tiểu luận cao học Quam hệ kinh tế quốc tế sử dụng lợi thế so sánh của việt nam trong hoạt động xuất, nhập khẩu - Pdf 43

MỞ ĐÂU
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng ta đã đưa ra chính sách đổi mới
theo đó cải tổ bộ máy nhà nước và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị
trường. Đến giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã bắt đầu hội nhập
vào cộng đồng kinh tế quốc tế. Với những cố gắng và nỗ lực hết mình nhằm
cải cách chính sách để hội nhập nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước nhà đã
có những cơ hội phát triển trông thấy, biểu hiện là sau hơn 25 năm đổi mới
nền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng tăng dần qua từng thời kỳ, lạm phát
được đẩy lùi, cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể. Qua đó từng bước
thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội, đưa đất nước thoát khỏi
tình trạng đói nghèo, đời sống nhân dân được cải thiện và ngày càng được
nâng cao. Đặc biệt quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam đã đạt được
những tiến bộ vượt bậc.
Từ chỗ chỉ quan hệ với các nước trong khối SEV , đến nay Việt Nam
đã có mối quan hệ thương mại với hơn 200 nước trên thế giới. Việt Nam lần
lượt ra nhập nhiêu tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và trên thế giới như
AFTA, APEC, WTO; Ký hiệp định song phương (BTA) với Mỹ và nhiều
nước khác.
Đạt được những thành tích đó là do đường lối tích cực và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế. Trong tiến trình hội nhập chúng ta đã dựa vào và
phát huy lợi thế so sánh của đất nước. Song để một nước còn ở trình độ phát
triển thấp như Việt Nam có thể hội nhập thành công, tiếp tục phát huy lợi thế
so sánh, sử dụng nó như thế nào để phát huy một cách tích cực đặc biệt là
trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay,
đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế thì sử dụng như thế nào, phát huy


lợi thế so sánh ra sao là một vấn đề mà chúng ta cần quan tâm. Chính từ những
quan tâm đó, em xin chọn đề tài: “ Sử dụng lợi thế so sánh của Việt Nam trong
hoạt động xuất, nhập khẩu” làm đề tài tiểu luận môn học Quan hệ kinh tế

nhất và mỗi nước sẽ tập trung vào sản xuất những mặt hàng có lợi thế so
sánh từ cao nhất đến cao ở mức cân bằng. Ranh giới mặt hàng nào là có lợi
thế so sánh cao ở mức cân bằng sẽ do cung cầu trên thị trường quốc tế quyết
định. Trường hợp có nhiều quốc gia thì có thể gộp chung tất cả các nước
khác thành một nước gọi là phần còn lại của thế giới và những phân tích trên
vẫn giữ nguyên tính đúng đắn của nó. Lợi thế so sánh không những áp dụng
trong trường hợp thương mại quốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng


trong một quốc gia một cách hoàn toàn tương tự.Toàn bộ phân tích của
Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khác nhau giữa các nước
trong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất và đòi hỏi lao động đơn
vị khác nhau. Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng dẫn đến lợi thế so
sánh với nền tảng công nghệ như nhau:
- Các nước phát triển có cung yếu tố đầu vào về tư bản nhiều hơn các
nước đang phát triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn.
Ngược lại số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển
lại lớn hơn các nước phát triển. Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát
triển rẻ hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại ở các nước đang
phát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản. Nói
một cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn
các nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công.
- Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà
mình có lợi thế so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hàng
hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa này.Điều
này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô (dầu thô, than
đá...) hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép...
còn nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển.
1.2 .Lợi thế so sánh theo một số quan điểm hiện đại
1.2.1 Lợi thế so sánh theo mô hình của trường Đại học Stanford

kinh nghiệm để phát triển sản xuất tại chỗ thay thế nhập khẩu.Trên cơ sở đó,
nhập khẩu sẽ giảm dần và tiến đến xuất khẩu.


Phiên bản 2: một nước –nhiều ngành hàng:
Qui luật phát triển trong từng ngành hàng giống như đã trình bày ở
phiên bản 1. Qui luật phát triển công nghiệp của một nước là: phát triển các
ngành thứ cấp trước, phát triển các ngành sơ cấp sau.Theo đó, lợi thế so sánh
(và sản phẩm xuất khẩu) của quốc gia sẽ chuyển dịch liên tiếp giữa các
ngành theo thứ tự nêu trên


Phiên bản 3: nhiều nước –một ngành hàng:
Qui luật phát triển công nghiệp trong từng nước giống như đã trình
bày ở các phiên bản 1 & 2.Từ đó, sẽ diễn ra sự phân công lao động quốc tế
theo khu vực trong từng ngành hàng cụ thể.Đội hình bay của đàn nhạn Đông
Á: Nhật Bản đầu đàn; các nước NICs hàng thứ hai; các nước nổi trội của
ASEAN hàng ba; Trung quốc và Việt Nam ở hàng thứ tư.

2.2. Đánh giá lợi thế so sánh theo các quan điểm
2.2.1.Đánh giá lợi thế so sánh theo quan điểm của David Ricardo
David Ricardo đưa ra 2 học thuyết về lợi thế so sánh tuy nhiên 2 học
thuyết này có những ưu nhược điểm và phạm vi ứng dụng khác nhau.
Mô hình 2 quốc gia 2 sản phẩm chỉ có giá trị lý thuyết để hiểu rõ về
lợi thế so sánh.
Mô hình nhiều quốc gia, nhiều sản phẩm có thể áp dụng để đánh giá
lợi thế so sánh của một ngành hàng quốc gia so với phần còn lại của thế giới
1 cách khách quan.



dụng phù hợp với từng ngành hàng và phù hợp với nền kinh tế nước ta
2.2.3 Phân tích một ví dụ về lợi thế so sánh của David Ricardo
Để làm rõ học thuyết của mình David Ricardo đã đưa ra ví dụ để phân
tích. Ông đã lấy ví dụ về việc sản xuất lúa mỳ và rượu vang ở nước Anh và
nước Bồ Đào Nha để phân tích về giả thuyết 2 sản phẩm 2 quốc gia. Và
David đã phân tích việc sản xuất 2 sản phẩm này về chi phí lao động, sản
xuất trước khi có thương mại và khi có thương mại thì quá trình và kết quả
sản xuất đã có những thay đổi đáng kể. Ta có thể thấy rõ qua các bảng số
liệu mà ông đưa ra sau đây:
Bảng 1: Chi phí về lao động để sản xuất
Sản phẩm
1 đơn vị lúa mỳ
1 đơn vị rượu vang
Theo số liệu trên

Anh (giờ công)
Bồ Đào Nha (giờ công)
15
10
30
15
thì ta thấy Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối so với

Anh cả về sản xuất lúa mỳ và rượu vang: năng suất lao động của Bồ Đào
Nha gấp 2 lần của Anh trong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản
xuất lúa mỳ. Ricardo đã phân tích ví dụ này như sau:
Một đơn vị rượu vang tại Anh sản xuất phải tốn chi phí tương đương
với chi phí để sản xuất 2 đơn vị lúa mỳ; Bồ Đào Nha: để sản xuất 1 đơn vị
rượu vang chỉ mất chi phí tương đương với chi phí để sản xuất 1,5 đơn vị lúa
mỳ. Vì vậy Bồ Đào Nha sản xuất rượu vang rẻ hơn tương đối so với Anh.Ở


Số đơn vị rượu vang
5
6
11
Số đơn vị rượu vang
0
12
12

Với ví dụ sản xuất lúa mỳ và rượu vang như trên nhưng ở đây
Ricardo giả định nguồn lao ddoogj của Anh là 270 giờ công, còn của Bồ Đào
Nha là 180 giờ công lao động. Và Ricardo cũng đưa ra những giả định khác
để phân tích ví dụ này: việc sản xuất của 2 nước không có chi phí vận
chuyện, chi phí sản xuất cố định không thay đổi theo quy mô, chỉ có 2 nước
sản xuất 2 loại sản phẩm, nhưng hang hóa trao đổi giống hệt nhau, các nhân
tố sản xuất chuyển dịch một cách hoan hảo, không có thuế quan va rao cản
thương mại, thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người mua đều biết
đến nơi có hàng hóa rẻ nhất trên thị trường quốc tế.
Qua 2 bảng số liệu Ricardo đưa ra ta có thể thấy kết quả sản xuất đã
có những thay đổi tích cực. Khi tập trung sản xuát 1 sản phẩm với sự trao
đổi - thương mại giữa hai nước thì số lượng rượu vang và lúa mỳ đều tăng
lên.


Tuy nhiên trong ví dụ trên của Ricardo ta thấy được điểm hạn chế về
lợi thế so sánh do oog đưa ra. Nhưng điểm hạn chế đó là những giả đinhn.
Chẳng hạn trên thực tế các yếu tố thay đổi chứ không giống như giả định:
Các nhân tố sản xuất không dịch chuyển một cách hoàn hảo; những người
sản xuất ở Anh hay ở Bồ Đào Nha không tim được việc làm một cách dễ

đầu tư của Việt Nam vẫn ở trình độ thấp. Theo số liệu thống kê năm 2007
của WTO, trong 50 nền kinh tế của thế giới 9 Phần I: Các lý thuyết kinh
tếđược đưa ra phân tích thì Việt Nam được xếp thứ 50 cuối danh sách.
Trong mô hình: lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều mặt hàng, thời
kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá Việt Nam chỉ có lợi thế so sánh ở mức
thấp, biểu hiện sản xuất ở một số nhóm hàng, mặt hàng sử dụng nhiều lao
động và lợi thế về tài nguyên tự nhiên. Nhưng với quá trình phát triển (công
nghiệp hoá, hiện đại hoá), Việt Nam sẽ có một bước chuyển rất căn bản: mở
rộng lợi thế so sánh ra nhiều mặt hàng, nhóm hàng có giá trị cao. Muốn vậy
phải kết hợp đồng thời nhiều yếu tố: vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên
nhiên sẵn có và nguồn nhân lực phong phú, trong đó nguồn nhân lực là một
yếu tố rất quan trọng cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước trong bối cảnh phát triển hiện nay, bởi nó tạo ra bước nhảy vọt về năng
suất.


Chương 2: THỰC TẾ SỬ DỤNG LỢI THẾ SO SÁNH Ở VIỆT
NAM
2.1. Những đặc điểm chung để phát triển kinh tế Việt Nam
Việt Nam nằm trong điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế đó chính là vị trí địa lý thuận tiện cho việc giao lưu, trao đổi và buôn
bán với các nước trên thế giới.
Địa hình Việt Nam đa dạng, bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển giúp
cho việc phát triển cả về nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Khí hậu: Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có
nhiệt độ cao và độ ẩm lớn thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt và chăn
nuôi.
Tài nguyên thiên nhiên: Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao,
thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp, Quần thể động vật ở Việt Nam
cũng phong phú và đa dạng.

Lợi thế so sánh bao gồm lợi thế so sánh tự nhiên và tự tạo. Lợi thế so
sánh tự nhiên có từ các nguồn lực sẵn có như đất đai, tài nguyên, khoáng
sản, lao động và nguồn vốn. Các cơ hội thị trường mở ra cũng có khả năng
tạo ra những lợi thế mới. Lợi thế so sánh tự tạo được hình thành từ chính
sách đầu tư của chính phủ và doanh nghiệp thông qua chiến lược, cơ cấu và
mức độ cạnh tranh nội bộ ngành.
2.1.Những lợi thế so sánh tự nhiên
- Vị trí địa lý chiến lược ( đường biển, đường bộ, đường sông).Nước
ta có đường biên giới rất dài với các nước: Biên giới Việt-Trung dài >
1.400km, phần lớn dựa theo núi, sông tự nhiên và những hẻm núi hiểm
trở,biên giới với Lào là một xương sống chung, được chia ra nhiều đoạn với


những đèo thấp,không gây trở ngại cho sự giao lưu giữa 2 nước, mà trái lại
còn mở ra những tuyến giao thông quan trọng nối liền thung lũng sông Mê
Công ở phía trong với biển Đông ở phía ngoài. =>dễ dàng thông thương
giữa các tỉnh thành, với các nước khác,..)
Diện tích tự nhiên 331.212,1 km2, xếp thứ 56/200 quốc gia, (gấp 4 lần
Bồ Đào Nha, gấp 1,5 lần nước Anh, gần bằng nước Nhật). So với khu vực
Đông Nam Á, diện tích nước ta tương đương với Malaixia, nhỏ hơn
Inđônêxia, Mianma và Thái Lan.Với diện tích khá thuân lợi như vậy mà
nước ta có thể phát triển các ngành nông nghiệp, cũng như công nghiệp khai
khoáng.
Tài nguyên thiên nhiên dồi dào , phong phú ( thế mạnh về nông
nghiêp,…)Do nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu nóng
ẩm, ở giữa vùng gió mùa châu Á (khu vực gió điển hình nhất trên thế giới)
khí hậu nước ta có 2 mùa rõ rệt: mùa Đông bớt nóng và khô và mùa Hạ nóng
và mưa nhiều.Vị trí tiếp giáp với Biển Đông, đây là nguồn dự trữ rất dồi dào
về nhiệt và ẩm, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, vì thế thảm
thực vật ở nước ta quanh năm xanh tốt, giàu sức sống khác hẳn với các nước

chúng ta đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệu
người (Tính đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573
người), nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực. Trong đó
số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng
67% dân số cả nước. Cơ cấu Dân số vàng ở nước ta bắt đầu đầu xuất hiện từ
năm 2010 và kết thúc vào năm 2040, kéo dài trong khoảng 30 năm. Rõ ràng
Việt Nam đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao động => lao động dồi dào,


nhiệt tình, nhanh nhẹn,có khả năng học tập và áp dụng các công nghệ mới
nhanh chóng,……
Chất lượng lao động nước ta ngày càng được cải thiện do Nhà nước
đã có cái nhìn đúng đắn về giáo dục và đào tạo thể hiện ở các con số sau đây.

Bảng 1.1 : Số liệu sinh viên các trường ĐH,CĐ,Trung cấp một số năm
Năm 2008 tổng số sinh viên ra trường là 233.966 trong đó sinh viên
tốt nghiệp đại học là 152.272; sinh viên tốt nghiệp cao đẳng là 81.694. Số trí
thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng tăng nhanh.Theo thống kê cả nuớc đến
2008 có hơn 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học và đang đặt mục tiêu trong
10 năm tới sẽ có 20000 tiến sĩ. Năm 2008 nước ta có 275 trường Trung cấp
chuyên nghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900
trường phổ thông, 226 trường dân tộc nội trú
- Có truyền thống về các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, người lao động
cần cù, khéo léo,…..( các ngành hàng tiểu thủ công nghiệp khá phát triển,..)
- Bản chất con người Việt Nam là năng động, luôn tìm tòi phát huy
năng lực tiềm năng sẵn có và học hỏi những tinh hoa mới, đó là điều kiện rất
tốt để tiếp thu học hỏi những khoa học kỹ thuật mới.


- Hệ thống hạ tầng cơ sở phát triển: Mạng lưới giao thông ngày càng

nghiệp nước ngoài đầu tư vào trong nước,.. Buôn bán và hợp tác bao giờ
cũng có bạn hàng (đối tác thương mại). Trong 50 quốc gia và vùng lãnh thổ
tiêu biểu được WTO đưa ra phân tích năm 2007 chiếm phần lớn kim ngạch
xuất khẩu của thế giới là 13006,4 tỷ USD tương ứng 93,2%. Có thể chia
thành 3 nhóm: nhóm thứ nhất từ vị trí số 1 đến vị trí số 15 lần lượt theo thứ
tự là Đức, Trung Quốc, Hoa kỳ, Nhật bản, Pháp… đến Mexico - những nền
kinh tế có lợi thế so sánh cấp cao.Nhóm thứ hai từ nền kinh tế thứ 16 (Đài
Loan) đến nước thứ 40 (Chilê) - những nền kinh tế có lợi thế so sánh trung
bình. Nhóm thứ ba từ nền kinh tế thứ 41 (Nigêria) đến thứ 50 (Việt Nam).
Qua mô hình thương mại nhiều nước, có thể nhận diện Việt Nam sẽ
đẩy mạnh buôn bán với các bạn hàng thương mại ở nhóm thứ nhất, vì
khoảng cách về trình độ phát triển, quy mô thương mại và cấp độ lợi thế so
sánh là chênh lệch lớn nhất. Một nước đang phát triển như Việt Nam cần đẩy
mạnh hợp tác buôn bán với nhiều nước đặc biệt là các nước lớn là phát huy
lợi thế so sánh của Việt Nam trong phân công lao động quốc tế. Trên thực tế
những năm vừa qua, các nước lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và
một số nước khác trong nhóm thứ nhất luôn là bạn hàng thương mại hàng
đầu của Việt Nam.
- Nhà nước có nhận định chính xác về việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
quốc gia đó là giảm tỷ lệ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tăng cơ cấu kinh tế các
ngành công nghiệp và dịch vụ và bước đầu đã có những chuyển biến.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH, HĐH) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu
để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành


một quốc qia văn minh, hiện đại, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt
được những kết quả nổi bật sau đây:
Về cơ cấu ngành kinh tế :
Cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu


Kim ngạch xuất khẩu
Tỷ lệ tăng giảm
(tỉ USD)
(%)
2006
40
24
2007
50
21.5
2008
65
29.5
Bảng 1.3 : Kim ngạch xuất khẩu năm 2006-2008
NHẬN XÉT
- Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt 65 tỉ USD, tăng 25 tỉ USD tương
ứng với 5,5% so với năm 2006. Sau khi mở cửa hội nhập với thế giới, việt
nam tăng cường xuất khẩu đa dạng các loại mặt hàng, tăng cường đóng góp
vào tổng thu nhập quốc dân.
Sau đây là ví dụ về xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam :
Bảng 1.4: Giá trị xuất khẩu hàng may Việt nam 1991-1998.
(Đơn vị: triệu USD)
Năm
1991
1992 1993 1994 1995 1996 1997
1998
Giá trị XK
2.087, 2.580 2.985, 4.054 5.200 7.255 8.850, 8.910,0
toàn quốc

1.310,0 tr.USD, tăng 160 tr.USD so với năm 1996. Hàng may mặc Việt
Nam đang dần khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường khu
vực và quốc tế. Với chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Chính
phủ, không chỉ hàng may mặc mà nhiều ngành sản xuất khác phục vụ
xuất khẩu cũng đạt tỷ trọng cao. Bên cạnh đó chất lượng hàng may mặc
của chúng ta cũng không thua kém các nước như Anh, Pháp, … cùng với
việc luôn có sự thay đổi trong cả mẫu mã và chủng loại thì hàng Việt
Nam luôn giữ vững được vị thế và ngày càng khẳng định được thương
hiệu của mình hơn trên thị trường quốc tế.


Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là một
trong những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả,
thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực
tiếp để chúng ta giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân
sách, vốn tích luỹ, cán cân thanh toán quốc tế…, góp phần bảo đảm ổn định
và phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững. Các chương trình mục
tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế – xã hội cho các vùng khó khăn, các chương trình tín
dụng cho người nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ
rệt. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm
2007, và năm 2008 còn 13,1%. Chỉ số phát triển con người (HDI) đã không
ngừng tăng, được lên hạng 4 bậc, từ thứ 109 lên 105 trong tổng số 177 nước.
Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép,
hải sản… đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
Lợi thế so sánh hàng nông sản Việt Nam
Những lợi thế.
Thứ nhất: So với các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu thi tỷ lệ chi
phí sản xuất có nguồn gốc ngoại tệ của hàng nông sản rất thấp, do đó thu
nhập ngoại tệ ròng của hàng nông sản xuất khẩu sẽ cao hơn nhiều.

Thứ hai: Phần lớn các loại giống cây con hiện đang được
nông dân sử dụng có năng suất và chất lượng thấp hơn so với các
nước trên thế giới và các đối thủ cạnh tranh trong khối ASEAN.
Thứ ba: So với các đối thủ cạnh tranh, Việt Nam có công nghệ chế
biến lạc hậu, chưa đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu tiêu dùng
của các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ.


Thứ tư: Năng lực quản ly sản xuất kinh doanh, chế biến và xuất
khẩu nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện tự do hóa
thương mại, đặc biệt là khâu marketing, dự tính dự báo thị trường.
Thứ năm: Tuy chủng loại hàng hóa xuất khẩu của ta đa dạng hơn
nhưng nhìn chung thì diện mặt hàng vẫn còn khá đơn điệu, chưa có sự
thay đổi đột biến về chủng loại,về chất lượng
Thứ sau: Bộ máy quản lý hành chính Nhà nước vẫn còn quan liêu,
trì trệ, chưa thông thoáng và bảo thủ đã làm nản lòng các nhà đầu tư kinh
doanh trong và ngoài nước.
Thứ bảy: Trong quá trình tự do hóa thương mại,một số doanh
nghiệp kinh doanh hàng nông, lâm ,thủy sản làm ăn thua lỗ, không có
khả năng cạnh tranh sẽ bị phá sản theo quy luật.
3.Một số ví dụ về hàng nông sản
3.1 Điều
Kim ngạch xuất khẩu điều năm 2010 đạt 196.000 tấn, tương đương
1,14 tỷ USD, tăng 10,8% về lượng và 34,8% về giá trị so với năm trước.
Vị trí dẫn đầu thế giới 4 năm liên tiếp.
Điều trồng nhiều nhất Đông Nam Bộ.Hạt điều của Việt Nam đang
có mặt trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, thị trường tiêu thụ
hạt điều lớn của Việt Nam là Hoa kỳ, Trung Quốc,…
3.2 Gạo
Xuất khẩu năm 2010 đạt 6,88 triệu tấn, kim ngạch 3,23 tỉ đô la


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status