Ảnh hưởng của phật giáo đến chính trị trong hai triều đại lý trần ở việt nam TIỂU LUẬN CAO HỌC - Pdf 43

A. MỞ ĐẦU.
1. Lý do và mục đích chọn đề tài.
Trải qua suốt chiều dài lịch sử gần 20 thế kỉ du nhập vào Việt Nam,
Phật giáo đã trở thành một trong những tôn giáo có vai trò đặc biệt quan
trọng trong đời sống tâm linh của người Việt. Lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt đã chứng minh Phật giáo luôn đồng hành, đồng
cam cộng khổ, gắn liền với sự thăng trầm của dân tộc, trở nên thân quen
và gần gũi trong cuộc sống mỗi người dân Việt. phật giáo đã thực sự gắn
bó với sự phát triển của dân tộc trên nhiều chặng đường lịch sử và có sự
đóng góp đáng kể vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Trong di sản
văn hóa và trong những giá trị truyền thống mà ông cha ta để lại cho
chúng ta ngày nay có dấu án rõ nét của Phật giáo.
Trong lịch sử Việt Nam, đạo Phật đã ăn sâu, hội nhập vào các mặt
sinh hoạt trong đời sống nhân dân từ tư tưởng văn hóa đến chính trị xã hội
đặc biệt dưới hai triều đại nhà Lý và nhà Trần… Đạo Phật có lúc được
xem là quốc giáo của dân tộc, song hành cũng dân tộc, cùng với dân tộc
đạt được những thành tựu nổi bật …Mỗi lần lật ngược trang sử lịch sử,
chúng ta không thể không tự hào về các chiến công của hai triều đại nhà
Lý- Trần, và tự hỏi tư tưởng nào được áp dụng vào việc trị nước, an dân.
Ngày nay, thế hệ học sinh, sinh viên là những chủ nhân tương lai
của đất nước Việt Nam, kế thừa gia tài sản nghiệp của Tổ tiên, vậy mà với
một lý do nào đó họ biết quá ít hoặc biết sơ sài về lịch sử của cha của
mình, nhất là lịch sử Phật giáo Việt Nam. Họ đâu biết rằng Phật giáo Việt
Nam là bạn song hành với dân tộc, cùng nếm trải gian lao, cùng thịnh suy
với đất nước, cùng hát khúc ca khải hoàng. Một lần nữa để khắc sâu kiến
thức lịch sử Phật giáo và cũng mong khơi dậy những trang sử vàng son
rực rỡ của dân tộc, những nét đặc thù của Phật giáo đời Lý- Trần, để thế hệ
các bạn trẻ và chúng tôi, thế hệ mai sau cùng có chung niềm tự hào và xúc
cảm, cùng thấy rõ những đóng góp tích cực của Phật giáo Việt Nam trong



- Chương 1: Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và đặc điểm
Phật giáo Việt Nam.
- Chương 2: Phật giáo Việt Nam thời Lý- Trần và ảnh hưởng của nó
đến chính trị trong hai triều đại ấy.
- Chương 3: Tiếp tục phát huy vai trò ảnh hưởng của Phật giáo trong
mục tiêu phát triển quốc gia dân tộc Việt Nam trong giai đoạn ngày
nay.
Do trình độ năng lực của người viết còn hạn chế có thể do tư duy
không đúng hướng nghiên cứu đề tài hoặc là hiểu nhưng không thế diễn
dạt ra hết trong phạm vi một bài tiểu luận được. Nên chắc chắn bài nghiên
cứu này còn rất nhiều những thiếu sót không đang có. Rất mong quý thầy
cô và các bạn đọc góp ý thẳng thắn ý kiến của mình để người viết co thể
rút kinh nghiệm và nghiên cứu tốt hơn nữa cho những đề tài sau.

3


B. NỘI DUNG.
Chương 1:
Sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam và đặc điểm của Phật
giáo Việt Nam.
1. Quá trình du nhập Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo truyền vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến nay đã 2.000
năm. Trong suốt chiều dài lịch sử, với nhiều biến động, Phật giáo đã bám
dễ sâu sắc trong đời sống tinh thần, sinh hoạt văn hóa, tư tưởng, tình cảm
và phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các thế hệ người dân Việt Nam
Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên
thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền sang
trực tiếp từ Ấn Độ. Dựa trên những chứng liệu lịch sử đáng tin cậy, một số
nhà nghiên cứu chuyên sâu, có uy tín về Phật giáo đã khẳng định điều này

Việt Nam để buôn bán đưa theo Phật để thuận tiện cho việc sinh hoạt.
Từ thế kỉ II đên thế kỉ V, Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi của
các nhà sư Ấn Độ và Trung Quốc.
Thế kỉ II, Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi của nhà sư: Ma - ha
- kì - vực; Khưu – đà – la ( Ấn Độ); Mâu – bác – cư – sĩ (Trung Quốc )
Thế kỉ III Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi các nhà sư : Khương
Tăng Hội và chi – lương – cương ( Ấn Độ )
Thế kỉ IV Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi các nhà sư : Du
Pháp Lan và Du Đạo Toái ( Trung Quốc )
Thế kỉ V Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi các nhà sư : Đàm
Hoang ( TRung Quốc )
Từ thể kỉ VI đến thế kỉ X, vai trò truyền giáo của các nhà sư Ấn Độ
giảm, vai trò của các nhà sư Trung Quốc tăng đặc biệt là trong giai đoạn
này có hai phái thiền từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam đó là thiền Tỳ
- na – đa – lưu – chi và thiền Vô ngôn thông.

5


Có thể nói đến thế kỉ X xem như qua trình Phật giáo du nhập vào Việt
Nam kết thúc, về sau có những Phật giáo vào Việt Nam nhưng chỉ là
những hiện tượng đơn lẻ.
2. Quá trình phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
Quá trình phát triển của Phật giáo ở Việt Nam được chia thành các
giai đoạn sau:
2.1 Giai đoạn đầu từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XI
Thế kỉ X, Việt Nam giành độc lập tự chủ sau hàng ngàn năm Bắc
thuộc kéo theo sự biến đổi của các tôn giáo trong đó có Phật giáo. Phật
giáo bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới các triều Đinh và Tiền Lê có
chính sách nâng đỡ tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển. Thí dụ, Đinh

Trung thương sĩ, Huyền Quan và nhiều nhà sư tiêu biểu khác không chỉ
công lao trong công cuộc giữ nước, họ còn là những nhà văn hóa góp công
tạo dựng nền văn hóa Việt Nam với các thành tựu về văn học nghệ thuật,
kiến trúc, điêu khắc có giá trị lớn, đồng thời học còn tham gia đào tạo
nhân tài cho đất nước.
Dưới hai triều đại Lí và Trần Phật giáo giữ vai trò là hệ tư tưởng chỉ
đạo năng động và sâu sắc. Hệ tư tưởng phát huy được vai trò dựng nước
và giữ nước.
2.3 Phật giáo Hậu Lê và nhà Nguyễn (thế kỉ XV đến XVIII)
Giai đoạn này các triều đại phong kiến Việt Nam đã sử dụng Nho giáo
làm chỗ dựa chính trị - tư tưởng – đạo đức, Phật giáo không còn là quốc
giáo, vì thế vị trí, vai trò của Phật giáo giảm dần tuy nhiên Phật giáo còn
tồn tại trong đời sống tâm linh của người dân. Với tinh thần từ bi, Phật
giáo vẫn tồn tại và chung sống với Nho giáo và Đạo giáo.
2.4 Giai đoạn từ thế kỉ XVIII cho đến nay
Dưới triều Nguyễn, Phật giáo tiếp tục suy vi cho đến những năm 30
của thế kỉ XX Phật giáo bắt đầu khởi sắc nhờ phong trào chấn hưng Phật
giáo. Một số tổ chức Phật giáo đi vào hoạt động có tổ chức, các cơ sở đào
tạo tăng ni ra đời, phong trào này kéo dài đến 1954 thực dân Pháp cũng lôi
kéo ảnh hưởng của phật giáo tuy nhiên do số tăng ni, phật tử vẫn giữ nếp
tu theo sơn môn của mình ủng hộ cách mạng, ở miền Bắc nhiều chùa trở
thành cơ sở cách mạng, ở miền Nam phong trào yêu nước cũng thu hút
được tăng ni, phật tử tham gia.
Năm 1954, đất nước ta lúc bấy giờ bị chia cắt thành hai miền lịch sử có
nhiều biến động vì thế mà tôn giáo cũng có biến đổi, trong đó có Phật
7


giáo. Phật giáo hai miền cũng có sự khác nhau. Ỏ miền Bắc 1958 ra đời tổ
chức “ Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam”, chính với mục đích thống


nhất tất cả các hệ phái tổ chức Phật giáo trong cả nước vào một tổ chức
chung đáp ứng nguyện vọng tình cảm của các phật tử trong cả nước, tạo
tiền đề cho Phật giáo tiếp tục đồng hành cùng dân tộc.
Như vậy, cỏ thể nói rằng Phật giáo có mặt ở Việt Nam từ khá sớm,
trên cơ sở tiếp thu ảnh hưởng từ cả hai phía Ấn Độ và Trung Quốc. Phật
giáo Việt Nam quy tụ cả hai dòng Phật giáo là Đại thừa và Tiểu thừa và
chịu ảnh hưởng của ba tông phái lớn là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật
tông trong đó Thiền tông là sâu sắc hơn cả. Đồng thời Phật giáo Việt Nam
còn chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Lão giáo, những phong tục tập quán và
tín ngưỡng dân gian, tạo ra những nét riêng biệt. Phật giáo Việt Nam có bề
dầy lịch sử gần hai chục thế kỉ, trong quá trình đó Phật giáo Việt Nam đã
xây dựng cho mình truyền thống yêu nước gắn bó dân tộc góp phần quan
trọng trong việc xây dựng văn hóa của dân tộc, những tư tưởng, đạo đức,
tâm lí lối sống của nhân dân ta. Ngày nay tín đồ, tăng ni phật tử trong cả
nước được tụ hội trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo
đường hướng tiến bộ “ Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội” đang có
những đóng góp quan trọng trong quá trình đổi mới của đất nước.
3. Đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam
Do đạo Phật đến Việt Nam bằng con đường hòa bình, do giáo lí của
Phật giáo về bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn..., gần gũi với tín
ngưỡng, văn hóa truyền thống của cư dân Việt Nam, nên Phật giáo dễ
dàng được người dân Việt Nam chấp nhận. Trải qua qua trình lịch sử
của dân tộc Việt Nam, Phật giáo cũng có những bước thăng trầm lúc
thịnh, lúc suy, và cũng đã có thời kì được coi là quốc đạo. Trong thời Lí
và Trần các nhà sư vừa là nhà tu hành vừa là nhà chính trị, nhà thơ, nhà
văn. Các vua triều Lí, Trần rất sùng kính đạo Phật, thường trao quyền
cho con để đi tu. Qua gần 20 thế kỉ, tư tưởng, đạo đức, văn hóa Phật
giáo đã bén dễ sâu và trở thành một bộ phận quan trọng trong tư tưởng,
văn hóa, đạo đức, hành vi ứng xử của người Việt Nam. Đặc điểm Phật

Nam là Phật nhập thế. Ngay ở thời đầu Phật giáo Việt Nam thì giới
tăng sĩ là giới trí thức, họ không chỉ hoạt động truyền bá Phật giáo mà
còn đi dạy học và chữa bệnh. Các cao tăng được Nhà nước tham chính
hoặc cố vấn về các vấn đề đại sự quốc gia. Mặt khác, thời Lí, Trần còn
10


có các vua quan quý tộc đi tu. Từ truyền thống gắn đạo với đời, nên
Phật giáo luôn theo sát lịch sử dân tộc. Khi đất nước có ngoại xâm Phật
giáo Việt Nam luôn góp phần tham gia chống giặc giữ nước. Trong thời
kì chống Pháp và Mỹ, ở Việt Nam nhiều tăng ni phật tử tham gia cầm
súng chiến đấu. Thực tế này khẳng định thêm rằng, trước kia là tăng ni,
phật tử họ là người Việt Nam yêu nước.

Chương 2:
Phật giáo Lý- Trần và ảnh hưởng của nó tới chính trị trong
hai triều đại ấy.
1. Vài nét cơ bản của Phật giáo Việt Nam dưới triều đại Lý- Trần.
Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong hơn 20 thế kỷ qua đã có một vai
trò, một vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc. Nhất là Phật giáo
Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động
và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui
hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều đại Lý – Trần, Phật giáo đã trở thành
quốc giáo. Lúc bấy giờ, cả nước từ vua, quan đến thứ dân đều theo Phật,
đến chùa quy y, giữ giới, tụng kinh, Thiền định nên mới có được một tinh
thần an lạc, hòa hợp.
1.1 Thấm nhuần tư tưởng nhân đạo của Phật giáo trong trị nước.
Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các
vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay
pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp,


Mỹ và đạt được chân lý ngay trong đời sống thực tại này chứ không phải
nơi một thế giới xa xăm nào khác. Đạo Phật đã tạo cho dân tộc Việt Nam
đương thời một niềm tin mạnh mẽ vào tự lực, vào khả năng trong sáng
thuần khiết của bản thân để sống đúng và sống đẹp theo tinh thần Chánh
kiến, Chánh tư duy và Chánh mạng. Đây chính là nguyên nhân làm cho
triều đại Lý – Trần phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử với những chiến
công vẻ vang và sự thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa. …
Chính đạo Phật đã chan hòa vào lòng dân tộc góp phần hình thành một
quan niệm, một lối sống tích cực, hữu ích cho con người và cho cuộc
sống.
1.2. Những thiền sư là những quốc sư trị nước.
Ngay trong Phật giáo đời Lý đã có những Thiền sư nổi tiếng. Đặc
biệt là Thiền sư Vạn Hạnh – Ngài vì dân vì nước, muốn cứu nước khỏi
lâm nguy nên đã làm một cuộc đảo chính năm 1009 phế Lê lập Lý mở ra
một trang sử mới cho triều đại nhà Lý. Lời nhận xét của Hoàng Xuân Hãn
là một minh chứng triều đại nhà Lý vững chắc và thịnh vượng ngự trị trên
200 năm thực thi nhờ tinh thần Phật giáo: “ Sau các đời vua hung hãn họ
Đinh – Lê, ta thấy xuất hiện ra những người cầm quyền có lòng độ lượng
khoan dung, những cận thần đức độ trung thành. Đời Lý có thể gọi là đời
thuần từ nhất trong lịch sử nước ta”. Như vậy, Phật giáo đời Lý đã un đúc
nên những ông vua Phật tử thuần thành làm cầu nối cho Phật giáo đời Trần
đạt đến đỉnh cao trong lịch sử để khẳng định quyền tự chủ tự cường của
một đất nước. Vì vậy, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống lại bất cứ sức
mạnh nào muốn phá hoại nền hòa bình, hạnh phúc của mình. Và Phật giáo
Lý – Trần đã đáp ứng nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại vào công cuộc xây
dựng bảo vệ đất nước. Chiến công hiển hách còn ghi lại trong lịch sử. Nếu
Lý Thái Tông đã đánh giặc Nùng rồi bình được Chiêm Thành. Lý Thường
Kiệt đem binh đánh Tống thì Trần Thái Tông cũng thu phục được đất
Chiêm và cuộc chiến thắng Nguyên Mông vẻ vang này dưới sự lãnh đạo

sở hữu riêng của giới Tăng, Ni mà là của tất cả mọi người biết lấy nó làm
lẽ sống, dù người đó là vua chúa, Thiền sư, quan lại, hay là người dân bình
thường. Ai cũng học và tu đạo Phật được, ở đâu, làm gì cũng học và tu
theo đạo Phật được, miễn là biết nhìn rõ tâm mình, chuyển hóa tâm và sử
13


dụng tâm cho tốt. Trong “Khóa Hư Lục”, Trần Thái Tông gọi đó là biện
tâm, Trần Thái Tông viết: “Không kể là sống ẩn trên núi hay giữa thành
thị, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện
tâm, vốn không có phân biệt nam nữ sao còn chấp tướng”. Vì không chấp
tướng nên Phật giáo đời Trần mới có được một nhân vật đặc biệt như Tuệ
Trung Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩ tại gia, nhưng lại được mọi người Tăng
cũng như tục tôn kính, học hỏi như là một bậc Thầy lớn trong đạo. Thậm
chí Trần Nhân Tông và Pháp Loa là hai vị Tổ thứ nhất và thứ hai của Phái
Thiền Trúc Lâm cũng suy tôn Tuệ Trung Thượng Sĩ là Thầy của mình. Với
tinh thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, đã
không quản gian khổ nhọc nhằn, đi khắp nơi trong nước khuyên mọi
người sống theo năm giới, mười thiện là những nguyên lý căn bản của
Đạo Đức Phật giáo. Nhờ vậy, ngay giữa lòng của xã hội Phong kiến, đạo
Phật đời Lý – Trần đã tạo ra những mẫu người tuyệt vời, mà con người ở
vào thời đại nào cũng cảm thấy tự hào.
Đạo Phật thời Lý – Trần là đạo Phật của từ bi và trí tuệ, là hai đức
hạnh hàng đầu của Phật giáo. Tinh thần từ bi của Phật giáo thời Lý – Trần
là đường lối trị nước bằng đức trị còn hạnh trí tuệ là nó không hướng đến
giải quyết các vấn đề thuần túy lý luận hay là siêu nghiệm, như chúng ta
có thể thấy ở một số luận sư Phật giáo Ấn Độ, mà hướng tới giải quyết các
vấn đề rất cụ thể, rất bức xúc, có tầm quan trọng đối với đời sống con
người và trong công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước.
Hai triều đại Lý – Trần đánh dấu đỉnh cao của sự hội nhập Phật

Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử dân tộc kể từ khi Phật giáo được
truyền bá vào nước ta, Phật giáo luôn gắn liền với sự phát triển của lịch sử
dân tộc, lấy sứ mệnh của dân tộc làm sứ mệnh của mình. Đó là tính nhất
quán của lịch sử Phật giáo Việt Nam, được biểu hiện qua những bước
chuyển mình, đáp ứng yêu cầu của từng chặng đường lịch sử cụ thể, vì lợi
ích chung của dân tộc. Tinh thần phóng khoáng, siêu việt trong giáo lý
Phật đã được các bậc Tổ đức Thiền sư kết hợp hài hòa với bản sắc Văn
hóa dân tộc đã tạo nên những nét tinh hoa rực rỡ, trong đó phải kể đến
“Tinh hoa Phật giáo thời Lý qua văn hóa, chính trị và các nhân vật Phật
giáo”.
15


Với biến cố chính trị năm 1009 chấm dứt thời kỳ rối ren của nhà
Tiền Lê, nhà Lý (1009 – 1225), bắt đầu với sự kiện vua Lý Thái Tổ ( Lý
Công Uẩn) lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009. Sự kiện nổi bật nhất của
thời Lý chính là việc rời đô từ Hoa Lư về Đại La, rồi đặt tên mới là Thăng
Long theo hình tượng con rồng, một hình tượng đặc thù của thời này, quốc
hiệu Đại Việt ra đời. Từ đây, lịch sử Phật giáo chúng ta bước vào một thời
kỳ phát triển rực rỡ.
Trước thời Lý, dân tộc ta đã trải qua đêm dài man rợ, rùng rợn của
thời kỳ Bắc thuộc, sau một thời kỳ loạn lạc suy tàn của ba chế độ Pháp trị
và bạo trị ngắn ngủi Ngô, Đinh, Lê; tất cả phải được làm lại, tất cả phải
được bắt đầu lại. Đó là một sứ mạng của thời đại. Nhưng sự nghiệp khôi
phục và xây dựng một quốc gia độc lập và thái bình là một sự nghiệp vĩ
đại! và phải chờ sự xuất hiện của một nhân duyên vĩ đại và một con người
vĩ đại mới thành tựu nổi. Đại nhân duyên đó chính là Phật giáo với trí tuệ
và tình thương vô lượng cho nhân dân Đại Việt và con người ấy chính là
Thiền sư Vạn Hạnh.
Từ trong lòng những chế độ hà khắc hung dữ của tiên triều, Thiền

hồng cho về nước. Vua Lý Thánh Tông không những thương dân, yêu dân
mà còn quan tâm đến những tội phạm đang ở trong ngục khi vua chỉ vào
công chúa Động Thiên đang đứng bên cạnh mà bảo viên quan coi ngục
rằng: “ lòng ta yêu dân cũng như yêu con ta vậy, dân không biết mà mắc
vào hình phạt , ta rất lấy làm thương, từ nay về sau không cứ gì tội nặng,
nhẹ đều nhất luật khoan giảm”. Do vậy mà nhà Lý đã đoàn kết được dân
tộc, phát huy được sức mạnh và trí tuệ của toàn dân trong sự nghiệp bảo
vệ và xây dựng đất nước phồn vinh.
“ Với những nhà chính trị có từ tâm và những người xuất gia biết lo giáo
dục sự thực hành đạo từ bi trong dân chúng. Đời sống xã hội thời Lý trở
thành thuần từ và đẹp đẽ. Đạo đức và Từ bi đã không Làm cho dân nghèo,
nước yếu. Trái lại những yếu tố này tạo nên phú cường. Những chiến
thắng Chiêm Thành và Tống quốc, sự vắng mặt của bạo động trong nhân
17


gian và trong cung khuyết, sự gần gũi giữa vua với dân, những điều đã nói
lên đặc tính xã hội Thời Lý. Thiền sư Pháp Thuận đã nói trước điều đó:
“ Vận nước như giây quấn
Trời nam ôm thái bình
Đạo đức ngụ cung điện
Muôn xứ hết đao binh”.
( Việt Nam Phật giáo sử luận – Nguyễn Lang), tập 1. NXB Văn học, Hà
Nội.
Triều đại nhà Lý, tám đời vua, trải qua 216 năm là một trong những
triều đại mở đầu cho việc xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc.
Sau hơn một ngàn năm sống trong màn đêm thống trị của phong kiến
phương Bắc, với bao nỗi oan hờn chồng chất, nên khi đã thật sự tự do, ý
thức được sự nhục nhã của bị cai trị nên dân ta trên dưới một lòng để kiến
thiết đất nước, mang thái bình về cho dân tộc. Triều Lý cũng là triều đại có

ngôi vua, dời đô ra thăng Long xây dựng nền móng phát triển văn hoá Đại
việt. Người Kế vị là vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) cũng là một vị minh
quân và là đệ tử xuất sắc của thiền sư Thảo Đường làm thầy, lập nên thiền
phái Thảo Đường mang màu sắc dân tộc Việt nam, nhà vua đã đắc đạo và
được truyền tâm pháp, trở thành Tổ thứ hai của dòng thiền Thảo Đường.
Vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127), sắc hong thiền sư Khô Đậu là Quốc sư.
Từ năm 1129 đến 1225, nhà Lý vẫn thịnh trị và Phật giáo luôn là Quốc
giáo. Những vị vua kế tiếp đều phát tâm tu hành theo đạo Phật. Ông vua
cuối cùng của nhà lý là Lý Huệ Tông (1211 – 1225), vì chán đời sống
vương giả, từ bỏ ngai vàng, xuất gia ở chùa Chân Giáo và tự xưng là Huệ
Quang Đại Sư. Công chùa Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng lên nối ngôi, sau
truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thế là triều đại nhà Lý chấm dứt,
triều Trần bắt đầu và Phật giáo theo đó cũng bước qua một giai đoạn mới

19


và cùng với cuộc chiến thắng Bắc phương lừng lẫy, bảo vệ được sự tự do,
hạnh phúc của dân tộc ở một phương diện khác.
Thương đời, thương người, thương nước tha thiết, lại uyên bác phi
thường, tài năng siêu thế, các Thiền sư thời Lý đã cống hiến nguồn trí tuệ
vô lượng để kiến thiết một quốc gia, một triều đại huy hoàng, làm vẻ vang
cho Dân tộc. Dấn thân, nhập thể hùng tráng và vĩ đại như thế, các Thiền sư
đã cho dân tộc, cho chúng ta thấy được giá trị đích thực của Phật giáo. Với
phong thái hành xử tự tại và trong sáng các Thiền sư thời Lý luôn là bài
học lớn cho hậu thế. Tuy có thế lực, nhưng không mượn thế để dương
phong cho tông môn hay cho riêng Phật giáo, mà luôn lấy đại cuộc xây
dựng đất nước làm trọng, luôn cởi mở đối với những tôn giáo hoặc các
trào lưu tư tưởng khác. Nếu nhìn riêng ở một góc độ nào đó, có thể gọi họ
là những nhà ngoại giao, nhà giáo dục, kiến trúc sư, lương y, tác giả

Đến đời nhà Lý nước Việt Nam mới thật sự cường thịnh là do có con
Người Mới mang một Ý Thức Mới tới, và do đó, có một Chính Sách Mới
cải tổ toàn diện các cơ cấu quốc gia đi lên.
Tóm lại, trong một đất nước có vua sáng, tôi hiền, triều đình hoà
hợp, trên dưới một lòng, trên từ Thiên tử, dưới đến thứ dân, từ một em bé
thơ ngây đền một cụ già đầu bạc, tất cả đều một lòng vì dân, vì nước.
Trong mọi lĩnh vực quân sự, ngoại giao, giáo dục, chính trị, đều có những
nhân tài xuất chúng. Mọi người trong xã hội đều có tinh thần độc lập dân
tộc, tự chủ, tự tin và tự cường. Như thế, tất nhiên có đủ điều kiện để xây
dựng một quốc gia hùng mạnh. Nhưng điều quan trọng hơn hết chính là tư
tưởng chủ đạo để hướng dẫn tất cả mọi hoạt động ấy, đó chính là tinh thần
Phật giáo. Một tinh thần nhập thế hành đồng, từ bi cứu khổ, lấy con người
làm đối tượng để phụng sự nhân sinh. Điểm lại suốt chiều dài lịch sử dân
tộc, Giáo sư Trần Văn Giàu đã rất có lý khi nhận định rằng “Bình minh
của dân tộc ta gắn với Phật giáo…”. (Trích tham luận Hội thảo Khoa học
Phật giáo thời Lý với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội do Phân viện
nghiên cứu Phật học Việt Nam và Viện nghiên cứu tôn giáo tổ chức tháng
7/2010).
21


2.3. Ảnh hưởng của phật giáo đến chính trị triều đại nhà Trần.
2.3.1. Phát huy tinh thần Phật giáo trong chính sự nhà Trần.
Trong buổi đầu lập quốc thời Lý, các vua Lý rất cần đến các thiền
sư. Không những họ cần đến những người này để liên kết nhân tâm, họ
còn cần đến sức học, công tác giáo dục, công tác ngoại giao và kế hoạch
của những ông thầy tu nữa. Đến thời Trần tình trạng này khác hẳn. Các
vua Trần lại học giỏi nên về đạo Phật, nên liên hệ giữa các vua và các
thiền sư không phải là để nhờ cậy về phương diện kế hoạch và công tác.
Các ông vua như Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông đều có

hội ( Giáo lý của Đạo Phật chúng ta phải cần có các bậc tiên thánh để thực
hiện trên đời- tựa “Thiền Tông Chỉ Nam”)Tuệ Trung “sống trong lòng thế
tục, hoà ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm” (Thượng Sĩ Hành
trạng- Trúc lâm). Nhân Tồn đi khắp thôn quê, phá trừ dâm tà, khuyên dân
thực hành Thập thiệ thiện...Những tự viện trên núi tổ chức ẩn cư và tổ
chức kết hạ nhưng vẫn có liên hệ đến đời sống văn hóa, xã hội và chính trị
quốc gia.
2.3.2. Các vua Trần rất chú trọng phát huy tính nhân đạo, khoan
dung của Phật giáo trong việc trị nước, an dân.
Chính vì đặc tính khoan dung và mềm dẻo của văn hóa đời Trần mà
vua quan cũng dân chúng đã đồng tâm hợp tác trong việc chống ngoại
xâm và xây dựng đất nước. Tăng sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào
sự nghiệp chính trị nhưng Phật giáo đã là một yếu tố liên kết nhân tâm
quan trọng. Tinh thần Phật giáo đã khiến cho các nhà chính trị đời Trần áp
dụn các chính sách bình dị, thân dân và dân chủ. Ta nhớ lại hôi linh cữu
Nhân Tông quàn tại điện Diên Hiền: quần chúng hàng vạn người tràn vào
sân, thềm và trong điện, đến nỗi không thể nào khởi hành đám rước được.
Phương pháp mà triều thần nhà Trần áp dụng để giải tán bớt số đông là tổ
chức từng đám hát đâu đó trong cung điện để thu hút bớt quần chúng đi ra.
Năm 1824, trước thế xâm lăng như vũ bão của quân Nguyên, Nhân Tông
đã triệu tập hội nghị Diên Hồng. Người tới dự hội nghị là ai? không phải
các vương thần mà các bô lão đáng kính trong dân gian. Vua Nhân Tông
mỗi khi đi ra ngoài đường gặp gia nhân các vương thần thì hay dừng lại để
hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ. Vua nói “ lúc thái bình thì nhờ có thị
23


vệ tả hữu, mà lúc nước nhà lâm hoạn nạn, thì chính những người gia nhân
ấy đi theo bảo vệ”.
Một hôm có người dâng sớ báo cáo với vua Minh Tông là trong dân

Chính Nhân Tông đã sử dụng được tiềm năng của phật giáo để phục
vụ cho chính trị. Sự kiện xuất gia của vua, cũng như những năm hành đạo
trong dân gian của vua đã khiến Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm trở nên một
lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đại. Anh Tông sau khi
nhường ngôi cho Minh Tông cũng có ý định xuất gia để nối tiếp sự nghiệp
của Nhân Tông, nhưng chưa thực hành được thì đã mất. Một điều ta nên
ghi nhận là những ông vu ấy muốn sử dụng tiềm lực của Phật giáo để liên
kết nhân tâm, nhưng không phải vù vậy mà giả danh phật tử. Họ là phật tử
chân chính và có ý nguyện phụng sự đạo phật một lần với sự phụng sự
quốc gia và triều đại của họ.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status