NỘI DUNG
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ
TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
1. Quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng, phát triển văn hoá trong giai
đoạn mới
1.1 Phương hướng chung về phát triển văn hóa
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng ta đã khẳng định nền văn hóa mà
chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết
“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị
quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp
văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới.
Văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng
cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ
và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”1.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ
sung, phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn
diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân
chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời
sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan
trọng của phát triển”2.
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm khóa VIII, Nxb CTQG, H.1998,
tr.54-55.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội XI, Sđ d, tr.76.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG,
H.2006, tr.106.
1
2
chí và bản lĩnh của cả dân tộc trong cuộc chiến đấu mới này là nhiệm vụ chung
của toàn Đảng, toàn dân ta.
Thứ hai, về hành động, chúng ta phải chủ động, tích cực, sáng tạo hơn
nữa trong việc nâng cao chất lượng xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, tạo điều kiện và cơ hội nhiều hơn nữa để nâng cao dân
trí, phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ, xây dựng môi trường văn
hoá lành mạnh, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ở đây, cần
phát huy tính tích cực chính trị của công dân, chú trọng tới các phong trào quần
chúng trong tổ chức và xây dựng sự nghiệp phát triển văn hoá, làm cho văn hóa
gắn kết chặt và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế, xây dựng Đảng, củng cố hệ
thống chính trị và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội.
1.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế,
Đảng ta đã đề ra 5 quan điểm trong xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa.
Đây đều là những quan điểm mang tầm chiến lược lâu dài cần quán triệt nhất
quán và xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá ở nước
ta. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.
Càng bước vào quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế, chúng ta cần phải tập trung nâng cao nguồn lực bên trong của dân tộc.
Trong truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nguồn lực này
dụng hợp lý các di sản văn hoá, các danh lam thắng cảnh để phát triển du lịch,
dịch vụ văn hóa, thể hiện ở việc phát triển các ngành công nghiệp văn hoá có
sức cạnh tranh khu vực và quốc tế; thể hiện ở việc hỗ trợ cho các ngành kinh tế
nâng cao văn hoá doanh nghiệp và thương mại, nâng cao tri thức, tầm nhìn và kỹ
năng trong hoạt động kinh tế- xã hội .v.v...
Quan điểm coi văn hoá là nguồn lực để phát triển kinh tế- xã hội là quan
điểm khoa học, hiện đại và mang tính thực tiễn cao, nhất là trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa gắn với kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế hiện nay.
4
Chúng ta phải đặc biệt chú trọng nâng cao tầm nhìn, tầm văn hoá trong các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Hiểu
biết sâu sắc thời đại và dân tộc là điểm xuất phát quan trọng để chúng ta đề ra
được chủ trương và hành động đúng.
Thứ hai, Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần lưu ý một số điểm sau:
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã
và đang tác động mạnh mẽ đối với đời sống văn hoá của đất nước ta. Toàn cầu
hoá, khu vực hoá là một xu thế khách quan, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu
cực tác động đến nền văn hoá dân tộc. Chúng ta kiên quyết chống sự áp đặt các
giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống theo lối “Âu hóa, Mỹ hoá”. Mặt khác, chúng ta
cần chủ động học tập, tiếp thu những giá trị tích cực, những tinh hoa của văn
hoá nhân loại để làm giàu cho mình, tránh tư tưởng khép kín, bài ngoại.
Đảng ta đã khẳng định nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
là nền văn hoá yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đây là nền văn hoá mang tính dân chủ và nhân văn sâu sắc, tham gia tích
cực vào sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
nhau, làm phong phú cho nền văn hóa Việt Nam. Mặt khác, các thành tựu văn
hóa của các dân tộc anh em góp phần củng cố sự thống nhất dân tộc- cơ sở để
giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em.
Sự thống nhất của nền văn hóa phải được thể hiện ở sự thống nhất về hệ tư
tưởng chính trị, thống nhất về thể chế và thiết chế văn hóa. Đồng thời, phải phát
huy tính đa dạng, cùng hợp tác và hỗ trợ nhau phát triển, chống các âm mưu lợi
dụng sự khác biệt văn hóa để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Thứ tư, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do
Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng.
Quan điểm này khẳng định động lực và nguồn lực để xây dựng và phát
triển văn hóa. Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội
1
Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Sđd, tr.56.
6
công bằng, văn minh đều tham gia xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà.
Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, cũng
là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý của nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Đội ngũ trí thức là
trụ cột để xây dựng và phát triển văn hóa, là lực lượng then chốt trong cách
mạng khoa học kỹ thuật và văn hóa. Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ
trí thức để phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là yêu cầu
cấp thiết hiện nay. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa X đã
ban hành Nghị quyết số 27 (6/8/2009) về Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ những mục
tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức hiện
nay. Trong đó đã nhấn mạnh: “Trí thức Việt Nam là lực lượng sáng tạo đặc biệt
trong thời kỳ mới. Sự sáng tạo của Đảng không chỉ dừng lại ở việc nhận thức
sâu sắc và toàn diện hơn vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới mà còn thể
hiện ở việc xác định rõ phương hướng, đặc trưng, tính chất, động lực và đặc thù
của hoạt động xây dựng và phát triển văn hóa. Đây cũng là sự đúc kết lý luận,
tổng kết thực tiễn, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh vào xác định quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển văn
hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII đã xác định: để đảm bảo sự lãnh
đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy
nhà nước như Bác Hồ đã dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Phải đẩy mạnh
việc giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân. Gương mẫu là một nội dung, một phương thức trọng yếu trong công việc
lãnh đạo của Đảng. Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ mười khóa IX đã khẳng
định Nghị quyết này ra đời đã “đáp ứng đúng yêu cầu phát triển của đất nước
và nguyện vọng của nhân dân, đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được xã hội
nhiệt tình hưởng ứng thực hiện, gắn kết chặt chẽ hơn văn hóa với các lĩnh vực
8
của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị
và tạo nên những thành tự về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối
ngoại… của đất nước” 1. Và đây là “Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược về văn
hóa của cách mạng nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết là một nhân tố quyết định để nâng
cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ta, làm cho nền tảng tinh thần của chế
độ ta, của xã hội nước ta ngày càng vững chắc, tiến bộ, phong phú, góp phần
giữ vững độc lập, thống nhất, định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy nhanh
quá trình phát triển đất nước” 2.
tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa để chia rẽ, phá hoại khối đoàn
kết dân tộc.
Bốn, nghiên cứu, nắm bắt kịp thời những thành tựu của văn hóa- thông
tin hiện đại, huy động mọi tiềm lực xã hội cho sự nghiệp phát triển văn hóa,
chăm lo các tài năng, chủ động có kế hoạch, chính sách, cơ chế phù hợp để tạo
điều kiện cho văn hóa nước nhà phát triển vững chắc và đúng hướng trong thời
kỳ mới.
Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 khóa IX đã xác định nhiệm vụ trọng
tâm là tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống
và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội; nâng cao chất lượng và hiệu quả
nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo 5 đức tính được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII); chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ
sở, nhất là cộng đồng dân cư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp,
phong phú.
Đại hội X của Đảng (2006) đã tiếp tục khẳng định những quan điểm cơ
bản của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa được nêu lên trong các văn kiện
trước đây và nhấn mạnh tư tưởng phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã
hội. Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn
với phát triển kinh tế- xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội”1. Đồng thời, Đảng ta cũng chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và
con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế. Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung
tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa- nền tảng tinh thần của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2006, tr.107.
1
10
2
11
- Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Thực hiện tốt bình đẳng
giới, sự tiến bộ của phụ nữ; chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền trẻ em.
- Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân theo quy định
của pháp luật.
- Khuyến khích tự do sáng tạo văn học, nghệ thuật.
- Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao.
- Coi trọng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.
- Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, internet, xuất bản. Đảm
bảo quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt là ở
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…
- Đấu tranh phòng, chống các biểu hiện phản văn hóa, các tiêu cực và tệ
nạn xã hội.
- Nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây đựng dời sống
văn hóa.
Nhìn lại các quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta thấy Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế
khách quan, nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đề xuất một cách chủ động sáng tạo các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo,
xây dựng những nhiệm vụ, nội dung và giải pháp cụ thể cho từng giai đoạn cách
mạng, vừa đảm bảo tính kế thừa, vừa đảm bảo sự phát triển để từng bước nâng cao
chất lượng và hiệu quả của việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính nhờ sự sáng tạo và năng động đó, đường lối văn
hóa của Đảng đã đáp ứng đúng nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân, được nhân dân
hưởng ứng và nhiệt tình thực hiện, tạo thành một sức mạnh mới để làm động lực
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa,
yêu nước Việt Nam để xây dựng và phát triển đất nước. Tổng mức đầu tư của
Nhà nước cho Chương trình mục tiêu giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước.
Tính tích cực, chủ động sáng tạo trong nhân dân được phát huy, dân chủ xã hội
được mở rộng. Hệ thống các di sản văn hóa của dân tộc được đầu tư, tôn tạo và
phát huy vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống tinh
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd , tr.155.
13
thần của nhân dân. Nhiều di tích văn hóa được cộng đồng quốc tế công nhận là
Di sản văn hóa thế giới như: Cố đô Huế, Di tích Mỹ Sơn, Khu phố cổ Hội An,
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, Di tích Hoàng thành
Thăng Long - Hà Nội, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc
Cung đình Huế, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hát Xoan (Phú Thọ) được UNESCO
đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của nhân loại được bảo
vệ khẩn cấp. Những giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc anh em trên đất nước
Việt Nam được giữ gìn, kế thừa và phát huy làm phong phú cho nền văn hóa dân
tộc. Năm 2008, cả nước có 7.966 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian, 544
lễ hội tôn giáo, 332 lễ hội lịch sử cách mạng. Các phương tiện thông tin đại
chúng đã phát triển nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Hiện nay cả nước đã có 707 cơ quan báo chí (báo in: 166, báo điện tử: 09, tạp
chí: 440, phát thanh truyền hình: 68, nhà cung cấp thông tin trên Internet: 24, có
13.348 nhà báo). Cả nước có 53 nhà xuất bản (xuất bản khoảng 20.504 cuốn
sách với 211.615.158 triệu bản). Có 125 đơn vị phát hành, có 7.045 thư viện.
Các tài năng trong lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật bước đầu được
phát huy và tham gia tích cực vào phát triển nền văn học nghệ thuật dân tộc.
Hiện nay cả nước có 48 hãng phim, 131 đoàn nghệ thuật. Tổng số tác phẩm đã
đăng ký bản quyền tác giả từ 1986 đến nay là 21.143.
việc làm, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội
còn chậm chưa được giải quyết.
Thứ hai, là những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực phát triển
văn hóa, xã hội và xây dựng con người chưa tương xứng với tốc độ phát triển
kinh tế và chưa vững chắc, chưa tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của
đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. Sự suy thoái về
phẩm chất, đạo đức, lối sống tiếp tục diễn biến phức tạp, có một số mặt nghiêm
trọng hơn, gây tổn hại không nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà nước, niềm tin
của nhân dân. Công tác xây dựng môi trường văn hóa trong Đảng, trong các cơ
quan Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội còn hạn chế. Tình trạng quan
liêu, tham nhũng và suy thoái lối sống, đạo đức trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên kể cả những người có chức, có quyền chưa được ngăn chặn. Nhiệm vụ xây
15
dựng con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa có
sự chuyển biến rõ rệt. Môi trường văn hóa còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội
và sự lan tràn các dịch vụ và sản phẩm văn hóa mê tín, dị đoan, thấp kém, lai
căng, độc hại. Còn thiếu những tác phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật có giá trị
cao về tư tưởng và nghệ thuật, có tác động tích cực và sâu sắc đối với việc giáo
dục con người. Trong lĩnh vực lý luận - phê bình và sáng tác, còn có những biểu
hiện lúng túng, hữu khuynh trong đấu tranh giữa các khuynh hướng tư tưởng
trước những tác động phức tạp của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở
rộng giao lưu văn hóa. Xu hướng “thương mại hóa” chạy theo thị hiếu thấp kém
trong một bộ phận báo chí, xuất bản, trong hoạt động văn hóa nghệ thuật chưa
được ngăn chặn có hiệu quả.
Thứ ba là tình trạng phân hóa trong hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các
miền, các tầng lớp xã hội gia tăng. Tình trạng nghèo nàn, lạc hậu về đời sống
văn hóa tinh thần ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và vùng căn cứ cách mạng trước đây vẫn chưa được khắc phục.
kinh tế - kỹ thuật trọng điểm, khắc phục quan điểm đầu tư chỉ nhằm “chống
xuống cấp”, để “bảo vệ” chứ chưa chú trọng đầu tư để khai thác các nguồn lực
văn hóa, xã hội và con người cho phát triển. Đặc biệt là sự gắn kết giữa văn hóa
và du lịch, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa còn yếu. Đây là những lĩnh
vực đòi hỏi phải có sự tập trung cao độ nguồn lực để có thể phát triển và cạnh
tranh khu vực và quốc tế trong hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào phát
triển kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Mặt khác, sự vận dụng các quan
hệ thị trường vào trong công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa, xã hội còn yếu, tư
tưởng bao cấp chậm được khắc phục. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa chưa
đồng bộ và chưa thống nhất dẫn đến tình trạng hoặc là ỷ lại cho dân tự lo, coi
nhẹ vai trò của Nhà nước, hoặc là biến chủ trương “xã hội hóa” thành “tư nhân
hóa”, coi nhẹ các phúc lợi xã hội và công bằng xã hội. Việc chuyển các hoạt
động văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao sang dịch vụ công còn lúng túng. Nhận
thức về xây dựng và phát triển con người còn mang tính chủ quan. Những tiêu
chuẩn về xây dựng con người còn xa thực tế, khó thực hiện trong thực tiễn.
Hai là, việc xây dựng các thiết chế văn hóa, xã hội còn mang tính áp đặt,
17
chưa chú ý đến vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc tiếp nhận và sử dụng
các thiết chế này. Mặc dù chỉ tiêu hưởng thụ văn hóa của người dân trong những
năm đổi mới vừa qua tăng lên gấp nhiều lần so với trước đây nhưng tính sáng
tạo văn hóa của nhân dân bị hạn chế do sự áp đặt của “văn hóa đại chúng”.
Trong lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật và lý luận phê bình còn ít những tác
phẩm đỉnh cao. Việc gắn kết giữa lĩnh vực văn hóa và xây dựng con người với
kinh tế và chính trị còn lỏng, thậm chí còn có xu hướng tách biệt. Các quan điểm
chỉ đạo, phương hướng, nhiệm vụ của việc xây dựng con người và phát triển văn
hóa được xác định trong các Nghị quyết của Đảng chưa được quán triệt và thực
hiện nghiêm túc. Việc tổ chức thực hiện còn thiếu tập trung, chưa đồng bộ, chưa
kiên quyết.
người và phát triển văn hóa. Xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ trách nhiệm
giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa để nâng cao chất lượng và hiệu
của việc xây dựng con người, phát triển văn hóa trong mọi lĩnh vực cải cách
hành chính, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và dịch vụ xã hội. Để đảm bảo sự
gắn kết chặt chẽ giữa ba lĩnh vực: phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng
là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, cần có cơ chế phối hợp
chung giữa các lĩnh vực này. Ở đây, cần có sự chỉ đạo kiên quyết của Đảng và
Nhà nước mới có thể tạo ra sự phối hợp và đồng thuận này.
Đội ngũ tri thức (văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo, đội ngũ y bác sĩ…) là
trụ cột trong chiến lược xây dựng con người và phát triển văn hóa của đất nước.
Vì vậy Đảng và Nhà nước sớm xây dựng chính sách đối với trí thức trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng
thời cần chăm lo xây dựng đội ngũ trí thức, có quy hoạch và kế hoạch chăm sóc,
bồi dưỡng tài năng trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao,
giữ vững định hướng chính trị và phát huy dân chủ, đề cao ý thức trách nhiệm
của họ trước nhân dân, trước dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Phát huy tính năng động, sáng tạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các hội sáng tạo văn học - nghệ thuật,
khoa học kỹ thuật, thông tin báo chí, các tổ chức kinh tế- xã hội, tạo nên sức
19
mạnh tổng hợp của toàn thể xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của
vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội. Xây dựng cơ chế,
chính sách, chế tài ổn định đáp ứng yêu cầu xã hội hóa các hoạt động văn hóa,
giáo dục, y tế, thể dục thể thao nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước và
quốc tế tham gia vào sự nghiệp xây dựng con người và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tập trung xây dựng môi trường văn hóa, lối sống và đời sống văn hóa của
mọi người dân ở cơ sở, phát huy tính tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm
khi Việt Nam bước vào phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đường lối xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội hoàn toàn đúng đắn
của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới vừa qua đã góp phần quan trọng vào việc
củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần
ngày càng cao của nhân dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Đường lối này chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước ta. Những
đóng góp sáng tạo của Đảng về lý luận xây dựng con người, phát triển văn hóa
là một bộ phận quan trọng hợp thành lý luận đổi mới của Đảng.
Việc tổ chức và triển khai những quan điểm những nhiệm vụ về xây dựng
con người và phát triển văn hóa trong 25 năm đổi mới vừa qua đã tạo nên sự
chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa của đất nước. Những thành tựu và
đóng góp về lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trên lĩnh vực này đã góp phần
phát huy mạnh mẽ vai trò to lớn của văn hóa và con người trong sự nghiệp đổi
mới.
Sự nghiệp đổi mới trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.32.
21
cũng đem đến cả thời cơ và thách thức mới cho việc xây dựng con người đảm
bảo tiến bộ xã hội và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc. Trong quá trình này, việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính
sách xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội là một yêu cầu khách
quan. Mặt khác, việc tổ chức và triển khai nghiêm túc những quan điểm chỉ đạo,
những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược xây dựng con người và phát triển
văn hóa và thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là nhân tố có ý nghĩa quyết