tiểu luận cao học - quan điểm của đảng về công tác kiểm tra, giám sát - Pdf 35

PHẦN A: MỞ ĐẦU
Công tác kiểm tra, giám sát là nhu cầu cần thiết đối với hoạt động của
con người và đối với mọi tổ chức. Quá trình hình thành, hoạt động và phát
triển của một tổ chức đòi hỏi phải thực hiện công tác kiểm tra, giám sát để xác
định mục đích hoạt động đúng đắn, sự tuân thủ nguyên tắc, chấp hành nội
quy, quy định của các thành viên gắn kết trong một tập thể. Thông qua kiểm
tra, giám sát để kịp thời chấn chỉnh, bổ sung thúc đẩy quá trình hoạt động
theo chiều hướng phát triển của tổ chức.
Đặc biệt đối với tổ chức Đảng, công tác kiểm tra, giám sát là một khâu
quan trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng, là những chức năng lãnh đạo
của Đảng, là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng đảng. Kiểm tra,
giám sát được tiến hành thường xuyên, đúng nguyên tắc có ý nghĩa hết sức
quan trọng. Nó đảm bảo cho Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, các
nghị quyết của Đảng được xác định đúng đắn, ngày càng hoàn thiện và chấp
hành triệt để, thực sự gắn liền với cuộc sống. Kiểm tra, giám sát vừa góp phần
nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng, làm cho sự lãnh đạo gắn với thực tiễn
hơn, vừa đảm bảo sự thống nhất tuyệt đối giữa nghị quyết và sự chấp hành,
giữa lời nói với việc làm, giúp cho các cấp ủy Đảng khắc phục được bệnh
quan liêu, chủ quan duy ý chí trong quá trình lãnh đạo. Nếu Đảng làm tốt
công tác kiểm tra, giám sát sẽ ngăn chặn được sự chia rẽ, tình trạng mất đoàn
kết, các biểu hiện vô tổ chức, vô kỷ luật và đảm bảo cho nguyên tắc tập trung
dân chủ được tuân thủ nghiêm túc, góp phần giáo dục, bảo vệ, nâng cao uy tín
đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Để phát huy vai trò, tác dụng kiểm tra, giám sát trong từng thời kỳ, tùy
theo tình hình, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng mà
Đảng ta đề ra những quan điểm, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp trong chỉ đạo
toàn Đảng tiến hành công tác kiểm tra, giám sát nhằm làm cho công tác kiểm

1



Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Kiểm tra là xem xét thực chất, thực tế;
kiểm soát là kiểm tra, xem xét nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy
định” [2, tr. 937] – tài liệu kiểm tra.
Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Kiểm tra (luật) là một chức
năng quản lý, một khâu trong quy trình quản lý, có chức năng xem xét tình
hình và kết quả thực tế thi hành pháp luật, chính sách, chủ trương của Nhà
nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội được giao”. [3, tr. 565]
Theo Từ điển Luật học: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế thi hành
pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể
được giao để đánh giá, nhận xét; kiểm soát là xem xét để phát hiện, ngăn
ngừa việc làm sai trái với thỏa thuận, với quy định”. [4, tr. 264]
Ngoài ra, kiểm tra cũng là công tác thuộc nhiệm vụ của cơ quan nhà
nước cấp trên đối với cấp dưới, của thủ trưởng đối với nhân viên.
Việc đánh giá, xác định, nhận xét đúng, sai, tốt, xấu…phải được căn cứ
vào những tiêu chí, văn bản có giá trị hiện hành so với thực tế cụ thể của đối
tượng kiểm tra.
Từ cách hiểu về khái niệm kiểm tra nói trên, có thể nhận định khái
niệm công tác kiểm tra của Đảng như sau:
Công tác kiểm tra của Đảng là hoạt động của Đảng, được tiến hành đối
với tổ chức đảng và đảng viên, nhằm nắm vững tình hình; nhận xét, đánh giá
việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định, quyết định của

3


Đảng; xác định sự đúng đắn hay vi phạm của các hành vi có liên quan đến kỷ
cương, kỷ luật của Đảng và đưa ra hình thức xử lý kịp thời, đúng đắn.
I.1.2. Khái niệm giám sát:
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực
thi nhiệm vụ”. [2, tr.728]

từ đó để phòng ngừa, điều chỉnh, uốn nắn mọi hành vi liên quan của đối tượng
được kiểm tra, giám sát, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vị chính trị và công tác xây
dựng đảng; đều có nội dung như nhau – việc chấp hành Cương lĩnh chính trị,
Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước.
Về điểm khác nhau: Giám sát được tiến hành thường xuyên, liên tục
trong suốt quá trình hoạt động và phát triển của tổ chức và cá nhân, nên có nội
dung rất rộng, bao gồm: giám sát về sinh hoạt, đạo đức, lối sống; giám sát
việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao, việc thực hiện các quy định,
quy chế…nên giám sát mang tính chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi
phạm nhiều hơn so với kiểm tra.
Về sự khác nhau; trước hết là đối tượng, chủ thể kiểm tra rộng hơn chủ
thể giám sát, tổ chức đảng và đảng viên vừa là chủ thể kiểm tra vừa là đối
tượng kiểm tra. Đối với giám sát, đảng viên chỉ là đối tượng giám sát và chỉ
được tham gia giám sát khi được tổ chức đảng có thẩm quyền phân công. Đối
tượng giám sát rộng hơn đối tượng kiểm tra, vì bao gồm cả thường trực cấp
ủy, các tiểu ban, hội đồng, tổ công tác do cấp ủy các cấp đề ra.
I.2.

Vị trí, vai trò công tác kiểm tra, giám sát của Đảng:

Đại hội VI tiếp tục các quan điểm về kiểm tra, đồng thời nhấn mạnh
thêm cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng
trong tình hình mới. Một số chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng cũng đã đề
cập đến việc thực hiện giám sát của cấp ủy hoặc giao cho các ban của cấp ủy
theo dõi việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, nên việc thực
hiện giám sát trong Đảng còn hạn chế, chủ yếu chỉ tập trung thực hiện nhiệm
vụ kiểm tra.
5

tế, về nghiệp vụ và phong cách làm việc. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra
6


có phẩm chất chính trị tốt, công tâm, trong sạch, đủ năng lực, kể cả năng lực
kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng”. Bên cạnh đó,
Đảng cũng quan tâm đến công tác giám sát phải được tiến hành song song với
công tác kiểm tra: “Các tổ chức cơ sở Đảng phải động viên và tổ chức nhân
dân thường xuyên tham gia xây dựng Đảng; giám sát phê bình cán bộ, đảng
viên; giới thiệu những người xứng đáng để kết nạp vào đảng, bầu vào các
cấp ủy và chính quyền; giúp tổ chức đảng làm tốt công tác công tác kiểm tra,
phát hiện đấu tranh với những hành vi tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn
khác… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị; đề ra đường lối, chính sách bảo vệ
đất nước; nắm vững tổ chức và cán bộ để bảo đảm thực hiện có kết quả
đường lối của Đảng. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng chứ không chỉ
thông qua cá nhân đảng viên; lãnh đạo bằng các quyết định của tập thể và
bằng cách theo dõi, cho ý kiến chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện, khuyến khích
những mặt tốt, uốn nắn những lệch lạc. Đảng lãnh đạo phát huy mạnh mẽ vai
trò và hiệu lực của nhà nước chứ không điều hành thay nhà nước. Đảng và
mọi đảng viên đều hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật và chịu
trách nhiệm về các hoạt động của mình” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần VIII). Đồng thời Đảng còn nhấn mạnh yêu cầu cần phải tăng cường
công tác giám sát, kể cả trong Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị: “Sử
dụng đồng bộ hệ thống giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là sự giám sát của tổ
chức đảng, trước hết là từ chi bộ, sự giám sát của nhân dân và các cơ quan
đại diện nhân dân, sự giám sát của công luận” [13, tr. 30].
Đến năm 2001, tại Đại hội IX, Đảng ta nhấn mạnh: “Tăng cường công
tác kiểm tra của các cấp ủy, của ủy ban kiểm tra các cấp, tập trung vào các
nội dung chủ yếu: thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc;

lúc mới manh nha.
Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về công tác
xây dựng Đảng tại Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ một trong những nguyên
nhân làm hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng là: “Công tác kiểm
tra trong Đảng còn yếu, chất lượng và hiệu quả kiểm tra chưa cao; nhiều
8


khuyết điểm, sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện và
khắc phục... Công tác giám sát trong Đảng và giám sát của nhân dân đối với
các hoạt động của Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên chưa được quan tâm,
chưa đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới”. [10,
Vị trí, vai trò kiểm tra, giám sát càng được khẳng định khi chức năng,
nhiệm vụ của giám sát quy định trong các nghị quyết, chỉ thị, quy định của
Đảng, của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư như trước
đây đã được “luật hóa” trong Điều lệ Đảng. Điều 32 Điều lệ Đảng quy định
cụ thể chủ thể, đối tượng, nội dung giám sát. Bộ Chính trị đã ban hành Quy
định thi hành Điều lệ Đảng (số 23 – QĐ/TW, ngày 30 -10 - 2006) và Hướng
dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
trong Chương VII và Chương VIII, Điều lệ Đảng khóa X (Quyết định số 25 –
QĐ/TW, ngày 24 -11- 2006); Quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác
cán bộ (Quyết định số 58 – QĐ/TW, ngày 07 – 5 - 2007); Ủy ban Kiểm tra
Trung ương đã ban hành các hướng dẫn cụ thể về thực hiện công tác giám sát
của các cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, các ban của cấp ủy, ủy ban kiểm tra
các cấp và của chi bộ...
Đặc biệt, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã
ban hành Nghị quyết chuyên đề về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của
Đảng (NQ số 14 – NQ/TW, ngày 30 – 7 - 2007) càng khẳng định Đảng ta đã
khẳng định vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát.
Trong Nghị quyết số 14, Đảng đã xác định rõ mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ,

GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
Biện pháp (giải pháp) kiểm tra, giám sát của Đảng được hiểu là cách
làm, cách tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể, một công việc cụ thể
có liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng, nhằm giúp cho Đảng kịp thời chấn
chỉnh, uốn nắn những sai lầm, thiếu sót, phát huy những ưu điểm để tiếp tục
hoàn thiện và nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
cho thời gian tiếp theo. Do đó, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được bao
quát trên các lĩnh vực hoạt động lãnh đạo của Đảng: Đảng lãnh đạo hệ thống
chính trị, Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội, Đảng lãnh đạo xây
10


dựng nội bộ. Trong từng lĩnh vực cụ thể nêu trên đòi hỏi trong quá trình lãnh
đạo đều phải có sự kiểm tra, giám sát.
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là công tác lãnh đạo của Đảng, là
công tác xây dựng đảng, là sinh hoạt nội bộ đảng; cho nên việc tiến hành công
tác kiểm tra, giám sát phải tuân theo những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt
đảng, đúng tính chất công tác đảng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác kiểm tra, giám sát, việc nắm vững và thực hiện tốt những biện pháp cơ bản
về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là một vấn đề tất yếu. Căn cứ mục
tiêu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng mà Đảng ta đề ra những biện
pháp tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phù hợp, thật sự phát huy tốt hiệu
quả. Những biện pháp này qua từng kỳ đại hội đã được bổ sung, phát triển
ngày càng hoàn thiện hơn và có tác dụng rất to lớn trong chỉ đạo thực tiễn
công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
Đến thời kỳ đổi mới, Đại hội VI, Đại hội đánh dấu một mốc quan trọng
trong việc đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng ta trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội. Từ đây tư duy của Đảng về công tác xây dựng đảng nói chung và
công tác kiểm tra, giám sát nói riêng cũng có bước phát triển mới. Báo cáo
của Đại hội đã nhấn mạnh một số biện pháp để nâng cao chất lượng kiểm tra,

sát và đề ra những giải pháp cụ thể:
Một là, phải thực hiện đúng các quy định về triệu tập đại hội thường lệ
và đại hội bất thường, kể cả ở cơ sở. Đồng thời đề nghị tăng thêm quyền của
hội nghị đại biểu.
Hai là, trong Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải chấp hành nghiêm túc
các quy định về chế độ báo cáo, chế độ tự phê bình và phê bình. Các cơ quan
được bầu phải chịu sự giám sát của tổ chức đảng và đảng viên, phải báo cáo
hoạt động trước cơ quan đã bầu ra mình, thường xuyên thông báo tình hình và
hoạt động của mình đến các tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên.
Thực hiện chế độ Ban Chấp hành Trung ương kiểm tra, giám sát hoạt
động của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; các cấp ủy kiểm tra, giám sát hoạt động
của ban thường vụ, các ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên thường vụ các cấp tự
phê bình trước ban chấp hành. Quy định cụ thể chế độ cấp trên tự phê bình
12


trước cấp dưới và tổ chức việc phê bình từ dưới lên, thực hiện đều đặn chế độ
quần chúng phê bình cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Cán bộ lãnh đạo phải
gương mẫu tự phê bình và tiếp thu phê bình; nghiêm cấm việc trù dập người
phê bình thẳng thắn, đồng thời kiên quyết xử lý những kẻ lợi dụng phê bình
để đã kích cá nhân, vu cáo, chia rẽ.
Ba là, để nâng cao vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của ủy ban kiểm
tra các cấp, Điều lệ Đảng quy định: ủy ban kiểm tra có chức năng kiểm tra
việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kiểm tra việc chấp
hành quy chế làm việc của tổ chức đảng cấp dưới, kiểm tra việc giữ gìn phẩm
chất đạo đức cách mạng của đảng viên, xem xét và xử lý kỷ luật các tổ chức
đảng và đảng viên theo đúng quy định Điều lệ Đảng.
Bốn là, kiên quyết làm sạch đội ngũ đảng viên. Thông qua công tác
kiểm tra của Đảng và dựa vào quần chúng để nhận xét, đánh giá đúng đảng
viên, đưa ra khỏi Đảng những người không còn đủ tư cách, trước hết là những

giám sát cán bộ….Định kỳ kiểm tra, tổng kết và nâng cao chất lượng công tác
quy hoạch cán bộ…Định kỳ kiểm tra kiến thức và trình độ nghiệp vụ đối với
từng loại cán bộ…Việc đánh giá cán bộ phải trên cơ sở thực hiện nghiêm túc
chế độ tự phê bình và phê bình; theo nguyên tắc tập thể, dân chủ, công khai,
kết luận theo đa số…có chế độ định kỳ cán bộ tự phê bình, lắng nghe và tiếp
thu những ý kiến của dân, sửa chữa những khuyết điểm mà dân nêu ra….Cấp
ủy và tổ chức đảng có trách nhiệm xây dựng chế độ kiểm tra cán bộ và công
tác cán bộ… kịp thời kiểm tra, kết luận các vụ việc có liên quan đến cán bộ
để đánh giá chính xác cán bộ” [12, tr79 – 80 - 82].
Đối với cán bộ, Đảng ta chỉ rõ: “Cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu tự
phê bình và phê bình, chống thái độ nể nang, né tránh, không kiên quyết bảo
vệ cái đúng, phê phán cái sai. Có hình thức tổ chức thích hợp để quần chúng
nhân dân tại cơ quan, đơn vị, nơi ở tham gia phê bình cán bộ. Nghiêm cấm
mọi hiện tượng trấn áp, trù dập người thẳng thắn đấu tranh phê bình cũng
như lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, vu cáo, gây rối nội bộ…Tăng
cường kiểm kê, kiểm soát, kiểm tra việc chi tiêu ngân sách nhà nước, tài sản

14


công, tài chính đảng, đoàn thể, các loại quỹ do nhân dân đóng góp ở tất cả
các cấp, các ngành, từ Trung ương đến cơ sở”[8, tr85 - 86; 93 – 94].
Đối với cấp ủy, tổ chức đảng cần phải tăng cường việc chấp hành nghị
quyết của Đảng.Từ Tổng Bí thư, ủy viên Bộ chính trị, ủy viên trung ương đến
các đồng chí lãnh đạo các cấp, các ngành phải thật sự đi sâu kiểm tra, đôn
đốc, nắm chắc tình hình thực hiện các nghị quyết của Đảng, khơi dậy nhân tố
mới, uốn nắn lệch lạc, kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh; bớt giấy tờ, hô
hào chung chung, qua nhiều tầng nấc trung gian.
Trong nhiệm kỳ Đại hội IX, Đảng ta đã chú ý quan tâm và tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cả về nhận thức và hành động. Tuy

giác sửa chữa khuyết điểm. Xây dựng và thực hiện quy chế khuyến khích, biểu
dương, bảo vệ người có tinh thần đấu tranh, tố cáo những vi phạm. Kiểm tra,
xác minh nhà, đất của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý các
cấp, kết luận rõ đúng, sai, xử lý kịp thời, thông báo công khai…Thực hiện
những giải pháp đồng bộ, nhất là xây dựng cơ chế để phát huy quyền làm
chủ, quyền giám sát của quần chúng đối với tổ chức Đảng, đảng viên. Xây
dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong Đảng…. tăng cường chỉ đạo công
tác kiểm tra, công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đề cao kỷ luật, kỷ cương” [1,
tr203,204,206].
Đại hội X của Đảng đã xác định rõ một trong những nhiệm vụ hàng đầu
của nhiệm kỳ này là tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng. Văn
kiện đã nêu lên một số nhiệm vụ về công tác kiểm tra, giám sát: “Giao thêm
chức năng giám sát cho cấp ủy Đảng và ủy ban kiểm tra các cấp, coi kiểm
tra, giám sát trước hết là nhiệm vụ của cấp ủy, gắn công tác kiểm tra với
công tác giám sát, có giám sát mới phát hiện được các vấn đề mới, khắc phục
được thiếu sót, khuyết điểm từ lúc mới manh nha”. Đồng thời Đảng yêu cầu
phải: “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát với nhận thức và yêu cầu mới:
công tác kiểm tra, giám sát phải góp phần phát hiện và khắc phục những
khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; bên cạnh việc tiếp tục thực hiện
kiểm tra tổ chức và cá nhân đảng viên có dấu hiệu vi phạm, phải tăng cường
chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm
16


vụ của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, về nhận thức và chấp hành đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và việc chấp
hành Điều lệ Đảng. Coi trọng kiểm tra, phát hiện nhân tố tích cực” [10, tr.
302]. Đại hội đã bổ sung chức năng giám sát, tăng thẩm quyền và trách nhiệm
xem xét kỷ luật của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp. Ủy ban kiểm tra các
cấp có quyền yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng và đảng viên giải trình các

tra, giám sát.
Hai là, xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà
nước phục vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Ba là, đổi mới tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của
cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ bảo đảm hiệu lực,
hiệu quả.
Bốn là, hoàn chỉnh quy trình, phương pháp kiểm tra, giám sát, kỷ luật
của Đảng.
Năm là, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp bảo
đảm tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Sáu là, tăng cường đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương
tiện làm việc cho công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
Bảy là, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật.
Bảy chủ trương, biện pháp nêu trên chỉ là sự trình bày khái quát. Trong
Nghị quyết 14, với từng chủ trương, biện pháp Đảng đã đề ra một cách rất cụ
thể cách thức tiến hành. Vì đây là một nghị quyết chuyên đề về kiểm tra, giám
sát nên nó có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với công tác kiểm tra, giám sát.

18


19


KẾT LUẬN
Nhận thức được vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, cho nên,
trong suốt 80 năm qua, Đảng ta cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn luôn
đề cao và đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát. Đảng đã ban
hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát; đề xuất

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb CTQG, HN, 1991.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, HN, 1996.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, HN, 2001.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nxb CTQG, HN, 2006.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng khóa X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết TW 3 khóa VIII, Nxb CTQG, Hà Nội.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóa VIII, Nxb CTQG,
Hà Nội.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết TW 6 khóa IX, Nxb CTQG, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết TW 5 khóa X, Nxb CTQG, Hà Nội.
11. Hồ Chí Minh toàn tập: tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995.
12. TS. Lê Văn Giảng, Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giám sát của
ủy ban kiểm tra các cấp, Nxb CTQG, Hà Nội, 2008.
13.Trần Đình Nghiêm, Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Nxb CTQG,
Hà Nội, 2002.

21


MỤC LỤC

22





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status