PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
+ Lý do về mặt lí luận
Sinh học là môn khoa học nghiên cứu về thế giới sinh vật trong tự nhiên.
Có nhiều loài sinh vật khác nhau: vi sinh vật, thực vật, động vật và con người.
Sự tiến hoá của giới thực vật, động vật và con người ngày một hoàn thiện hơn để
thích nghi với điều kiện sống. Tại sao có loài tồn tại đến ngày nay và có loài tiệt
chủng. Bên cạnh đó cũng không ít loài bị tiệt chủng hoặc đột biến do con người
gây ra như: sử dung các chất độc hoá học, các tia phóng xạ… gây ô nhiễm môi
trường. Sinh học phản ánh mọi mặt của cuộc sống xã hội góp phần hình thành
phát triển hoàn thiện nhân cách cho học sinh theo mục tiêu giáo dục. Nó là chìa
khoá để học sinh tiến vào mọi lĩnh vực khoa học, mọi hoạt động xã hội, nó có
tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn trí tuệ con người. Các bài mà
học sinh học là tiếng nói của tình cảm, là khí giới thanh cao đắc lực có tác dụng
mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm, cảm xúc của con người. M xim G.Ki đã từng
nói “Sinh học giúp con người hiểu được bản thân mình, làm nảy nở ở con người
những khát vọng hướng tới chân lý”
Trải qua những thăng trầm của lịch sử sinh học không ngừng phát triển nó
đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục học sinh trong nhà
trường phổ thông trở thành những người có ích tài đức, xây dựng xã hội và bảo
vệ tổ quốc. Ngày nay xã hội ngày càng đổi mới đòi hỏi con người cần phải tiến
kịp với tiến bộ trong xã hội. Chính vì vậy việc giảng dạy trong nhà trường càng
cần phải đổi mới cho phù hợp với sự vận động đi lên của thời đại. Giờ dạy sinh
học cần phải đạt chất lượng cao giúp các em lĩnh hội được những tinh hoa của
cuộc sống. Từ đó giúp các em hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình hơn
nữa.
Cho nên việc dạy sinh học cần được nâng cao chất lượng. Cần được giáo
viên quan tâm. Vậy muốn đáp ứng yêu cầu trên đòi hỏi người giáo viên cần phải
có phương cách chủ động. Vì vậy qua thực tế giảng dạy cộng với sự học hỏi
kinh nghiệm của các pháp giảng dạy phù hợp, phát huy được khả năng nhận
thức của học sinh. Tôi đã rút ra được cho mình một số phương pháp dạy học tích
Đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm của đổi mới giáo dục hiện
nay. Với “Một vài kinh nghiệm dạy học phần Di truyền và Biến dị trong Sinh
học 9 theo phương pháp dạy học tích cực”
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã vận dụng kết hợp các phương pháp chính
như sau :
4.1. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục :
Năm học 2009 – 2010 là năm thứ 7 thực hiện thay sách giáo khoa áp dụng
phương pháp dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm do Bộ giáo dục ban hành.
Tuy nhiên để vận dụng phương pháp này vào thực tế giảng dạy cho tất cả các
vùng miền là điều không phải giáo viên nào lên lớp cũng vận dụng một cách có
hiệu quả được. Chính vì lẽ đó, bản thân tôi và các đồng nghiệp đã nghiên cứu rất
kĩ vấn đề này nhằm đưa ra một phương pháp dạy học tích cực hơn phù hợp cho
những học sinh thuộc vùng khó khăn mà tôi đang công tác. Qua hơn một năm áp
dụng phương pháp này, kết quả học tập của học sinh được nâng lên khá rõ.
4.2. Phương pháp điều tra :
Năm học 2009 – 2010 tôi được phân công dạy môn sinh học khối lớp 9,
kết quả thống kê ở học kì 1 cho thấy tỉ lệ học sinh dưới điểm trung bình còn rất
thấp. Để kiểm nghiệm lại kết quả đạt được tôi đã thử cho 2 lớp 9 trả lời 2 câu
hỏi sau:
Em nào thích học bộ môn sinh học theo phương pháp dạy học truyền
thống. Nghĩa là thầy truyền đạt kiến thức – trò thu nhận kiến thức một cách thụ
động mà không cần phải tìm tòi ?
Em nào thích học bộ môn sinh học theo phương pháp dạy học tích cực.
Nghĩa là thầy chỉ đóng vai trò chỉ đạo, hướng dẫn – trò tự tìm tòi, thảo luận
nhóm nhằm phát hiện kiến thức mới thông qua kênh hình, vật mẫu…?
Qua thống kê cho thấy:
Trang 2
chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động, hình thành các năng lực cho học
sinh.
Dạy học tích cực ở đây đề cập tính tích cực của các phương pháp dạy học
hướng tới hoạt động hoá, tích cực hoạt động nhận thức và hành động của người
học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, để dạy học tích
cực thì giáo viên phải nổ lực nhiều hơn so với lối dạy học thụ động.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Rõ ràng là cách dạy chỉ
đạo cách học nhưng ngược lại thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới cách
dạy của thầy …
Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, có sự phối
hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.
Dạy học tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học.
muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy, chúng tương tác lẫn nhau, có khi
đồng thuận nhưng cũng có khi không đồng thuận do sự chưa tương hợp giữa
cách dạy và cách học.
Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng sau :
+ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
+ Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác.
+ Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự dánh giá của học sinh.
Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh: Người học
là đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học, được
cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua
đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải tự động tiếp thu
những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của
đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, thí nghiệm, giải quyết
vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức, kĩ
năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức kĩ năng đó, không rập
theo khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo . Dạy theo
Trang 4
được các mục tiêu cụ thể ở mỗi bài, chương hay phần sinh học cụ thể.
Các hoạt động chủ yếu của giáo viên là:
+ Thiết kế kế hoạch bài học (giáo án), bao gồm các hoạt động của học
sinh theo những mục tiêu cụ thể của mỗi bài sinh học mà học sinh cần đạt được.
+ Tổ chức các hoạt động trên lớp để học sinh hoạt động cá nhân hoặc theo
nhóm như: nêu vấn đề cần tìm hiểu, tổ chức các hoạt dộng tìm tòi phát hiện tri
thức và hình thành kĩ năng về Sinh học.
+ Định hướng, điều chỉnh các hoạt động của học sinh, chính xác hoá các
khái niệm sinh học, kết luận về các hiện tượng, quá trình Sinh học mà học sinh
tự tìm tòi được. Tuỳ theo trình độ học sinh mà giáo viên có thể cung cấp thêm
một số thông tin mở rộng hoặc đi sâu, mà thông tin trong sách giáo khoa không
có điều kiện tìm tòi phát hiện được thông tin qua các hoạt động ở trên lớp.
+ Thiết kế và sử dụng các phương tiện trực quan, sưu tầm hiện tượng thực
tế, biểu diễn các thí nghiệm Sinh học hoặc mô hình, mẫu vật như là nguồn để
Trang 5
học sinh khai thác, tìm kiếm, phát hiện những kiến thức, rèn luyện kĩ năng về
Sinh học.
+ Tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện kĩ năng học tập, năng lực tự
học, vận dụng được nhiều hơn những tri thức của mình để giải quyết một số vấn
đề có liên quan tới Sinh học vào đời sống và sản xuất.
+ Dạy cho học sinh cách học tích cực, chủ động và sáng tạo.
II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn Sinh học thực hiện thay sách đại trà từ
lớp 6 đến lớp 9 ở Trường THCS Hùng Vương, tôi nhận xét thấy có những mặt
được và chưa được như sau:
Đối với cấp trung học cơ sở việc thay sách và dạy theo phương pháp mới
bắt đầu từ lớp 6, nhìn chung thì đã phát huy được tính tích cực của học sinh. Tuy
40%
Kết quả học tập của học sinh đối với bộ môn Sinh học qua những năm gần đây
như sau:
Trang 6
Thời gian
2005 - 2006
2006 - 2007
2007 - 2008
Dưới trung bình
40 %
35 %
30 %
Trên trung bình
60 %
65 %
70 %
Qua điều tra sơ bộ cho thấy chất lượng học tập của học sinh ở bộ môn
Sinh học thấy có phần tiến bộ hơn. Tuy nhiên tỉ lệ học sinh điểm dưới trung bình
vẫn còn khá cao. Với trách nhiệm của người giáo viên thực hiện công tác giảng
dạy luôn mong muốn chất lượng của bộ môn mình được nâng cao. Vì vậy, tôi đã
rất cố gắng nghiên cứu đưa ra một phương pháp mới trong dạy học để nhằm đưa
chất lượng bộ môn ngày một cao hơn.
Đối với phần Di truyền và biến dị của môn Sinh học lớp 9, đây là phần
C/ TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:
I / Ổn định lớp: (1 phút)
II/ Kiểm tra bài cũ: (4 phút)
Căn cứ vào đâu mà Menđen lại cho rằng các tính trạng màu sắc và hình
dạng hạt đậu trong thí nghiệm của mình di truyền độc lập với nhau ?
* Trả lời: Căn cứ vào tỉ lệ mỗi kiểu hình ở F 2 bằng tích các tỉ lệ các tính
trạng hợp thành nó, Menđen đã xác định các tính trạng màu sắc và hình dạng
hạt di truyền độc lập với nhau.
III/ Bài mới:
HOẠT ĐỘNG 1
Menđen – giải thích kết quả thí nghiệm.
Thời
gian
25 P
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
- Yêu cầu học sinh đọc thông tin
sgk và quan sát hình 5 sgk/17, thảo
luận nhóm.
- Do đâu F1 toàn hạt vàng trơn?
- Khi cơ thể lai F1 hình thành giao
tử, 2 cặp nhân tố di truyền Aa, Bb
phân li về giao tử như thế nào ?
- Gọi các nhóm trả lời.
-Đọc thông tin và quan sát hình
- Tiếp tục cho học sinh thảo luận - Thảo luận nhóm, thống nhất ý
nhóm, hoàn thành bảng 5 sgk tr 18. kiến hoàn thành nội dung bảng
4 sgk trang 18.
- Theo dõi giúp đỡ các nhóm hoàn - Hoàn thành bảng dưới sự
Trang 8
thành bảng.
- Gọi các nhóm lên điền bảng.
- Nhận xét và chuẩn kiến thức.
Kiểu hình F2
Tỉ lệ
Tỉ lệ của mỗi
kiểu gen ở F2
Tỉ lệ của mỗi
kiểu hình ở F2
hướng dẫn của giáo viên.
- Đại diện các nhóm lên điền
bảng, các nhóm khác theo dõi
và nhận xét bổ sung.
- Theo dõi và tự sửa bài.
Hạt vàng,
trơn
Hạt vàng,
nhăn
HOẠT ĐỘNG 2 :
Ý nghĩa của qui luật phân li độc lập.
- Yêu cầu học sinh đọc thông tin
sgk/18.
- Tại sao ở các loài sinh sản hữu tính
10P
biến dị lại phong phú ?
- Đọc thông tin sgk/18, trả lời
câu hỏi:
+ F2 có sự tổ hợp lại các nhân tố
di truyền
hình thành các
kiểu gen khác P.
- Nêu ý nghĩa của quy luật phân li + Sử dụng quy luật phân li độc
độc lập ?
lập có thể giải thích được sự
xuất hiện của biến dị tổ hợp.
- Ở cơ thể Aa cho 2 loại giao tử, + 8 loại giao tử ( Mỗi cặp gen dị
AaBb cho 4 loại, vậy cơ thể AaBbCc hợp cho 2 loại giao tử, sự tổ hợp
cho mấy loại giao tử?.
tự do của 3 cặp gen dị hợp sẽ
cho 2x2x2 = 8)
- Nhận xét và bổ sung giúp học sinh
hoàn thiện kiến thức.
Trang 9
kim loại )
III. Các giải pháp và kết quả đạt được.
1. Biện pháp phối hợp :
Với sự góp ý rất nhiệt tình của các đồng nghiệp về một số kiến thức liên
quan đến lĩnh vực khoa học, xã hội hoặc một số nội dung khó trong quá trình
thực hiện đề tài. Thông qua các tiết dự giờ thăm lớp, đồng nghiệp đã bổ trợ cho
tôi rất nhiều kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, để từ đó giúp tôi hoàn thành
được đề tài của mình.
Để một tiết dạy theo phương pháp tích cực thì việc học bài, chuẩn bị bài ở
nhà của học sinh là rất quan trọng. Nếu như không có sự chuẩn bị bài chu đáo
của học sinh trước khi đến lớp thì tiết dạy không thể thành công được. Do vậy
phần củng cố và dặn dò buộc người dạy phải thực hiện trong tiết dạy. Vì có như
thế học sinh mới có sự chủ động chuẩn bị bài trước ở nhà được. Tôi còn dành
Trang 10
thời gian để thống kê số học sinh chưa học bài, chưa chuẩn bị bài, ít hoạt động
trong tuần để thông báo với giáo viên chủ nhiệm hoặc ghi vào nhận xét sổ đầu
bài để giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm thông báo kịp thời về cho gia đình
của học sinh biết để có sự phối hợp giáo dục kịp thời ….Bên cạnh đó tôi còn cần
sự giúp đỡ của hội cha mẹ học sinh như : việc bỏ học của học sinh, việc học sinh
gây gỗ đánh nhau, học sinh có hoàn cảnh khó khăn ….Với sự phối kết hợp trên
giúp tình cảm giữa thầy – trò gắn chặt nhau hơn, như vậy kết quả học tập ngày
càng được nâng cao hơn .
2. Biện pháp tuyên dương khen thưởng :
Đây là động lực để giúp các em tăng thêm phần hứng thú trong học tập.
Vì vậy, trong từng tiết học, sau những câu hỏi khó nếu học sinh nào trả lời đúng
tôi có thể cho điểm và dành những lời khen để thích lệ tinh thần học tập của các
em. Trong kiểm tra miệng, những học sinh xung phong trả lời câu hỏi một cách
xuất sắc sẽ được điểm tối đa, những học sinh trả lời câu hỏi chưa đạt yêu cầu tôi
2008-2009
15 %
85 %
HKI
2009-2010
8%
92 %
Trang 11
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay theo hướng lấy học sinh làm
trung tâm đã mang lại nhiều kết quả rất khả quan. Phương pháp tích cực hướng
tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học.
Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng sau :
+ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
+ Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác.
+ Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh.
Áp dụng phương pháp tích cực không có nghĩa là gạt bỏ hoàn toàn các
phương pháp truyền thống. Trong môn Sinh học, muốn nâng cao chất lượng
trong tiết dạy cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực
quan theo kiểu tìm tòi bộ phận hoặc nghiên cứu phát hiện, giải quyết vấn đề.
Tổ chức hội thảo liên trường nhằm trao đổi những vấn đề khó trong quá
trình dạy học.
2.2. Đối với trường Trung học cơ sở Hùng Vương.
Tăng cường mua sắm tài liệu tham khảo, thiết bị dạy học cho giáo viên bộ
môn.
Xây dựng kinh phí bồi dưỡng cho giáo viên tham gia học tập nâng cao
trình độ.
Trang 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- SGK sinh học 9, NxB Giáo dục – Bộ giáo dục và Đào tạo.
- Sách bài tập Sinh học 9, NXB Giáo dục – Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sinh học 9 – Bộ GD – ĐT
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên – NxB GD
- Tạp chí giáo dục – Tháng 5 / 2005 .
Trang 13