TIỂU LUẬN: XÃ HỘI HỌC ĐÔ THỊ
ĐỀ TÀI: SỰ THAM GIA HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CỦA NHÂN
VIÊN VĂN PHÒNG TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY (KHẢO SÁT
TẠI CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NEW HOWSING R4ROYAL
CITY HÀ NỘI)
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐS
Bất động sản
HĐGT
Hoạt động giải trí
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
1
2
Tên bảng
Bảng 1: Mức lương trung bình một tháng của nhân
viên văn phòng New Housing
(Đơn vị: %)
Biểu đồ 4: Cơ cấu mẫu phân theo chức vụ (Đơn vị: %)
Biểu đồ 5: Sự lựa chọn tham gia các hoạt động giải trí
của nhân viên văn phòng tại văn phòng New Housing
(%)
Biểu đồ 6: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giải
trí của bản thân theo đánh giá của nhân viên văn
phòng New Housing (Đơn vị : %)
Biểu đồ 7: Đánh giá của nhân viên văn phòng New
Housing về ưu điểm của các hoạt động giải trí mà họ
tham gia (Đơn vị %)
Biểu đồ 8: Thời gian làm việc trung bình một ngày của
nhân viên văn phòng New Housing (Đơn vị %)
Biểu đồ 9: Mức độ nhiệt tình trong tham gia hoạt động
giải trí do công ty tổ chức của nhân viên văn phòng
New Housing (Đơn vị %)
Biểu đồ 10: Mức độ hài lòng đối với các hoạt động giải
trí do công ty tổ chức của nhân viên văn phòng New
Housing (Đơn vị %)
3
Trang
16
16
17
17
28
37
Làm việc văn phòng là niềm mơ ước của nhiều người, ai cũng bảo ngồi
nhiều một chỗ việc nhẹ lương cao hầu hết mọi người đều cho rằng, dân làm
văn phòng là sung sướng nhất, bởi không phải ra nắng, ra gió, được ngồi máy
lạnh cả ngày, lại được ăn mặc chải chuốt, không phải chạy tới chạy lui, đi đi
lại lại nhưng họ đã nhầm. Theo nghiên cứu đặc tính của nhân viên văn phòng
4
là ngồi một chỗ cả ngày điều đó hại cho sức khỏe, không chỉ gây ra những
cơn đau, ngồi trong nhiều giờ gây giảm tuổi thọ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, khi
ngồi trên 8 tiếng một ngày, bạn sẽ có nguy cơ mắc bệnh như rối loạn cơ
xương, béo phì, ung thư hay những bệnh liên quan đến tim mạnh, thận,… kể
cả khi bạn có thói quen tập thể dục đều đặn.Ánh sáng đèn, nhìn màn hình máy
tính sẽ làm cho bạn nhanh bị mỏi mắt, ngứa, đỏ mắt, rối loạn thị lực, thậm chí
còn có thể làm cho bạn đau đầu, chóng mặt. Với không gian làm việc bức bối,
chật hẹp, ít cây xanh,… hiện tượng thiếu oxy thường xuyên, tình trạng làm
việc dễ buồn ngủ. Trong văn phòng có rất nhiều bụi từ vụn giấy, máy móc,
thảm, nệm… dễ gây kích ứng da và chứng dị ứng. Vì vậy, nghiên cứu về nhu
cầu và hoạt động vui chơi giải trí trong những năm gần đây đã thu hút được
nhiều học giả, nhà nghiên cứu xã hội học trong và ngoài nước quan tâm
nghiên cứu. Nghiên cứu về nhu cầu giải trí thường được xem xét ở các bình
diện như; thực trạng giải trí, những yếu tố ảnh hưởng, những khó khăn thách
thức, và những mon muốn của nhóm nhân viên văn phòng về nhu cầu giải trí
là gì… Trên cơ sở đó em chọn đề tài nghiên cứu: “Sự tham gia hoạt động
giải trí của nhân viên văn phòng tại Hà Nội hiện nay (Khảo sát tại công ty
bất động sản New Housing R4 Royal city Hà Nội” làm đề tài chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hoạt động giải trí (với tư cách là những hoạt động tự do, theo nhu cầu và sở
thích cá nhân) là bộ phận quan trọng trong cơ cấu sống của cá nhân. Hoạt
mình tốt hơn.
Luận văn: “Cơ cấu hoạt động giải trí của thanh niên: So sánh nhóm
thanh niên đi làm và nhóm thanh niên đi học” (2012) – Cao Phương Thúy.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động giải trí của thanh niên hiện nay khá
đa dạng. Những hoạt động đó bao gồm cả những hoạt động mang tính vận
động và những hoạt động mang tính thụ động. Hoạt động giải trí của thanh
niên hiện nay không chỉ là giải trí đơn thuần mà còn là sự giải trí có định
hướng, có chọn lọc. Do điều kiện đời sống vật chất được cải thiện và do nhu
6
cầu giải trí ngày càng cao vì thế mà người dân nói chung và đặc biệt là thanh
niên nói riêng đã đầu tư khá nhiều thời gian rỗi của mình vào việc sử dụng
các loại hình giải trí. Có sự khác biệt về mức độ giải trí giữa thanh niên đi học
và thanh niên đi làm, bên cạnh đó có sự khác biệt giữa các lứa tuổi, khu vực
sống của thanh niên đi học và đi làm. Hiện nay các thành phố lớn hay ở các
đô thị có nhiều điểm vui chơi giải trí cho thanh niên hơn ở các vùng nông
thôn, vùng sâu vùng xa. Điều đó đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của toàn xã hội
đối với nhu cầu giải trí của thanh niên.
2.2. Những nghiên cứu về hoạt động giải trí của người dân khu vực
nông thôn:
Nghiên cứu: “Thực trạng sử dụng thời gian rỗi của người dân nông
thôn đồng bằng Bắc Bộ (Nghiên cứu trường hợp xã Trịnh Xá – huyện Bình
Lục – tỉnh Hà Nam)”, tạp chí Xã hội học, số 04 – 2009 của tác giả Nguyễn
Tuấn Minh đã chỉ ra các hoạt động chính trong thời gian rỗi của người dân xã
Trịnh Xá, bước đầu phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc sử dụng
thời gian rỗi của người dân địa phương. Tác giả đưa ra kết luận điều kiện kinh
tế là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất; từ đó nêu lên một số khuyến nghị và
giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân nông thôn trong thời
đại mới.
giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong các hoạt động vui
chơi giải trí ở khu vực đô thị thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Như vậy, chúng ta thấy có rất nhiều tác giả trong các ngành khoa học
xã hội nói chung và xã hội học nói riêng đã có những nghiên cứu, những bài
viết, những bình luận, những nhận xét về vấn đề này. Trong đề tài này, sự
tham gia các hoạt động giải trí của người dân được nghiên cứu từ hướng tiếp
cận xã hội học. Đóng góp mới của nghiên cứu là: Thứ nhất, phản ánh thực
trạng tham gia các loại hình giải trí của một đối tượng còn ít được đề cập đến
trong các nghiên cứu trước đó – nhân viên văn phòng mà cụ thể ở đây là nhân
viên văn phòng bất động sản New Housing trong thời gian qua; nhận diện
8
những loại hình giải trí phổ biến nhất. Thứ hai, phân tích những yếu tố chính
có ảnh hưởng đến sự tham gia hoạt động giải trí của nhân viên văn phòng tại
địa bàn khảo sát.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Nhu cầu giải trí của nhân viên văn
phòng hiện nay.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là: Nhân viên đang làm việc ở văn
phòng BĐS New Housing.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Văn phòng BĐS New Housing, tòa R4 tầng 2
Royal City Hà Nội
Phạm vi thời gian: Từ tháng 03 – tháng 05/2017
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
−
Khảo sát thực trạng nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu giải trí cho nhân
−
viên văn phòng tại văn phòng BĐS New Housing;
Đề xuất một số hình thức giải trí cho nhân viên văn phòng phù hợp với
điều kiện kinh tế xã hội chung và điều kiện hoạt động của các văn
phòng hiện nay.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Sự tham gia hoạt động giải trí của nhân viên văn phòng tại
văn phòng BĐS New Housing hiện nay như thế nào?
Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia hoạt động
giải trí của nhân viên văn phòng tại văn phòng BĐS New Housing ?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Sự tham gia hoạt động giải trí của nhân viên văn phòng
tại văn phòng BĐS New Housing rất cao và đa dạng.
Giả thuyết 2: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia hoạt động
giải trí của nhân viên văn phòng tại văn phòng BĐS New Housing như: Điều
kiện kinh tế; Nhận thức của cá nhân về ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt
động giải trí; Thời gian làm việc – nghỉ ngơi do công ty quy định.
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
10
7.1. Ý nghĩa khoa học
Hoạt động giải trí của nhân viên văn phòng được nhìn nhận dưới góc
độ xã hội học. Chuyên vận dụng một số lý thuyết xã hội học như lý thuyết
luôn xem xét các sự vật hiện tượng của đời sống xã hội trong những mối liên
hệ, ràng buộc lẫn nhau và đồng thời xem xét chúng trong những khoảng
không - thời gian xác định. Đề tài sử dụng các quan điểm của lý thuyết nhu
cầu, lý thuyết chức năng định hướng cho chuyên đề.
8.2. Phương pháp thu thập thông tin
Để tiến hành việc thu thập, xử lý và phân tích thông tin phục vụ cho đề
tài, tác giả sử dụng một số phương pháp Xã hội học cụ thể sau đây:
8.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Những đề tài có liên quan đều được kế thừa và vận dụng những thông
tin về vấn đề nghiên cứu. Qua phân tích tài liệu, tác giả sẽ có nội dung phong
phú và đầy đủ hơn. Bên cạnh đó sử dụng phương pháp này giúp đề tài có thể
so sánh các nguồn thông tin từ các quan điểm, các cách nhìn khác nhau để lựa
chọn những thông tin chân thực, khách quan làm nổi bật vấn đề nghiên cứu.
8.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu, để tìm hiểu và tiếp
cận thông tin một cách chính xác nhất. Trong quá trình nghiên cứu đề tài
phỏng vấn 05 nhân viên văn phòng BĐS New Housing.
8.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi được xây dựng trên cơ sở
nội dung nghiên cứu bao gồm các câu hỏi liên quan đến nhu cầu giải trí của
nhân viên văn phòng. Qua bảng hỏi thu thập được các thông tin cần thiết .Với
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên là 50 nhân viên ở địa bàn nghiên cứu.
12
Thông tin thu được từ bảng hỏi sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS để đưa ra
những kết quả chính xác phục vụ cho việc nghiên cứu.
Cơ cấu mẫu điều tra bằng bảng hỏi:
Biểu đồ 1: Cơ cấu mẫu phân theo giới tính (Đơn vị: %)
Nhu cầu giải trí
Truy cập internet
Hoạt động giải trí
thể dục thể thao
Hoạt động giải trí
văn nghệ
Hoạt động giải trí
dã ngoại
Điều kiện cá nhân
Thời gian
Sức khỏe
Kinh tế
Nhân khẩu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NHU
CẦU GIẢI TRÍ NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Lí thuyết trong nghiên cứu
Các bậc thang nhu cầu trong Thuyết Nhu cầu của Maslow
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow vào đề tài ta thấy: Nhu cầu
giải trí là một trong những nhu cầu bậc cao. Con người tự nhận thấy bản thân
cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó
được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Do đó, chỉ khi cuộc sống đã
tương đối đầy đủ, các nhu cầu sinh học được đáp ứng thì con người mới có
mong muốn thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm giải trí
Theo tác giả Đoàn Văn Chúc, trong bất kỳ xã hội nào cũng có bốn dạng
hoạt động mà con người phải thực hiện: 1- Những hoạt động lao động sản
xuất, 2 – Những hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân, 3 – Những hoạt động
thuộc đời sống vật chất, 4 – Những hoạt động thuộc đời sống tinh thần. Dạng
hoạt động thứ tư được thực hiện trong khoảng thời gian con người hoàn toàn
tự do, nhằm giải tỏa căng thẳng để đạt tới sự thư giãn, và cao hơn nữa là rung
cảm thẩm mỹ. Nó được gọi là hoạt động giải trí và thời gian dành cho nó
được gọi là thời gian rỗi. [1, tr.6]
17
Theo tác giả Đinh Thị Vân Chi, hoạt động giải trí “là hoạt động trong
thời gian rỗi, nhằm giải tỏa căng thẳng trí não, tạo sự hứng thú cho con người
và là điều kiện phát triển con người một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và
thẩm mỹ” [1, tr.6]
Từ góc nhìn xã hội học, tác giả Phạm Duy Đức nêu lên định nghĩa về
giải trí như sau “Giải trí là một dạng hoạt động xã hội, diễn ra chủ yếu trong
thời gian rỗi, nhằm lập lại thế cân bằng tâm - sinh lý, đồng thời đáp ứng các
việc chung, đối nội, đối ngoại, quản lý công sở của tổ chức đó (Văn phòng
Sở, hay văn phòng được đặt trong các cơ quan, tổ chức, công ty và thường có
các chức danh Chánh Văn phòng, Phó Văn phòng...). Thời Trung Cổ (1000
-1300) văn phòng đã được manh nha hình thành và là nơi mà hầu hết các lá
thư của triều đình, các văn bản luật pháp đã được sao chép và lưu giữ.
Trong tiếng Anh, khi được sử dụng như một tính từ, thuật ngữ "văn
phòng" có thể chỉ các hoạt động liên quan đến việc kinh doanh, với nhiều từ
liên quan như văn phòng phẩm (Quầy văn phòng phẩm). Về mặt pháp lý, văn
phòng có thể là tên giao dịch của một tổ chức có tư cách pháp nhân như
các văn phòng luật sư, văn phòng công chứng hoặc là một bộ phận của công
ty, doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh như văn phòng đại diện, văn
phòng thương mại, trung tâm xúc tiến thương mại.
Để phục vụ công tác lãnh đạo quản lý ở các cơ quan, đơn vị cần phải có
công tác, truyền tải quản lý sử dụng các thông tin bên ngoài và nội bộ, trợ
giúp lãnh đão thực hiện các hoạt động điều hành quản lý cơ quan, đơn vị…
Bộ phận chuyên đảm trách các hoạt động trên là văn phòng.
Văn phòng có thể hiểu theo nhiều giác độ khác nhau như:
−
Nghĩa rộng: Văn phòng là một bộ máy làm việc tổng hợp và trực tiếp
trợ giúp cho việc điều hành của ban lãnh đạo một cơ quan đơn vị.Theo
19
quan niệm này thì ở các cơ quan thẩm quyền chung,cơ quan đơn vị có
quy mô lớn thì thành lập văn phòng ( ví dụ Văn phòng Quốc hội, Văn
phòng Chính Phủ, Văn phòng Tổng công ty…) còn ở các cơ quan, đơn
−
vị có quy mô nhỏ thì văn phòng là phòng hành chính tổng hợp.
2. Cơ sở thực tiễn
Giới thiệu về công ty New Housing:
Tập đoàn Vingroup - Công ty CP (gọi tắt là “Tập đoàn Vingroup”), tiền
thân là Tập đoàn Technocom, được thành lập tại Ukraina năm 1993 bởi những
người Việt Nam trẻ tuổi, hoạt động ban đầu trong lĩnh vực thực phẩm và
thành công rực rỡ với thương hiệu Mivina. Những năm đầu của thế kỷ 21,
Technocom luôn có mặt trong bảng xếp hạng Top 100 doanh nghiệp lớn mạnh
nhất Ukraina. Từ năm 2000, Technocom - Vingroup trở về Việt Nam đầu tư
với ước vọng được góp phần xây dựng đất nước.
Với tầm nhìn dài hạn và quan điểm phát triển bền vững, Vingroup đã
tập trung đầu tư vào lĩnh vực du lịch và bất động sản (BĐS) với hai thương
hiệu chiến lược ban đầu là Vinpearl và Vincom. Bằng những nỗ lực không
ngừng, Vincom đã trở thành một trong những thương hiệu số 1 Việt Nam về
BĐS với hàng loạt các tổ hợp Trung tâm thương mại (TTTM) - Văn phòng Căn hộ đẳng cấp tại các thành phố lớn, dẫn đầu xu thế đô thị thông minh sinh thái hạng sang tại Việt Nam. Cùng với Vincom, Vinpearl cũng trở thành
cánh chim đầu đàn của ngành Du lịch với chuỗi khách sạn, khu nghỉ dưỡng,
khu biệt thự biển, công viên giải trí, sân golf đẳng cấp 5 sao và trên 5 sao
quốc tế.
Tháng 1/2012, Công ty CP Vinpearl sáp nhập vào Công ty CP Vincom
và chính thức hoạt động dưới mô hình Tập đoàn với tên gọi Tập đoàn
Vingroup - Công ty CP. Trên tinh thần phát triển bền vững và chuyên nghiệp,
sau khi thành lập, Vingroup đã cơ cấu lại và tập trung phát triển với nhiều
nhóm thương hiệu như:
−
−
−
−
−
đây.
Cơ cấu tổ chức của công ty New Housing:
22
Chủ tịch hội đồng
quản trị
Ban giám đốc
Phòng
đầu tư
Phòng
kinh
doanh
1
Phòng
kinh
doanh
2
Phòng
Marketin
g
Phòng
doanh
7
Phòng
kinh
doanh
8
Phòng kế
toán
Phòng
kinh
doanh
9
Phòng
kinh
doanh
10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI TRÍ CỦA NHÂN VIÊN VĂN
PHÒNG TẠI VĂN PHÒNG NEW HOUSING – ROYAL CITY HÀ NỘI
Ngoài nhiệm vụ chính là làm việc nhân viên có nhu cầu rất chính đáng
đó là tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh. Khi được hỏi:
“Khoảng thời gian rảnh rỗi trong ngày anh/chị thường làm gì?” thì thu
được kết quả như sau:
23
tình hình trong nước và quốc tế có rất nhiều biến động; việc chủ động nắm bắt
các sự kiện xã hội, các vấn đề có liên quan đến đất nước, những quan điểm
chủ trương của Đảng, những văn bản pháp luật mới, những biến động của thị
trường, các quan hệ đối nội đối ngoại của đất nước,… là hết sức cần thiết.
Các chương trình thời sự - kênh thông tin tổng hợp với nội dung thông tin về
mọi mặt của đời sống như chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội với tính chất
chính xác và liên tục được cập nhật đã trở thành phương thức nắm bắt thông
tin rất hiệu quả:
“Thời sự tổng hợp tin tức quan trọng của cả một ngày mà. Tin gì cũng
có cả tình hình trong nước lẫn tình hình quốc tế. Xem một tiếng thời sự
là nắm bắt được hết mọi việc rồi. Bây giờ bọn anh làm cái này này mà
thì rất hay theo dõi nhất là thời sự, thể thao đấy để biết được tình hình
kinh tế chính trị, biết được thêm nhiều thông tin trong cuộc sống.”
(Biên bản PVS số 4)
Thêm vào đó, các khung giờ phát sóng chính của chương trình thời sự
thường là vào 12 giờ và 19 giờ, cùng với thời lượng phát sóng tương đối lớn
(khoảng 45 phút), khiến cho mọi đối tượng trong cả nước đều có cơ hội tiếp
cận, theo dõi. Do đó thời sự đã trở thành chương trình được đông đảo mọi
người đón chờ:
“…giờ phát thời sự đúng vào tầm giờ cơm tối mà nên cũng dễ theo dõi,
bố mẹ anh thì thích xem thời sự rồi nên cả nhà cùng ăn cơm thì cùng
xem. Với cả anh làm nghề này thì cũng rất cần xem thời sự, có rất
nhiều thông tin về tình hình nhà đất cả trong nước cả quốc tế để mình
nắm bắt.”
25