tiểu luận cao học Quan hệ kinh tế việt nam anh quốc từ năm 1986 tới nay - Pdf 35

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong gần 30 năm đổi mới, Việt Nam vẫn luôn kiên định với đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Tại Đại hội lần VII, Đảng đã
khẳng định mục tiêu “Vì lợi ích quốc gia, dân tộc” là nguyên tắc cao nhất của các
hoạt động đối ngoại; Đại hội đề ra chủ trương “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế;
là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế…”
Đường lối đúng đắn và sáng tạo đó đã giúp cho công tác đối ngoại thu được nhiều
thành công, góp phần không nhỏ vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của
công cuộc Đổi mới và phát triển Đất nước.
Xét về tình hình thế giới, các nước lớn đều không ngừng gia tăng quyền lực
và tầm ảnh hưởng của quốc gia thông qua việc hoạch định, đầu tư và hoạch định
chính sách của mình, trong đó chính sách đối ngoại với các nước bạn- các nước
đồng minh rất được chú trọng. Những chính sách, chiến lược đó đang ngày càng thể
hiện vai trò chi phối xu hướng phát triển của các quan hệ quốc tế. Những quốc gia
có diện tích khổng lồ như Mỹ, Ấn Độ, Trung.. hay những quốc gia có tiềm năng
kinh tế lớn như Nhật, Pháp, Anh Quốc… đều coi những hỗ trợ về kinh tế, thương
mại, đầu tư… chi phối một phần không nhỏ trong các chiến lược quan hệ quốc tế
của mình. Một quyết sách đối ngoại của một nước lớn cũng có thể làm xáo trộn, thay
đổi lớn trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa.. không chỉ trong quốc gia đó mà
trong cả cộng đồng quốc tế.
Vì lý do đó, Việt Nam luôn cần phải đặt việc nghiên cứu các chính sách đối
ngoại của các nước lớn một cách phù hợp, khôn khéo, góp phần giảm bớt ảnh hưởng

1


của các nước lớn để đảm bảo tối đa lợi ích quốc gia khi tham gia vào các quan hệ
chính trị với các nước lớn trên thế giới.

Nêu những thành tựu chung, những chính sách về kinh tế giữa Việt Nam và




Anh Quốc
Đánh giá tiềm năng và thành tựu kinh tế Việt Nam- Anh Quốc
Dự đoán triển vọng và xu hướng hợp tác Việt Nam- Anh Quốc trong tương lai

2


2.2 Nhiệm vụ
Người viết cần nghiên cứu, tham khảo các tài liệu có liên quan qua sách báo,
các kênh thông tin đại chúng… để có kiến thức và tư liệu về Anh Quốc cũng như
các hợp tác kinh tế Việt Nam- Anh Quốc.
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Bao gồm chính sách đối ngoại và quan hệ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế giữa
Việt nam và Anh Quốc.
2.4 Kết cấu đề tài
Đề tài được chia làm phần:
Phần I. Khái quát về Liên hợp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len và nền ngoại
giao Anh Quốc
Phần II. Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Anh Quốc từ 1986 tới nay.
Phần III. Tổng kết và đánh giá triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam- Anh
Quốc trong tương lai.
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu đề tài “Quan hệ kinh tế Việt Nam- Anh Quốc từ
năm 1986 tới nay” bao gồm:


Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (hay 669 tỷ USD năm 2005). Chính điều
này làm Luân Đôn trở thành trung tâm tài chính vượt trội trên thế giới và là thành
phố cạnh tranh cùng New York vai trò là địa điểm tài chính quốc tế quan trọng
nhất.Sự ảnh hưởng của Luân Đôn đối với chính trị, tài chính, giáo dục, giải trí,
truyền thông, thời trang, nghệ thuật và văn hóa đã mang lại vị thế thành phố toàn cầu
cho Luân Đôn. Đây là một điểm đến du lịch lớn đối với du khách nội địa và quốc tế.
Vương quốc Anh là một quốc gia nhất thể theo thể chế quân chủ lập hiến. Nữ
vương Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc
Ireland, và cũng là quân chủ của 15 quốc gia Thịnh vượng chung độc lập khác. Thủ
tướng Anh hiện nay là David Cameron- người đứng đầu chính phủ Vương quốc
4


Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, người có năng lực nhất trong điều khiển phát biểu
trong Thứ dân viện. nhân vật này thường là lãnh tụ của chính đảng hoặc liên minh
các chính đảng có số ghế lớn nhất trong viện này. Quốc hội Anh gồm Thượng viện
và Hạ viện với nhiệm kỳ 5 năm. Hiện tại Anh có tất cả 46 Bộ, 23 cơ quan ngang Bộ
và hơn 300 cơ quan, văn phòng của Chính phủ; 122 Bộ trưởng.
Kinh tế Anh là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, chủ yếu dựa vào khu
vực kinh tế tư nhân (chiếm 80% sản lượng và 75% lao động). Trong thời gian qua,
nền kinh tế đã có những thành tựu quan trọng như : duy trì được tốc độ tăng trưởng
kinh tế tương đối cao so với các nước EU, trung bình 2,5%/năm trong 5 năm qua;
thất nghiệp thấp, khoảng 2.9% (2006), thuộc hàng thấp nhất EU; lạm phát thấp
khoảng 3% năm 2006. Năm 2011, tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Anh đạt 2.481
tỷ đô-la, tốc độ tăng trưởng GDP là 1,1 % . Thương mại của Anh đứng thứ 6 thế
giới với xuất khẩu 405 tỷ USD và nhập khẩu đạt 546 tỷ USD (2010). Thương mại có
vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (xuất khẩu chiếm khoảng 20% GDP).
Thị trường chủ yếu của Anh là EU, chiếm 53% tổng xuất khẩu và 52% tổng nhập
khẩu của Vương quốc.
1.2 Quan hệ đối ngoại của Anh Quốc

Về thương mại
Các công ty Anh vào Việt Nam từ những năm 1988-1989 nhưng thời gian đầu
chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dầu khí với 70% tổng đầu tư. Quan hệ thương mại
Việt Nam và Anh tăng nhanh từ những năm 1990 đến nay.. Chính sách thương mại
của Anh tương đối cởi mở, không theo chủ nghĩa bảo hộ. Trong các vấn đề tranh
chấp thương mại giữa ta và EU (vụ kiện bán phá giá, vụ hải sản nhiễm kháng thể,
vấn đề GSP, giày mũ da), Anh thường có lập trường ủng hộ Việt Nam. Anh cũng
ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và quy chế kinh tế
thị trường.
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Vương quốc Anh đã có những bước
tăng trưởng không ngừng trong các năm vừa qua. Năm 2008, kim ngạch xuất nhập
khẩu hai chiều chỉ khiêm tốn ở mức 1,15 tỷ USD, nhưng đến năm 2010, kim ngạch
xuất nhập khẩu đã đạt mức xấp xỉ 2 tỷ USD và đã vượt mức 3,5 tỷ USD trong năm
2012. Với mục tiêu đưa kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều lên mức 4 tỷ USD vào
năm 2013, quan hệ thương mại Việt Nam – Anh càng thể hiện vai trò và mức độ
quan trọng sau khi hai nước đã ký thỏa thuận đối tác chiến lược.
Kim ngạch xuất nhập khẩu. Đ.v: Triệu USD
2
006
Xuất
khẩu

007
8

22,11
Nhập

khẩu



6
45,1

1
.946,62

2

2

4

1.
688,78

2

1

3

1.
159.10

2

1.

2


3.
575,6

Nguồn: Hải quan Việt Nam
Ngày 19/7/2007, hai bên đã ký thoả thuận thành lập Uỷ ban hỗn hợp về kinh
tế và thương mại (JETCO) nhằm đề ra các biện pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế,
thương mại và đầu tư song phương và tiến hành phiên họp đầu tiên tại Hà Nội. Các
phiên họp của JETCO diễn ra theo cơ chế định kỳ hàng năm và luân phiên.
7


Tháng 11/2011, Anh tuyên bố thành lập Hội đồng Kinh doanh Anh - ASEAN
nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại giữa Anh với các nước ASEAN, trong
đó có Việt Nam.
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Anh trong 6 tháng đầu
năm 2015 đạt 2,50 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, xuất
khẩu hàng hóa sang thị trường Anh đạt 2,17 tỷ USD, tăng 21,5% và nhập khẩu hàng
hóa từ Anh đạt 326,61 triệu USD, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2014.
Tính riêng trong tháng 6/2015, các mặt hàng xuất khẩu vào thị trường Anh
đạt trị giá 475.89 triệu USD, tăng 16,1% so với tháng 5/2015. Việt Nam xuất khẩu
sang thị trường Anh những mặt hàng chủ yếu gồm: điện thoại các loại và linh kiện;
giày dép; hàng dệt may; gỗ và sản phẩm; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện;
thủy sản; sản phẩm từ chất dẻo; cà phê…
Trong 2 quí đầu năm 2015, mặt hàng chiếm kim ngạch xuất khẩu lớn sang thị
trường Anh là điện thoại các loại và linh kiện, đạt trên 826,46 triệu USD, tăng
23,8% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 38,0% tổng trị giá. Đứng thứ hai về kim
ngạch là mặt hàng giày dép các loại với 333,03 triệu USD, chiếm 15,3% tổng trị giá
xuất khẩu sang Anh, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng dệt may đứng
vị trí thứ ba, trị giá đạt 205,1 triệu USD, tăng 323,25% so với cùng kỳ năm 2014,

70% ngân sách hỗ trợ cho các chương trình liên quan đến giảm nghèo của Việt Nam.
Phần còn lại dành cho các lĩnh vực giáo dục, y tế, nước sạch và vệ sinh nông thôn,
phòng chống tham nhũng.
Về hình thức hỗ trợ, từ năm 1998, Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFID) đã quyết
định chuyển từ tiếp cận theo dự án sang tiếp cận theo chương trình ngành hoặc lĩnh
vực trong khuôn khổ phát triển toàn diện (CDF). Do vậy, DFID không xây dựng các
dự án hợp tác song phương theo cách làm truyền thống, mà sử dụng hình thức đồng
tài trợ hoặc uỷ thác để tham gia tài trợ cho các chương trình/dự án có ưu tiên cao tại
Việt Nam nhằm giảm chi phí giao dịch cho Việt Nam và khuyến khích sự phối hợp
trong các nỗ lực tập thể giữa các nhà tài trợ với Việt Nam.
Ngày 22/2/2005, Chính phủ Anh thông qua sáng kiến giảm nợ đa
phương, tuyên bố sẽ trả nợ thay cho Chính phủ Việt Nam 10% nợ đến hạn của các
khoản vay Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) thuộc WB trong thời gian 2005-2015
(khoảng 90 triệu USD). Đây là sáng kiến của Anh nhằm vận động các nước G8 và
các nhà tài trợ khác cùng tham gia sáng kiến này để tạo điều kiện cho Việt Nam tập
trung nguồn lực hơn nữa cho Chương trình Xóa đói giảm nghèo đang được thực
hiện thành công.
Ngày 22/11/2007, DFID đã thông báo việc Chính phủ Anh viện trợ không
hoàn lại 100 triệu Bảng Anh giai đoạn 2007-2011 cho Chương trình PRSC với
phương thức chuyển trực tiếp cho Chính phủ Việt Nam, không thông qua WB để tiết
9


kiệm chi phí quản lý. Tháng 10/2008, Chính phủ đã phê duyệt Thoả thuận giữa Việt
Nam và Anh về việc Chính phủ Anh tài trợ cho PRSC 7-10 (2008-2011) với tổng
kinh phí là 80 triệu Bảng Anh.
Ngày 25/1/2010, Lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đại diện DFID đã ký
Văn bản tài trợ 17 triệu Bảng Anh cho Chương trình mục tiêu quốc gia về Cung cấp
nước sạch và vệ sinh nông thôn trong giai đoạn 2010-2013.
Hiện nay Anh là nhà tài trợ không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam trong

nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam mới tăng đáng kể. Trong xu thế đầu tư đó, đầu tư
của Anh Quốc vào Việt Nam có những điểm đặc thù. Từ năm 1993, mối quan hệ
kinh tế giữa hai nước mới được chú trọng, cùng với đó là sự tăng tiến của quan hệ
thương mại các nhà đầu tư Anh Quốc quan tâm tới thị trường Việt Nam. Số lượng
các công ty đến thăm dò và đầu tư vào thị trường Việt Nam ngày càng nhiều. Tuy
nhiên, nếu nói tới những đầu tư thực sự, các doạnh nghiệp Anh vẫn khá e dè. Vào
thời điểm 1995, Anh Quốc mới đứng thứ 23 trong danh sách các quốc gia có đầu tư
vào Việt Nam, với 14 dự án và số vốn đầu tư gần 50 triệu USD. So với một nước có
tiềm lực kinh tế mạnh ở Châu Âu và đứng thứ tư thế giới, đầu tư của Anh Quốc vẫn
ở mức thấp. Trong khi đó đầu tư của nước này ra nước ngoài đứng thứ nhì trên thế
giới, chỉ sau Mỹ.
Hiện Vương quốc Anh đang xếp thứ 15 trong số 105 quốc gia và vùng lãnh
thổ có đầu tư tại Việt Nam. Vốn đầu tư của các nhà đầu tư Vương quốc Anh tập
trung nhiều nhất trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, với 8 dự án có tổng vốn
đầu tư đăng ký 2,06 tỷ USD, chỉ chiếm 3,6% về số dự án nhưng chiếm 46,43% tổng
vốn đầu tư đăng ký.
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ hai và thu hút được số
lượng dự án nhiều nhất với 79 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký 1,37 tỷ USD, chiếm
35,59% số dự án và 30,98% tổng vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực khai khoáng đứng
thứ 3, chiếm 15,58% tổng vốn đầu tư đăng ký. Vương quốc Anh có dự án đầu tư
trên 22 tỉnh, thành phố cả nước. Dẫn đầu là TP Hồ Chí Minh với 83 dự án, có tổng
vốn đầu tư 1,75 tỷ USD; Dầu khí ngoài khơi đứng thứ hai với 5 dự án có tổng vốn
đầu tư là 688,17 triệu USD; Đồng Nai đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư là 665 triệu
USD. Tiếp theo là các tỉnh Hà Nội, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Dương và các địa
phương khác.
Về hình thức đầu tư: Anh Quốc đầu tư chủ yếu vào nước ta theo hình thức
100% vốn với tổng đầu tư vào khoảng 63,7 triệu USD.
11



12


2.2

Du lịch
Song song với các quan hệ về kinh tế, hai nước Việt Nam và Anh Quốc đều
có những quan tâm tới các ngành công nghiệp không khói như du lịch- lĩnh vực mà
cả hai nước có nhiều lợi thế. Khách du lịch Anh vào Việt Nam tăng mạnh những
năm đầu thế kỉ 21, từ 70.000 lượt năm 2004 lên 105.000 lượt năm 2011.
Tuy vậy, do nhiều yếu tố như nền kinh tế suy thoái và bản thân Việt Nam vẫn
chưa triệt để khai thác cũng như giải quyết những vấn đề cho du lịch như môi
trường, nền dịch vụ, giao thông... nên số lượng khách du lịch Anh tới Việt Nam
trong 5 năm trở lại chưa có được tăng trưởng bền vững. Năm 2012 số lượng khác
giảm xuống còn 60.857 lượt. năm 2014 đón 157.977 khách và ước tính trong 9
tháng đầu năm 2015, số lượng du khách Anh đến Việt Nam vào khoảng 154.286
lượt.
Ngày 18/6, Thủ tướng đã ký ban hành Nghị quyết chính thức miễn visa đơn
phương cho du khách từ Anh Quốc. Ngoài ra, du khách của Đức, Pháp, Anh, Italy
và Tây Ban Nha cũng được miễn thị thực theo Nghị quyết. Theo đó, công dân các
nước này khi nhập cảnh Việt Nam không phải xin thị thực với thời hạn tạm trú 15
ngày, áp dụng từ ngày 1/7 đến hết ngày 30/6/2016. Anh, Đức, Pháp đều là các thị
trường truyền thống, lượng khách lớn và chi tiêu du lịch cao. Dự kiến sau khi nghị
định này có hiệu lực sẽ thu hút được nhiều du khách tới Việt Nam hơn.

2.3

Giao thông vận tải.
Một khía cạnh khác rất quan trọng cho nền kinh tế chính là giao thông. Việt
Nam và Anh Quốc đã triển khai một số hợp tác cũng như chia sẻ kinh nghiệm trong

Nam đã tiếp thu được nhiều bài học kinh nghiệm về quản lý vận tải hàng không,
thảo luận các chính sách hàng không, sân bay và quản lý bay, vấn đề phát triển và
vận hành sân bay,và tư nhân hóa sân bay trong các cuộc gặp với Bộ Giao thông Anh
Quốc, Cơ quan Hoàng không Dân dụng và Quản lý bay Quốc gia của Anh.
Cơ quan Xuất khẩu Tài chính của Anh đã chia sẻ với đoàn về việc Anh có thể
hỗ trợ tài chính cho các dự án sân bay tại Việt Nam.

14


Tại buổi hội thảo do Hiệp hội Hàng không Anh và Cơ quan Đầu tư và Thương
mại Anh Quốc tổ chức, đoàn Việt Nam đã trình bày về các dự án phát triển sân bay
và các cơ hội hợp tác tại Việt Nam. Hội thảo đã thu hút sự tham gia của hơn 40 công
ty Anh trong lĩnh vực sân bay.

CHƯƠNG III: TỔNG KẾT VÀ CÁC ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG HỢP TÁC
KINH TẾ VIỆT NAM- ANH QUỐC TRONG TƯƠNG LAI
3.1 Tổng kết các thành tựu đạt được trong quahn hệ Việt Nam- Anh
Quốc
Xét một cách tổng thể về phương diện đối ngoại thì những chính sách đối
ngoại của Anh đối với Việt Nam đã và đang đi theo hướng tích cực nhằm thúc đẩy
sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia. Điều này đã góp phần mở
ra một tương lai hợp tác tốt đẹp, bền vững giữa hai nước Anh -Việt trên con đường
hội nhập với thế giới.
Mối quan hệ Anh- Việt là mối quan hệ đối tác hữu nghị thân thiện và tốt đẹp.
Thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào năm 1973, hai bên đã có nhiều tuyên
bố, ký kết hợp tác về an ninh, kinh tế, văn hóa và giáo dục. Năm 2008 với ký kết
“Đối tác hữu nghị vì sự phát triển” đã đánh dấu sự phát triển mới trong quan hệ 2
bên, đưa mối quan hệ đi sâu hơn vào thực chất. Quan hệ Việt Nam và Liên hiệp
Vương quốc Anh và Bắc Ireland từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày

USD và vốn đầu tư trực tiếp của Anh vào Việt Nam lên 3 tỷ USD vào năm 2013,
năm đánh dấu mốc tròn 40 năm kể từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ
ngoại giao. Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Ngoại giao Anh Swire cho rằng quan hệ
đầu tư và thương mại là mộ mấu chốt trong mọi mối quan hệ song phương. Chính vì
thế, Anh và Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm thúc đẩy quan hệ song phương trong
nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư và thương mại.
Quan hệ đầu tư và thương mại giữa Anh và Việt Nam đã có những bước phát
triển mạnh mẽ kể từ khi hai nước ký Hiệp định quan hệ Đối tác chiến lược hồi tháng
9/2010. Thứ trưởng Ngoại giao Anh cho biết vai trò của JETCO là giải quyết những
17


khó khăn và rào cản để thúc đẩy quan hệ song phương trong lĩnh vực kinh tế, thương
mại và đầu tư, cũng như để bộ máy được vận hành thông suốt. Hai bên đã tập trung
thảo luận và tìm kiếm các giải pháp để giải quyết những tranh chấp thương mại một
cách hiệu quả, thúc đẩy quyền sở hữu trí tuệ, tăng cường việc thực hiện các cam kết
của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Tuy nhiên, theo ông, môi trường đầu tư của Việt Nam vẫn còn một số tồn tại
cần giải quyết trong thời gian tới như thủ tục cấp phép vẫn còn phức tạp và tính
minh bạch chưa cao.
Phía Việt Nam cho rằng JETCO cần phải tiếp tục đổi mới hoạt động nhiều
hơn nữa, kể cả khâu chuẩn bị cho các kỳ họp, để có thể tìm ra được những giải pháp
mới và hiệu quả nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai
nước. Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã ký Hiệp định khung về Đối tác và
Hợp tác toàn diện (PCA), đồng thời vừa khởi động đám phán về Hiệp định thương
mại tự do (FTA). Đây là tín hiệu tích cực thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và
đầu tư giữa Việt Nam và EU nói chung và giữa Việt Nam và Anh nói riêng.
Các công ty lớn của Anh có mặt tại Việt Nam có thể kể tới như Công ty dầu
khí BP, nhôm BHP Billiton, động cơ máy bay Rolls-Royce, viễn thông Vodafone,
vận tải P&O, hóa chất dược GlaxoSmithKline, các ngân hàng HSBC, Standard

lập Trường Đại học Việt - Anh tại Đà Nẵng... Về hợp tác đa phương, Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đề nghị Chính phủ Anh ủng hộ thúc
đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - EU nói chung và hợp tác hai nước nói riêng trong
khuôn khổ ASEM, ASEAN - EU và Liên hợp quốc.
Đại sứ Giles Lever bày tỏ vui mừng được quay trở lại công tác tại Việt Nam
trên cương vị mới; đánh giá cao những thành tựu kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
của Việt Nam; khẳng định Vương quốc Anh luôn coi trọng tăng cường quan hệ Đối
tác chiến lược với Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế thương mại - đầu tư, giáo dục - đào tạo… Đại sứ Anh nhấn mạnh tầm quan trọng
của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU; thông báo Chính phủ Anh
ủng hộ thúc đẩy quá trình đàm phán và sớm ký kết Hiệp định này. Đại sứ Giles
Lever cũng khẳng định trong nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam, Đại sứ sẽ nỗ lực góp
phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Anh phát triển tích cực, hiệu quả, thực chất và
toàn diện, đáp ứng tiềm năng và mong đợi của cả hai bên.

19


Cùng với các hợp tác về hoạt động kinh tế, Anh đã nâng mục tiêu FDI vào
Việt Nam lên 3 tỷ USD và khẳng định sẽ cam kết cung cấp ODA cho Việt Nam đến
năm 2016. Việt Nam tỏ rõ sự cảm ơn chân thành và thiện chí hợp tác lâu dài với
Anh trong những năm tới thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi để các công ty của
Anh kinh doanh và đầu tư có hiệu quả trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi. Hợp tác
kinh tế, thương mại giữa 2 phía đã cho thấy sự hiệu quả và hữu nghị tốt đẹp trong
quan hệ hai bên.
3.2 Đánh giá triển vọng hợp tác Việt Nam- Anh Quốc
Là một quốc gia thành viên cam kết mạnh mẽ nhất đối với thương mại tự do
trong Liên minh châu Âu (EU), Anh khẳng định sẽ làm hết sức mình để thúc đẩy EU
hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU trong năm 2014, cũng
như cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam tăng cường quan hệ toàn diện với EU; tích cực
ủng hộ EU sớm công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường.

Mỹ hay Trung Quốc.
Việt Nam cũng chưa thực sự có bước đột phá lớn trong kinh tế, thương mại
cũng như văn hóa. Trong ASEAN, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm phát triển chậm
hơn, so với Singapore, Thái Lan hay Malaysia. Việt Nam cần có những chính sách
hợp lý và đúng đắn trong xây dựng bộ máy Nhà nước, định hướng phát triển kinh tế
xã hội cũng như đào tạo nhân tài để có thể thúc đẩy đất nước phát triển hơn nữa.
Ngoài ra, sự khác biệt về chế độ chính trị cũng làm chính phủ Anh e dè trong
các qun hệ đầu tư. Chế độ chính trị Việt Nam vẫn bị Anh Quốc đánh giá là chuyên
quyền, thiếu dân chủ, nhân quyền do chế độ một Đảng cầm quyền. Chính vì vậy,
một bài toán khó được đặt ra đối với Việt Nam là làm thế nào để vẫn giữ vững định
hướng chính trị Xã hội chủ nghĩa nhưng phải nâng được tầm quan hệ lên cao hơn.
Trong nhiều năm tới, mối quan hệ Anh - Việt sẽ vẫn giữ vững tốc độ phát
triển như hiện tại nếu không có biến cố lớn xảy ra. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế
phức tạp, khó lường trước và biến động không ngừng hiện tại, khó có thể chắc chắn
được điều gì. Việc Trung Quốc bành trướng tại biển Đông sẽ có ảnh hưởng lớn đến
chính sách đối ngoại của các nước, trong đó có Anh, với Việt Nam và ngược lại. Giữ
gìn và phát triển các mối quan hê, đặc biệt với các nước lớn như Anh là một nhiệm
vụ khó khăn cho Việt Nam.

21


Tuy vẫn còn nhiều khó khăn và hạn chế trong quan hệ giữa hai nước nhưng
với những chính sách đối ngoại thân thiện, tích cực cùng nỗ lực xây dựng một mối
quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển thì quan hệ hai nước Anh- Việt
sẽ ngày càng sâu sắc, bền vững và mạnh mẽ hơn.
KẾT LUẬN
Nhận thức rõ vị trí, vai trò ngày càng tăng của các chính đảng trong việc hình
thành và triển khai chính sách đối ngoại của các nước cũng như trong hệ thống quan
hệ quốc tế đương đại, từ khi đi vào đổi mới tới nay, Đảng ta rất coi trọng việc củng

giới, 2008.
Phạm Bình Minh (Chủ biên), Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong
giai đoạn mới.

Website
3.
4.

Cổng thông tin điện tử nước CHXHCN Việt Nam:
http://www.chinhphu.vn/
Trang cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài:
http://www.vietnamembassy-

5.

norway.org/en/vnemb.vn/cn_vakv/euro/nr040819110853/ns070801065713
Cổng thông tin điện tử bộ giao thông vận tải:

6.

http://www.mt.gov.vn/phunu/tin-tuc/
Báo điện tử Chính phủ Nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

7.
8.
9.

http://baochinhphu.vn/
Trang điển tử của Tổng cục du lịch: http://vietnamtourism.gov.vn/
Trang điện tử của Tổng cục thống kê: https://www.gso.gov.vn/


Nam:




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status