử dụng chủ yếu trong chƣơng 3
nhằm đánh giá tính xác thực của các hành động của các cơ quan nhà nƣớc cũng nhƣ
hiệu quả tác động chính sách, pháp luật về bảo đảm QCNDTTS ở Việt Nam.

6


- Phƣơng pháp lịch sử: đƣợc sử dụng trong chƣơng 1, 2, 3 nhằm nhận diện các
đặc điểm và các bƣớc tiến trong nhận thức về QCNDTTS.
- Phƣơng pháp chuyên gia: nhằm nghiên cứu trạng thái và phƣơng hƣớng giải
quyết những trƣờng hợp điển hình. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng trong chƣơng 3
của luận án.
- Phƣơng pháp xử lý thông tin, số liệu: Phƣơng pháp xử lý thông tin sử dụng
trong tất cả các chƣơng của Luận án, phƣơng pháp thống kê toán học sử dụng trong

chủ, tăng cƣờng sức mạnh cho khối đại đoàn kết dân tộc và thúc đẩy sự phát triển
bền vững ở Việt Nam hiện nay. Luận án có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo
đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà lập pháp, các nhà quản lý và các nhà
hoạt động xã hội nói chung, pháp lý nói riêng. Luận án cũng có thể đƣợc tham khảo
trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo dƣới góc tiếp cận đa ngành, liên ngành và Lý
luận và Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án
gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chƣơng 2. Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền của ngƣời dân tộc thiểu số
Chƣơng 3. Thực trạng quyền của ngƣời dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay
Chƣơng 4. Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền của ngƣời dân tộc thiểu số
ở Việt Nam hiện nay.

8


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong thời gian qua đã có khá nhiều nghiên cứu về chính sách, pháp luật đối
với ngƣời dân tộc thiểu số (NDTTS), vùng dân tộc thiểu số đƣợc thực hiện và công
bố ở nƣớc ta. Trong đó, các nghiên cứu đƣợc thực hiện dƣới nhiều góc độ/khía cạnh
hay ngành khoa học khác nhau nhƣ sử học, tâm lý học, xã hội học, chính trị, triết
học... với những quy mô khác nhau. Bên cạnh đó, nhiều học giả nƣớc ngoài cũng đã
quan tâm đến các vấn đề của NDTTS ở Việt Nam. Mặc dù vậy, các nghiên cứu hiện
có hầu hết chƣa tập trung phân tích vấn đề dƣới góc độ quyền. Chƣa có một công
trình nghiên cứu nào mang tính toàn diện, có hệ thống về QCNDTTS ở Việt Nam
dƣới tiếp cận của chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật. Vì vậy, có
thể khẳng định đề tài luận án này có tính mới, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

Việt Nam: một cách tiếp cận dân tộc học” của Vƣơng Xuân Tình và Nguyễn Văn
Minh là một bài viết có nhiều kết luận thú vị, gợi ý cho những hƣớng tìm hiểu và
khảo sát của đề tài. Giáo trình “Các tộc người ở Việt Nam”(2012) [25] và tập tài liệu
“Đặc điểm lịch sử, xã hội của các tộc người thiểu số ở Việt Nam, di sản và hạn chế
đối với sự phát triển và phát triển bền vững - các tộc người ở Việt Nam” (2012) của
Bùi Xuân Đính. Giáo trình “Tâm lý học dân tộc” (2013) của Vũ Dũng [18]...
Theo đó, các tác giả đều thống nhất quan điểm, khái niệm “dân tộc” ngoài
việc dùng với nghĩa tƣ cách một quốc gia thì còn mang nghĩa một tộc ngƣời (ethnic)
trong một quốc gia đa dân tộc. Ví dụ theo GS.TS Vũ Dũng dân tộc là: “cộng đồng
người ổn định mà những người đó ý thức rõ mình là thành viên của cộng đồng trên
cơ sở những dấu hiệu chung được tiếp nhận như là những đặc trưng phân biệt dân
tộc một cách hiển nhiên và bền vững” [18; tr.85]. Hay theo TS. Bế Trƣờng Thành thì
“cộng đồng các dân tộc Việt Nam gồm nhiều thành phần khác nhau theo tiêu chí: Sắc
thái văn hóa đặc trưng và có tên gọi dân tộc (một số dân tộc có nhiều nhóm tộc
người với tên gọi khác nhau theo địa phương); ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết); ý thức
tự giác tộc người. Mỗi thành phần dân tộc không phải là một cộng đồng biệt lập,
riêng rẽ về chính trị - xã hội, mà là bộ phận cấu thành dân tộc Việt Nam thống nhất.
Các thành phần dân tộc có quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội không đồng
đều” [53; tr.5].
Nhìn chung, các nghiên cứu của ngành nhân học đã và đang có những tiếp cận
ngày càng sát hợp với quan niệm của các chuyên gia bảo đảm QCN của Liên hợp quốc.
Trên cơ sở này, các tiêu chuẩn xây dựng khái niệm về NDTTS và chính sách của nhà

10


nƣớc đối với NDTTS ở Việt Nam đã đƣợc hình thành tƣơng thích với pháp luật quốc tế.
Tuy nhiên do là nghiên cứu dƣới góc độ dân tộc học nên các kiến nghị hoàn thiện pháp
luật chƣa thực sự gắn với yếu tố “thiểu số” của QCN.
Thứ hai, nội dung, đặc điểm, bản chất, giới hạn QCNDTTS đƣợc đề cập trong

cơ chế quốc gia và quốc tế bảo vệ QCN… ngoài các vấn đề kinh điển về QCN kể
trên, tại trang 486 tác giả đã đề cập đến vấn đề nội luật hoá quyền của một số nhóm
dễ bị tổn thƣơng trong pháp luật Việt Nam.
- Sách “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền kinh tế, văn hoá và
xã hội”(2011) [76] do GS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ biên) gồm 17 bài viết trong đó có
2 bài viết đề cập đến khái niệm NDTTS và định hƣớng xây dựng nội dung
QCNDTTS nhƣ: “Quyền bình đẳng văn hoá giữa các dân tộc” của PGS.TS. Lê
Hồng Lý (tr.216-235); “Quyền của người dân các tộc người thiểu số” của TS. Mai
Thanh Sơn (tr.250-303), tuy nhiên các bài viết mới chỉ mang tính gợi mở.
- Giáo trình “Lý luận và Pháp luật về quyền con người” của Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2011, đã dành một nội dung để nhắc đến nhận
thức, đặc điểm và phạm vi quyền của ngƣời thiểu số trong pháp luật quốc tế (tr.316323). Điểm sáng của giáo trình là phân tích đặc thù về quyền của ngƣời thiểu số ở
Việt Nam trong đó yếu tố thiểu số thƣờng chỉ gắn liền với tôn giáo hoặc sắc tộc
(tr.511-514) và chú ý tới các nội dung của QCNDTTS ở Việt Nam bao gồm: quyền
bình đẳng không bị đối xử, quyền giữ gìn bản sắc văn hoá và quyền đƣợc nhà nƣớc
hỗ trợ để phát triển mọi mặt [17].
- Sách tham khảo “Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong
kiến Việt Nam (X-XIX)” (2011) [15; tr.10] của tác giả GS. TS. Phan Hữu Dật và TS.
Lâm Bá Nam là cơ sở hoàn thiện vấn đề lý luận lịch sử nhà nƣớc và pháp luật về giải
quyết vấn đề dân tộc trong tổng thể các chính sách về kinh tế - xã hội, quốc phòng –
an ninh trong tiến trình lịch sử của các nhà nƣớc trƣớc đây. Tài liệu này đóng góp
yếu tố kinh nghiệm xử lý vấn đề dân tộc trong một quốc gia và mang giá trị lịch sử
sâu sắc với luận án. Tuy nhiên, đây chỉ là nghiên cứu của chuyên ngành sử học, chƣa
đƣa ra nhiều kiến giải về mặt lập pháp.
- Sách “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các quyền mới xuất hiện trong
quá trình phát triển”(2012) [77] do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên tiếp tục có bài
viết mang tính gợi mở về “Quyền giữ gìn bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam” (tr.31) của tác giả Phạm Quang Linh dƣới góc độ nghiên cứu dân tộc học.
- Luận án tiến sĩ Luật học của Đỗ Thị Thơm: “Thực hiện pháp luật về quyền


triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nƣớc ta hiện nay”
(Lô Quốc Toản, 2009); Luận án Tiến sĩ Triết học “Thực hiện công bằng xã hội trong
giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số của nƣớc ta hiện nay” (Phạm Văn Dũng, 2009);

13


Luận án Tiến sĩ Triết học “Quan hệ giới trong gia đình dân tộc thiểu số vùng núi phía
Bắc Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Thị Hà, 2012); Luận án Tiến sĩ Triết học “Truyền
giáo và phát triển đạo Công giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Kon
Tum” (Đặng Luận, 2012); Luận án Tiến sĩ Triết học “Mối quan hệ giữa phát triển
kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số ở miền núi phía
Bắc nƣớc ta hiện nay” (Hoàng Thị Hƣơng, 2012); Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính
trị “Phát triển kinh tế tƣ nhân ngƣời Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” (Trần
Thị Anh Vũ, 2016); Luận án Tiến sĩ Nhân học “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nƣớc Việt Nam đối với tộc ngƣời Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận từ Đổi
mới đến nay” (Mã Điền Cƣ, 2016); Luận án Tiến sĩ Nhân học "Tri thức địa phƣơng
trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của ngƣời Sán Dìu ở Tuyên Quang"
(Nguyễn Thẩm Thu Hà, 2016); Luận án Tiến sĩ Luật học "Quản lý nhà nƣớc đối với
các thiết chế văn hóa cơ sở ở Việt Nam hiện nay (từ thực tiễn Hậu Giang)" (Nguyễn
Văn Phụng, 2016)... Những công trình này đã giải quyết thấu đáo nhiều vấn đề đặc
thù của NDTTS, tuy nhiên chƣa đem đến cái nhìn hệ thống và toàn diện, chƣa đem
đến những giải pháp trên góc độ của quyền.
1.1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về thực tiễn liên quan đến đề tài
Thứ nhất, về đánh giá thực trạng các qui định của pháp luật và thực hiện pháp
luật về QCNDTTS có:
- Đề tài khoa học cấp nhà nước Chính sách phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ - cơ
sở lý luận và thực tiễn (2010), mã số KX.02.10/06-10, do TS. Doãn Hùng làm chủ
nhiệm đã đƣa ra một số kinh nghiệm về ban hành chính sách tốt trên cơ sở ngôn ngữ

- Nhiều bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành nhƣ: “Nghị quyết bộ chính trị
về một số chủ trương, chính sách lớn và phát triển kinh tế - xã hội miền núi” (Tạp chí
Dân tộc học số 1/1990); “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách dân tộc ở
nước ta” (Tạp chí Dân tộc học số 3(67)-1990); “Từ nhu cầu văn hoá đến quyền văn
hoá của các dân tộc (trường hợp Tây Nguyên)” của tác giả GS. Nguyễn Tấn Đắc
(Tạp chí Dân tộc học số 2/1990) [24]; “Giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ giữa các
dân tộc” của tác giả Phan Hữu Dật, “Một số suy nghĩ về chính sách dân tộc” của tác
giả Nguyễn Dƣơng Bình, “Thực hiện tốt chính sách dân tộc, nhiệm vụ có tính chiến
lược của Đảng ta” của tác giả Khổng Diễn (Tạp chí Dân tộc học số 3(67)-1990);
“Tiếp vận đất đai như QCN: cơ sở pháp lý và thực tiễn tại Việt Nam” của TS. Đào
Thị Minh Hƣơng (Tạp chí nghiên cứu con ngƣời số 5 (62) 2012)...

15


Các nghiên cứu trên cung cấp các thông số phản ánh tình hình của NDTTS
qua các năm gần đây và cũng phân tích các số liệu đó dựa trên cơ sở tƣơng quan so
sánh với ngƣời Kinh, tuy nhiên, ở các công trình nghiên cứu trên chỉ thống kê đơn
thuần các số liệu theo định lƣợng mà không phân tích, đƣa ra những số liệu mang
tính tổng quát chung và số liệu gắn với tiêu chuẩn bảo đảm QCN, QCNDTTS. Do
vậy, luận án sẽ phải tiếp tục phân tích, đánh giá các số liệu theo yêu cầu bảo đảm
QCNDTTS và theo mốc thời gian cụ thể.
Thứ hai, về thực trạng của điều kiện bảo đảm QCNDTTS có:
- Nghiên cứu “Phân tích xã hội về tộc người và phát triển ở Việt Nam” [85] của
World Bank năm 2009; nghiên cứu “Các dân tộc Việt Nam: Phân tích các chỉ tiêu
chính từ: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009” [65] và “Nghèo đa chiều
trẻ em Việt Nam vùng dân tộc thiểu số: Thực trạng, Biến động và những thách thức”
(2015) [66] của Ủy ban Dân tộc (của Chính phủ Việt Nam) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp
quốc tại Việt Nam; nghiên cứu về “ iám sát thực trạng trẻ và phụ nữ - Điều tra đánh
giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014” của Tổng cục thống kê Việt Nam phối hợp

nông thôn, cao hơn hẳn so với dân số cả nƣớc (66,1%) [84].
Nhƣ vậy, các báo cáo đã chỉ ra các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị và văn
hoá... tác động nhƣ thế nào đến cơ hội và thực hiện quyền bình đẳng, cũng nhƣ các
QCN khác của NDTTS. Các nghiên cứu còn nhấn mạnh đến nhóm ngƣời dân tộc
thiểu số là phụ nữ, trẻ em (chịu tổn thƣơng kép) và đƣa ra bằng chứng cho thấy sự
tồn tại dai dẳng hiện tƣợng bất bình đẳng giới, tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận
huyết... đem đến một cái nhìn đa chiều về thực trạng thực hiện các QCN của trẻ em ở
vùng dân tộc thiểu số.
Những đánh giá trong các tài liệu trên đã phần nào phản ánh thực tiễn hiện nay
về những thực trạng của việc thực hiện các QCNDTTS và thực trạng của các điều kiện
bảo đảm QCNDTTS, đặc biệt là điều kiện chính trị - pháp lý. Tuy nhiên, các tài liệu
trên chƣa đƣa ra những đánh giá gắn với: quyền sống còn của trẻ em NDTTS; quyền
tham gia - phản biện xã hội; quyền tiếp cận thông tin... và các QCN khác. Chƣa có
nghiên cứu nào chỉ ra mối liên hệ không thể tách rời và phụ thuộc giữa các nội dung
của QCNDTTS. Cũng nhƣ chƣa có một nghiên cứu nào đánh giá về thực trạng các nội
dung QCNDTTS bị xâm hại, mà chủ yếu đƣợc đề cập tản mạn ở các bản tin, bài viết.
Chƣa có nghiên cứu nào tổng kết toàn diện về thực trạng các điều kiện bảo đảm
QCNDTTS ở Việt Nam hiện nay trong mối quan hệ tƣơng hỗ với nhau. Luận án đƣợc
kế thừa phần nào về những đánh giá trên, từ đó phân tích sâu hơn, mang tính thuyết

17


phục hơn và làm rõ hơn về những chính sách, pháp luật trong giai đoạn hiện nay có
liên quan đến thực trạng về điều kiện tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ cho đồng bào
NDTTS sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
Giúp cho chúng ta có những cách nhìn thấu đáo hơn về sự phù hợp của pháp luật với
chủ trƣơng, chính sách dân tộc của Đảng, về thể chế bảo đảm QCNDTTS, về chủ thể
thực thi pháp luật bảo đảm QCNDTTS hay về cơ chế bảo đảm QCNDTTS. Đây cũng
là nguồn thông tin có giá trị và có thể đƣợc sử dụng để phân tích các yếu tố liên quan

bài viết: “Tiếp cận phát triển con người theo tiêu chí sắc tộc của Chương trình phát
triển của Liên hợp quốc, một sáng kiến thành công cần vận dụng tại Việt Nam” [45]
và “Con người và văn hoá: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển” [45].
- Sách chuyên khảo nhƣ: “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”
(2011) do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên gồm 25 bài viết xung quanh vấn đề bảo
đảm QCN bằng pháp luật và các cơ quan chuyên trách [74].
- Sách “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN” (2012)
đƣợc biên soạn bởi Trung tâm nghiên cứu QCN và quyền công dân (Crights) của
Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội trong khuôn khổ Chƣơng trình Quản trị Nhà
nƣớc và cải cách hành chính Việt Nam – Đan Mạch (2007-2011), trong đó trình bày
hoạt động thúc đẩy QCN của các tổ chức xã hội dân sự trong khu vực ASEAN [41].
- Sách “Các thiết chế hiến định độc lập: Kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt
Nam” (2013) bao gồm 20 bài tham luận đƣợc tập hợp bởi Viện Chính sách công và Pháp
luật (trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) trong Hội thảo về
thiết chế hiến định độc lập vào tháng 12 năm 2012 [80].
- Các bài viết tạp chí nhƣ: "Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
hiện nay" (Tạp chí Giáo dục lý luận số 8/2016) của tác giả Lê Văn Lợi; “Chính sách dân
tộc của Trung Hoa” (Tạp chí dân tộc và thời đại số 44 năm 2002 - ISSN 0868-328x - Hội
dân tộc học Việt Nam); “Tình hình các dân tộc da đỏ ở Châu Mĩ hiện nay”, Hoàng Đình
Trực (Tạp chí Dân tộc học số 1/1990); “Xã hội dân sự ASEAN với tiến trình xây dựng
cộng đồng ASEAN” của tác giả Lê Thị Thanh Hƣơng (Tạp chí nghiên cứu con ngƣời số 1
(58) 2012)...
- Sách “Ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (những vấn đề
chung)” của TS.Nguyễn Hữu Hoành đã đề cập vấn đề về việc chƣa ai đƣa ra đƣợc
con số chính xác, đủ sức thuyết phục về số lƣợng các ngôn ngữ ở Việt Nam. Đồng
thời tác giả cũng nêu ra các giải pháp bảo tồn ngôn ngữ nhƣ: Triển khai việc đƣa
tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số vào trong lĩnh vực thông tin đại chúng; Xác

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status