Biện pháp phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng đảm bảo an toàn cho trẻ mầm non ngoài công lập quận hải an thành phố hải phòng - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐÀO THỊ HẢI

BIỆN PHÁP PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI
CỘNG ĐỒNG ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TRẺ MẦM
NON NGOÀI CÔNG LẬP QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐÀO THỊ HẢI

BIỆN PHÁP PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI
CỘNG ĐỒNG ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TRẺ MẦM
NON NGOÀI CÔNG LẬP QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. VŨ THỊ LAN ANH

trong chăm sóc và giáo dục trẻ MN nói chung và trong ĐBAT trẻ nói riêng rất
cần thiết. Ngay từ lứa tuổi MN, cha mẹ cần phối hợp với nhà trường quan tâm


đến các mặt sau đây của trẻ: Chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt, việc rèn luyện
các giác quan, phát triển ngôn ngữ, việc dạy trẻ cách ứng xử đúng đắn, giáo dục
lòng thương yêu đối với sự vật và con người xung quanh mình.
1.2. Trên thực tế, việc triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp ĐBAT cho
trẻ MN của các cơ sở giáo dục MN cùng sự chỉ đạo sát sao của các cấp quản lý
giáo dục đã được nhắc đến qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật, các quy định về
xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích trong các cơ sở
GDMN. Trẻ em trong các cơ sở giáo dục MN về cơ bản được hoạt động trong môi
trường giáo dục an toàn thân thiện. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện công tác
ĐBAT cho trẻ trong các cơ sở giáo dục MN vẫn còn nhiều khó khăn hạn chế. Bên
cạnh đó, một số cơ sở GDMN điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng đồ chơi
chưa đảm bảo đúng quy định, một số địa phương phương công tác quản lý, cấp
phép thành lập nhóm, lớp MN tư thục còn lỏng lẻo. Trong công tác quản lý, ứng xử
của GV với phụ huynh một số nơi còn nhiều bất cập.
Mặc khác, thực tế hiện nay phối hợp giữa cộng đồng với nhà trường trong
chăm sóc và giáo dục trẻ MN nói chung và trong ĐBAT trẻ nói riêng còn nhiều vấn
đề băn khoăn. Trong thực tế, trong môi trường xã hội mà trẻ sống, học tập và phát
triển; bên cạnh các mặt tác động tốt, các ảnh hưởng tích cực luôn luôn tồn tại, hàm
chứa các yếu tố có thể gây nguy hại đến sự phát triển nhân cách của trẻ và với đặc
điểm hiếu động và ít vốn sống lại trẻ dễ bắt chước theo, dần dần trở thành thói quen
xấu, tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách của trẻ. Nhất là khi thiếu sự phối
hợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất tác động giáo dục giữa nhà trường với cộng
đồng thì hậu quả xấu trong giáo dục sẽ xuất hiện, nếu không kịp thời khắc phục hậu
quả sẽ rất tai hại.
1.3. Quận Hải An là một quận mới thành lập cuả thành phố Hải Phòng với
nhiều lợi thế về tiềm lực kinh tế kéo theo theo sự gia tăng dân số cơ học nhanh

chăm sóc sức khỏe.
- Tìm hiểu thực trạng phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng ĐBAT cho
trẻ MN ngoài công lập


- Đề xuất biện pháp phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng ĐBAT cho
trẻ MN ngoài công lập; tiến hành khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi
của các biện pháp đề xuất.
4.2. Về khách thể và địa bàn nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:
+ CBQL: 23 CBQL
+ GV MN: 125 GVMN
+ Phụ huynh học sinh: 115PHHS
+ 33 Đại diện chính quyền địa phương và các đoàn thể trong cộng đồng
ba phường: Đằng Hải, Cát Bi, Nam Hải trên địa bàn quận Hải An:
- Địa bàn nghiên cứu: Quận Hải An, thành phố Hải phòng
5. Giả thuyết khoa học
Công tác phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN
ngoài công lập quận Hải An – Hải Phòng đã được triển khai nhưng chưa hiệu
quả. Nếu có những biện pháp phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng phù hợp
thì công tác ĐBAT cho trẻ MN ngoài công lập quận Hải An – Hải Phòng sẽ có
hiệu quả hơn, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ MN nói chung
và trẻ MN ngoài công lập nói riêng.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về ĐBAT cho trẻ MN, sự phối hợp
giữa nhà trường và cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN
6.2. Nghiên cứu thực trạng về ĐBAT cho trẻ MN ngoài công lập, thực
trạng phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN ngoài công lập,
Quận Hải An – Hải Phòng
6.3. Đề xuất và khảo nghiệm biện pháp phối hợp giữa nhà trường và cộng

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ nhằm xử lý những số liệu thu
được từ thực trạng ĐBAT và phối hợp nhà trường với cộng đồng ĐBAT cho trẻ


MN ngoài công lập quận Hải An – Hải Phòng, trên cơ sở đó, đưa ra những nhận
xét, đánh giá, lí giải nguyên nhân, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu
quả của hoạt động này.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: Phương pháp sử
dụng toán thống kê, phương pháp sử dụng phần mềm xử lí số liệu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị,danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lí luận về phối hợp nhà trường và cộng đồng
ĐBAT cho trẻ MN
Chương 2. Kết quả nghiên cứu thực trạng phối hợp nhà trường và công
đồng ĐBAT cho trẻ MN ngoài công lập Quận Hải An – Hải Phòng
Chương 3.Biện pháp phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng ĐBAT cho
trẻ MN ngoài công lập Quận Hải An – Hải Phòng
Kết luận – kiến nghị


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG VÀ
CỘNG ĐỒNG ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TRẺ MẦM NON
1.1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài.
Giáo dục MN trên thế giới được chú trọng, có nhiều đề tài nghiên cứu về
trẻ MN, có thể nhắc đến các đề tài “Preschool Experience vs.No Preschool
Experience:


giả Lê Thị Kim Hương; “Thực trạng phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong
việc chăm sóc, giáo dục trẻ em mẫu giáo ở một số trường MN Thành phố Vĩnh
Yên”, tác giả Vũ Thị Thu Hằng; “Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện hoạt động
nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ tại trường MN Trung
Mầu”, “Đo lường sự hài lòng của phụ huynh học sinh MN tại thành phố Hồ Chí
Minh đối với chất lượng giáo dục MN” của Vũ Nhân Vương …Tuy nhiên vẫn
chưa có đề tài nào cụ thể hóa về sự phối hợp nhà trường và cộng đồng ĐBAT
cho trẻ MN. Như vậy có thể khẳng định rằng lịch sử của đề tài chưa có một
nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về biện pháp phối
hợp giữa nhà trường và cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN ngoài công lập.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO
TRẺ MẦM NON
1.2.1. An toàn
1.2.1.1. Khái niệm an toàn
Theo Từ điển Tiếng Việt: An có nghĩa là yên; Toàn có nghĩa là trọn vẹn.
An toàn là yên ổn, không còn sợ tai họa1
An toàn còn có nghĩa là yên ổn, loại trừ nguy hiểm hoặc tránh được sự cố.
Theo đó, ta có thể hiểu an toàn trong giáo dục MN gắn liền với an toàn
cho trẻ. Có nghĩa là tạo sự yên ổn cả mặt thể chất và tinh thần, là tình trạng
không gây chấn thương, nguy hiểm đến tính mạng, ảnh hưởng đến sức khỏe của
trẻ

1

Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt (2000); Nhà xuất bản Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà

Nội - Đà Nẵng.


1.2.1.2.Vai trò của an toàn đối với đời sống con người

1.2.3. ĐBAT cho trẻ MN
1.2.3.1. Khái niệm ĐBAT cho trẻ MN
Là tránh được sự cố, tác động bên ngoài mang tính nguy hiểm lên thân thể
và tạo được tâm thế thoải mái về tinh thần cho trẻ. Việc ĐBAT cho trẻ trong các
cơ sở GDMN là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng
chăm sóc giáo dục trẻ nhất là khi hiện nay quy mô mạng lưới trường mần non
trên cả nước ngày càng tăng cao. Sự phát triển này đòi hỏi chất lượng chăm sóc,
giáo dục trẻ cần được chú trọng và ngày một nâng cao để đáp ứng được nhu cầu
của xã hội.
1.2.3.2. Nội dung ĐBAT cho trẻ MN
Hàng năm Bộ GD&ĐT có văn bản chỉ đạo công tác ĐBAT cho trẻ em tại
các cơ sở GDMN, yêu cầu các sở GD&ĐT chỉ đạo các phòng giáo dục phối hợp
với chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra các cơ sở GDMN kịp thời phát
hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về ĐBAT cho trẻ. Năm
học 2016-2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu giáo dục MN thực hiện các giải
pháp ĐBAT tuyệt đối cho trẻ trong các cơ sở giáo dục MN. Xây dựng môi
trường giáo dục thân thiện, ĐBAT tuyệt đối về thể chất và tinh thần cho trẻ.
Thường xuyên kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi,
kịp thời phát hiện, chỉ đạo khắc phục những yếu tố gây nguy cơ mất an toàn cho
trẻ khi tham gia các hoạt động tại trường/lớp MN. Đồng thời nâng cao chất
lượng công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ. Cơ sở giáo dục MN phải quản
lý chất lượng bữa ăn ở những nơi tổ chức ăn bán trú, huy động các nguồn lực để
nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho trẻ. Xây dựng chế độ ăn cân đối, đa
dạng, hợp lý, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị theo quy định. Từ đó, có
thể xác định nội dung ĐBAT cho trẻ MN như sau:
Thứ nhất là ĐBAT thương tích. Bộ GD&ĐT và các Bộ ngành liên quan đã
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như: Thông tư số 13/2010/TTBGDĐT ngày 15/4/2010 quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống
tai nạn thương tích trong các cơ sở GDMN. Ở lứa tuổi này, trẻ hiếu động, thích




quanh trường phải ĐBAT cao như đủ chiều cao, chất liệu thân thiện không dễ
dàng gây thương tích cho trẻ, bên cạnh đó cần có tính thẩm mỹ, tạo không gian
thân thiện với trẻ. Khu sân chơi phát triển vận động cho trẻ với các đồ chơi rèn
luyện khả năng vượt khó, nhận biết tín hiệu nguy hiểm được kiểm soát hàng
ngày. Khu nhà bảo vệ ở vị trí gần cổng ra vào đáp ứng tầm nhìn bao quát trong
khuôn viên, diện tích không quá rộng, được vệ sinh sắp đặt gọn gàng. Khu bếp
ăn được bố trí độc lập với khu học tập và vui chơi của trẻ. Tuân thủ quy tắc
phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật. Cây bóng mát được cắt tỉa
cành già, cành cao thường xuyên. Chiều cao của cây bóng mát trong sân trường
không quá cao, không có quá nhiều cành lá cản trở tầm nhìn, có nguy cơ gãy đổ
khi thời tiết mưa gió. Hệ thống đồ chơi ngoài trời được kiểm tra an toàn hàng
ngày cuối mỗi ngày học, tránh trường hợp long tuột ốc vít hoặc bong trượt mối
hàn gây nguy hiểm cho trẻ trong giờ chơi ngoài trời. Không để chậu hoa cây
cảnh trên bậc bệ có độ cao hơn từ ngang người trẻ trở lên. Đường giao thông
trong sân trường cần được làm phẳng, không trơn trượt, hệ thống thoát nước
ngầm đảm bảo không ứ đọng không gây mùi hôi trong không gian hoạt động của
trẻ. Bên cạnh đó, kỹ năng tổ chức các hoạt động cho trẻ trong môi trường trong
và ngoài lớp của GV cũng cần được tuân thủ theo kỷ luật bắt buộc tạo thói quen
tự đảm ảo an toàn cho trẻ. GV tích cực hướng dẫn trẻ nhận biết các dấu hiệu mất
an toàn trong khi tham gia hoạt động trong môi trường trong lớp hoặc ngoài lớp.
Khi trẻ muốn làm việc nào đó, GV quan sát những việc mà trẻ tỏ ra rất thích
thú, quan tâm. Sau đó hướng dẫn trẻ cách thực hành theo quy trình và bảo đảm
an toàn nhất. Cuối cùng, cho trẻ thử một vài lần để dẫn đến thành thạo.Trẻ còn ở
mẫu giáo thì chỉ nên tập cho trẻ biết cách tự chăm sóc bản thân như: tự mặc
quần áo, tự đi giày, tự xúc cơm… những việc đơn giản đó trẻ hoàn toàn có thể
làm được. Không nên cho trẻ làm những việc liên quan đến ổ cắm điện, bếp
gas... Vì lúc này trẻ chưa đủ hiểu biết và nhanh nhẹn để biết cách phòng tránh và
đối phó với những trường hợp nguy hiểm.




trong giới hạn đó một cách kiên nhẫn. Khích lệ trẻ khi cần thiết, không tung hô
khen ngợi trẻ thái quá. Mục tiêu là trẻ được tôn trọng, yêu thương.

`

(5) GV hãy tập cho trẻ thói quen làm việc, yêu lao động từ nhỏ. Tuyệt đối
không làm hộ trẻ, thay trẻ, như vậy làm mất khả năng tự học, tự bảo vệ an toàn
cho bản thân của trẻ qua lao động.
Thứ ba là ĐBAT thực phẩm. Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLTBGD&ĐT về việc hướng dẫn VSATTP trong các cơ sở GDMN. Đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo chất lượng bữa ăn cho trẻ. Theo Phạm Thị
Mai Chi, Lê Minh Hà; Trung tâm nghiên cứu giáo dục MN – Vụ giáo dục MN: “
Vệ sinh an toàn thực phẩm là mọi biện pháp, mọi cố gắng không để thực phẩm
bị ô nhiễm, bảo đảm thực phẩm không gây hại cho người sử dụng”2 . Chất lượng
vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến cả quá trình từ khâu sản xuất đến khâu
tiêu dùng nên công tác này đòi hỏi tính liên ngành cao và là công việc cùa toàn
dân. Các cơ sở giáo dục MN là nơi tập trung đông trẻ còn yếu ớt, chưa chủ động,
ý thức được về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nếu để xảy ra ngộ độc
thực phẩm trong các cơ sở giáo dục MN thì hậu quả sẽ rất lớn. Để làm tốt công
tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường MN có rất nhiều nội dung
cần được quan tâm chỉ đạo thực hiện:
(1) Vệ sinh an toàn thực phẩm và những điều kiện có liên quan.
(2) Các biện pháp vệ sinh phòng nhiễm bẩn thực phẩm: Vệ sinh cá nhân;
Vệ sinh môi trường; Vệ sinh dụng cụ chế biến (Dao, thớt, đũa, thìa, tiếp xúc với
thực phẩm sống và chín); Vệ sinh dụng cụ ăn uống ( Bát, thìa, cốc) được rửa
sạch.
(3) Kiểm soát quá trình chế biến.
(4) Khám sức khoẻ định kỳ cho nhân viên cấp dưỡng,
(5) Cung cấp kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cấp dưỡng, cha

trẻ MN
Theo từ điển Tiếng Việt “Phối hợp là cùng hành động hoặc hoạt động hỗ
trợ lẫn nhau”
Sự phối hợp nhà trường và cộng đồng hay sự phối hợp nhà trường, gia
đình, xã hội trong chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và ĐBAT cho trẻ nói riêng
là nhà trường, gia đình, xã hội cùng nhau hoạt động, hỗ trợ lẫn nhau trong chăm


sóc, giáo dục trẻ nói chung và ĐBAT cho trẻ nói riêng; là sự kết hợp chặt chẽ
quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ của nhà trường, quá trình chăm sóc giáo dục trẻ
của gia đình, và chăm sóc giáo dục trẻ của xã hội thành một quá trình thống
nhất, liên tục, khai thác được thế mạnh của mỗi lực lượng vào việc đảm bảo cho
trẻ phát triển một cách tốt nhất.
Như vậy, sự phối hợp nhà trường và cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN là sự
kết hợp chặt chẽ về việc ĐBAT cho trẻ trong cho trẻ trong nhà trường, ở gia
đình và ngoài xã hội thành một quá trình thống nhất, liên tục,khai thác được thế
mạnh của mỗi lực lượng vào việc ĐBAT một cách tốt nhất cho trẻ.
1.3.2 Tầm quan trọng của việc phối hợp giữa nhà trường với cộng
đồng đảmbảo an toàn cho trẻ MN.
Việc chăm sóc giáo dục trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng
không chỉ riêng của bậc học MN. Cho đến nay có rất nhiều hình thức và phương
pháp chăm sóc trẻ khác nhau như phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ theo
hướng đổi mới, hay phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng MN
mới…dù có thực hiện phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng nào nếu
như chỉ có nhà trường và GV nỗ lực cố gắng mà không có sự phối kết hợp với
gia đình, các bậc phụ huynh, về cách chăm sóc giáo dục trẻ thì hiệu quả chăm
sóc giáo dục trẻ sẽ không cao. Sự phối hợp nhằm tạo nên sự thống nhất về mục
đích, kế hoạch chăm sóc, nội dung giáo dục trẻ của nhà trường với phụ huynh
học sinh. Hỗ trợ nhau về phương pháp giáo dục về những điều kiện và phương
tiện cần phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ đạt kết quả tốt. sự phối hợp chặt

cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN
1.3.3.1. Mục đích và nội dung của việc phối hợp giữa nhà trường với
cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN.
Việc phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong chăm sóc giáo dục trẻ
nói chung và ĐBAT tuyệt đối cho trẻ nói riêng là một nguyên tắc cơ bản của sự
thành công. Sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường chăm sóc giáo dục nói trên,
trước là để đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức cũng như hoạt động cùng


một hướng,một mục đích, một tác động tổ hợp, đồng tâm tạo sức mạnh giúp
chăm sóc và ĐBAT cho trẻ một cách tốt nhất, tránh sự tách rời mâu thuẫn, bài
xích lẫn nhau gây ra tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao động trong việc lựa
chọn chăm sóc giáo dục và ĐBAT cho trẻ. Sự phối hợp giữa nhà trường với gia
đình và xã hội có thể diễn ra dưới nhiều hình thức. Vấn đề cơ bản hàng đầu là tất
cả các lực lượng giáo dục phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tạo ra
những mối quan hệ phối hợp vì mục tiêu giáo dục và ĐBAT cho trẻ một cách tốt
nhất.
1.3.3.2. Nội dung phối hợp nhà trường và cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN.
Sự phối hợp nhà trường và cộng đồng ĐBAT cho trẻ MN có thể được
triển khai trên nhiều nội dung. Có thể đề cập đến một số nội dung phối hợp cơ
bản trong ĐBAT cho trẻ MN là:
- Phối hợp nâng cao nhận thức cho cán bộ, GV nhà trường, cha mẹ học
sinh và các tổ chức xã hội trong cộng đồng về ĐBAT cho trẻ
- Phối hợp xây dựng các quy định, quy chế về ĐBAT cho trẻ
- Phối hợp tổ chức các hoạt động ĐBAT cho trẻ
- Phối hợp theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc ĐBAT cho trẻ
- Trao đổi thông tin hai chiều về ĐBAT cho trẻ
- Phối hợp huy động nguồn lực hỗ trợ ĐBAT cho trẻ
Cụ thể:
a. Phối hợp nhà trường với gia đình:

trẻ. GV cùng kết hợp với cha mẹ giúp trẻ thực hiện tốt chương trình chăm sóc
giáo dục theo từng chủ điểm, sưu tầm giúp lớp những tranh ảnh, sách báo cũ có
liên quan đến chủ điểm đang học. Biết được các thành viên trong gia đình. Mối
quan hệ tình cảm và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình với nhau.
Tôn trọng lễ phép với ông bà, bố mẹ, yêu quí em bé . Biết công việc hàng ngày
của ông bà bố mẹ. Biết địa chỉ, số điện thoại của gia đình. Nhận biết những đồ
dùng trong gia đình, tên gọi, công dụng…


(4) Ngoài ra phối kết hợp với ban phụ hunh của lớp và phối kết hợp cùng
với nhà trường trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội và các sự kiện đặc biệt ở
trường MN
(5) Phối kết hợp với cha mẹ trong việc thực hiện chựơng trình chăm sóc
bảo vệ sức khoẻ cho trẻ về kiến thức chăm sóc cũng như theo dõi sức khoẻ của
trẻ theo định kỳ.
Phối hợp với gia đình ĐBAT thực phẩm cho trẻ MN.
(1) Phối hợp cùng nhà trường tổ chức bữa ăn cho trẻ đủ lượng, đủ chất,
cân đối thành phần dưỡng chất, tuyệt đối ĐBAT thực phẩm.
(2) Đại diện chi hội phụ huynh trực tiếp tham gia khâu giao nhận thực
phẩm tay ba của nhà trường và nhà cung cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và
tăng cường yêu tố giám sát chất lượng thực phẩm .
(3) Tuân thủ quy trình gửi thực phẩm, đồ uống, sữa từ bên ngoài vào
trường theo quy định của nhà trường.
(4) Phối hợp cùng nhà trường tạo vùng canh tác rau an toàn, chăn nuôi tự
cung tự cấp theo đặc thù địa phương.
(5) Thực hiện đóng góp mức phí phù hợp để chất lượng bữa ăn của trẻ tại
trường đảm bảo về lượng, chất, cân đối và an toàn.
Phối hợp giữa nhà trường và gia đình để ĐBAT sức khỏe cho trẻ MN.
(1) Phối hợpvới phụ huynh khám sức khỏe định kỳ cho trẻ tại trường MN.
(2) Thực hiện nghiêm túc việc giữ về sinh cá nhân cho trẻ tại nhà. Giáo

tế, ... đầu tư cơ sở vật chất thiết bị cho GDMN nhằm chăm sóc trẻ nói chung và
ĐBAT cho trẻ nói riêng một cách tốt nhất.
Hai là hội khuyến học là tổ chức tự nguyện của những người tâm huyết
với sự nghiệp "trồng người" tích cực tham gia xã hội hoá giáo dục, góp sức phấn
đấu cho phong trào "toàn dân học tập, toàn dân tham gia làm giáo dục" nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Hội khuyến
học cũng là tổ chức xã hội tham gia phối hợp với nhà trường trong việc chăm
sóc nói chung và ĐBAT nói riêng cho trẻ MN. Các nội dung mà hội khuyến học
có thể phối hợp với nhà trường trong việc ĐBAT cho trẻ MN là: tuyên truyền,


phổ biến kiến thức và kỹ năng nuôi dạy trẻ dưới 6 tuổi cho các bậc cha mẹ và
cộng đồng; vận động hội viên tham gia trong việc huy động trẻ đến trường lớp
mẫu giáo, hỗ trợ công tác tổ chức hoạt động của các nhóm trẻ gia đình, nhóm
lớp MN tư thục; vận động kinh phí xây dựng cơ sở vật chất an toàn nhằm nâng
cao chất lượng chăm sóc trẻ tại địa phương; cùng với nhà trường nâng cao chất
lượng chăm sóc tinh thần tâm lý cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi.
Ba là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh:
Đoàn thanh niên cũng là tổ chức xã hội tham gia phối hợp với nhà trường
trong việc chăm sóc nói chung và ĐBAT nói riêng cho trẻ MN. Các nội dung
mà Đoàn thanh niên có thể phối hợp với nhà trường trong việc ĐBAT cho trẻ
MN là: phát động phong trào đóng góp công sức lao động xây dựng cơ sở vật
chất an toàn cho các cơ sở GDMN; đoàn viên làm đồ chơi, đồ dùng học tập an
toàn cho trẻ MN; tuyên truyền phổ biến kiến thức CS-GD và ĐBAT cho trẻ cho
các bậc cha mẹ và cộng đồng; hỗ trợ tổ chức các buổi tuyên truyền; động viên
các thành viên của mình tham dự các buổi phổ biến kiến thức; tổ chức các câu
lạc bộ để chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc giáo dục và ĐBAT cho con cái....
Bốn là các tổ chức y tế
Phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn công
tác chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh đạc biệt là phòng chống dịch

huynh về chương trình giáo dục công việc, thảo luận về các hình thức phối hợp
giữa gia đình và nhà trường (họp đầu năm) kết hợp phổ biến kiến thức CS – GD
trẻ cho cha mẹ.
(4) Tổ chức những buổi sinh hoạt, phổ biến kiến thức chăm sóc giáo dục
trẻ theo chuyên đề đặc biệt hoặc khi có dịch bệnh. Đối với trẻ mẫu giáo lớn, cần
chú trọng các chuyên đề, các nội dung về chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, phòng
chống béo phì và suy dinh dưỡng.
(5) Thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe cho trẻ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status