Thực trạng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở ngƣời trưởng thành tại thành phố tuyên quang - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC

MAI ĐÌNH TÂM

THỰC TRẠNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƢỜI TRƢỞNG
THÀNH TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60 72 01 63

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN

THÁI NGUYÊN – NĂM 2016


i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.

Tác giả luận văn

Mai Đình Tâm


ii


3

1. 1.1. Định nghĩa, phân loại và chẩn đoán THA……………………………….....

3

2. 1.2. Tình hình bệnh THA trên thế giới và tại Việt Nam……………………..….. 8
1.3. Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ……………………………………. 14
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…………...

21

1. 2.1. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………

21

2. 2.2. Địa điểm nghiên cứu………………………………...……………………… 21
3. 2.3. Thời gian nghiên cứu………………………………………………...……..

21

4. 2.4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………… 21
5. 2.5. Các chỉ số đánh giá…………………………………………………………. 23
6. 2.6. Kỹ thuật thu thập và sử lý thông tin………………………………………… 24
7. 2.7. Phương pháp phân tích và sử lý thông tin…………………………………

29

8. 2.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu…………………………………………


63

PHỤ LỤC ………………………………………………………………………

71


v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CC,VC

Công chức, viên chức

BYT

Bộ Y tế

BMI

Body Mass Index - Chỉ số khối cơ thể

BVĐK

Bệnh viện đa khoa

ĐTĐ

Đái tháo đường

JNC

Joint National Committee - Uỷ ban phòng chống THA Hoa Kỳ

SL

Số lượng

THA

Tăng huyết áp

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TTYTDP

Trung tâm Y tế dự phòng

TYT

Trạm Y tế

WHO



Xử trí sau khi đo huyết áp lần đầu

5

Bảng 1.4

Bảng can thiệp thay đổi lối sống làm giảm huyết áp

6

Bảng 1.5

Tỷ lệ hiện mắc THA ở độ tuổi 35-64 xếp theo quốc gia

9

Bảng 1.6

Tăng huyết áp được điều trị và kiểm soát ở Châu Âu

10

Bảng 2.1

Tỷ số vòng eo/vòng mông và sức khỏe

28

Bảng 2.2


Phân bố độ tăng huyết áp theo nhóm tuổi

34

Bảng 3.6

Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo giới tính

35

Bảng 3.7

Phân bố độ tăng huyết áp theo giới tính

35

Bảng 3.8

Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo khu vực sinh sống

35

Bảng 3.9

Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo trình độ học vấn

36

Bảng 3.10


Mối liên quan giữa nhóm tuổi và độ tăng huyết áp

39

Bảng 3.16

Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và tăng huyết áp

39


vii

Bảng 3.17

Mối liên quan giữa chế độ ăn mặn và tăng huyết áp

40

Bảng 3.18

Mối liên quan giữa chế độ thích ăn mỡ và tăng huyết áp

40

Bảng 3.19

Mối liên quan giữa tình trạng hút thuốc lá và THA


43

Bảng 3.25

Mối liên quan giữa tần suất stress và THA

44

Bảng 3.26

Mối liên quan giữa thừa cân/béo phì và THA

44

Bảng 3.27

Mối liên quan giữa béo bụng và THA ở nam và nữ

45

Bảng 3.28

Mối liên quan giữa tỷ số vòng eo/mông và THA ở nam/nữ

46


viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ

cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Hàng năm trên
thế giới có khoảng 7,1 triệu người tử vong do THA và ước tính có khoảng
1,56 tỷ người mắc huyết áp vào năm 2025 [54].
Sự phát triển về kinh tế - xã hội, dân số, và thay đổi về lối sống, chế độ
dinh dưỡng người dân Việt Nam trong những năm gần đây làm cho mô hình
bệnh tật có những thay đổi rõ rệt. Các bệnh không lây truyền, đặc biệt là bệnh
liên quan đến THA đang có chiều hướng tăng nhanh. Nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra rằng THA liên quan đến tuổi, giới, chế độ ăn, tình trạng béo phì và các yếu
tố kinh tế-xã hội khác tác động. Trong những năm 1960 tỷ lệ tăng huyết áp
khoảng 1% ở miền Bắc, điều tra tăng huyết áp toàn quốc do Trần Đỗ Trinh và
các cộng sự, năm 1992 là 11,2%, năm 2002 là 16,3%, năm 2005 là 18,3%,
đến năm 2008 theo khảo sát của Viện tim mạch quốc gia tại 8 tỉnh/thành phố
ở độ tuổi ≥ 25 tỉ lệ này là 25,1% [53], [54]. Bệnh THA ngày càng phổ biến
nhưng số người chẩn đoán sớm còn thấp, số bệnh nhân được điều trị còn ít so
với số được phát hiện. Dự báo đến năm 2025, có khoảng 10 triệu người Việt
Nam bị THA, khoảng 34.000 trường hợp tai biến mạch máu não, khoảng


2
9.150 trường hợp bị nhồi máu cơ tim do THA gây ra. Ước tính chi phí cho
bệnh này là 3.120 tỉ đồng, đây là gánh nặng cho gia đình và xã hội [2], [55].
Tỉnh Tuyên Quang đã và đang thực hiện chương trình phòng chống bệnh
THA của Bộ Y tế từ năm 2011. Tuy nhiên, ở một số nơi hệ thống quản lý và
dự phòng THA vẫn còn có nhiều khó khăn, thách thức do nhiều lý do khác
nhau. Các hoạt động y tế hiện mới chỉ tập trung vào công tác điều trị tại các
bệnh viện. Chưa có mô hình dự phòng, ghi nhận và quản lý THA tại cộng
đồng. Hiện nay, trên địa bàn thành phố Tuyên Quang cũng chưa có nghiên
cứu nào về bệnh THA tại cộng đồng. Câu hỏi đặt ra là: Tỷ lệ THA tại thành
phố Tuyên Quang thực tế là bao nhiêu? phân bố như thế nào? Các yếu tố nào
liên quan đến những người THA từ 25 tuổi trở lên?


trƣơng (mmHg)

Huyết áp tối ưu

< 120



< 80

Huyết áp bình thường

120-129

Và/hoặc

80-84

Tiền tăng huyết áp

130-139

Và/hoặc

85-89

Tăng huyết áp độ 1

140-159

4

* Xác định mức huyết áp có ý nghĩa
Những người có mức huyết áp tối ưu hoặc mức huyết áp bình thường thì
nguy cơ bị bệnh tim mạch thấp.
Những người có huyết áp ở mức tiền tăng huyết áp: Sau 1 năm có 20%
những người tiền tăng huyết áp chuyển thành tăng huyết áp thực sự. Vì vậy,
những người tiền THA phải định kỳ kiểm tra huyết áp ít nhất 1 năm/lần [55].
1.1.3. Chẩn đoán tăng huyết áp
Chẩn đoán xác định THA dựa vào trị số huyết áp đo được đúng quy
trình. Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng phương pháp đo [55].
Bảng 1.2. Phƣơng pháp đo huyết áp
Phƣơng pháp đo
1. Đo tại phòng khám hoặc bệnh viện: đo
2-3 lần, mỗi lần đo ít nhất 2 lượt
2. Đo bằng máy đo huyết áp Holter 24 giờ
(trung bình cả ngày)
3. Đo tại nhà: tự do nhiều lần

Huyết áp tâm

Huyết áp tâm

thu

trƣơng

≥ 140 mmHg

≥ 90 mmHg

Huyết áp

Huyết áp

tâm thu

tâm trƣơng

(mmHg)

(mmHg)

< 130

< 85

Kiểm tra lại trong vòng 2 năm

130-139

85-89

Kiểm tra lại trong vòng 1 năm

140-159

90-99

Khẳng định lại chẩn đoán trong vòng 2 tháng



Khuyến nghị

Khoảng HA hạ

Duy trì chỉ khối cân nặng lý tưởng

5-10 mmHg khi

(20-25kg/m2 )

giảm mỗi 10kg

Ăn nhiều trái cây, rau, ít mỡ (giảm
chất béo toàn phần và các loại hòa tan)
Giảm muối ăn < 100 mmol/ngày (2,4g
Na hoặc 6g muối)
Khuyến khích thể dục nhịp điệu mức
độ vừa như đi bộ 30 phút/ngày

Uống chất có cồn

Nam < 21 đơn vị/tuần

điều độ

Nữ < 14 đơn vị/tuần

8-14mmHg


trạng cần điều trị cấp cứu. Nếu rách toàn bộ thành động mạch chủ sẽ dẫn tới
chảy máu ồ ạt và bệnh nhân tử vong nhanh chóng [3].
Giáo dục bệnh nhân có vai trò quan trọng trong phòng chống phình tách
thành động mạch và các biến chứng khác của THA. Thay đổi chế độ ăn và
không hút thuốc lá, uống rượu bia là rất quan trọng. Bệnh nhân cần ăn giảm
muối, hoạt động thể chất và tránh những căng thẳng, lo âu. Điều quan trọng
nữa là bệnh nhân THA cần tuân thủ phác đồ điều trị [55].
1.1.5.4. Suy thận
Có mối liên quan mật thiết giữa THA và thận, tỷ lệ THA tăng đi kèm với
sự giảm đi chức năng thận, khoảng 80-90% bệnh nhân thận giai đoạn cuối có
kèm theo THA. Tuy nhiên chỉ có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân bị tăng huyết áp
tiên phát tiến triển thành bệnh thận mạn, tỷ lệ mới mắc suy thận tăng lên khi
huyết áp tâm thu tăng lên mỗi 10 mmHg [22], [23], [53], [54].


8
1.1.5.5. Tổn thương mắt
Tổn thương đáy mắt và bệnh lý võng mạc trong bệnh THA liên quan trực
tiếp với sự gia tăng HA. THA gây hẹp động mạch võng mạc lan tỏa nhưng
không đều, tiến triển gây xuất huyết và phù gai thị.
Trong nghiên cứu của tác giả Lê Hoàng Anh Tú và Lê Minh Tuấn thì tỷ
lệ tổn thương võng mạc của bệnh nhân THA: bắt chéo tĩnh-động mạch chiếm
38,3%, hẹp tiểu động mạch toàn bộ 89,8%; hẹp tiểu động mạch khu trú
13,3%, xuất huyết võng mạc 22,6%, xuất tiết 19,5%, nốt dạng bông 14,6% và
phù gai 8,6% [48].
1.2. Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1. Tình hình tăng huyết áp trên thế giới
Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp được công bố rất khác nhau giữa các khu
vực trên thế giới, khoảng từ 3,4% trong số nam giới sống ở nông thôn tại các
nước đang phát triển như Ấn Độ, Serbia, đến 72,5% phụ nữ ở nước phát triển

Tỷ lệ hiện
mắc ở nữ
(%)

Tỷ lệ bệnh
nhân THA
có dùng
thuốc (%)

BMI

Mỹ

27,8

29,8

25,8

52,5

27,4

Canada

17,4

31,0

23,8


41,7

46,9

36,5

24,8

27,1

Tây Ban Nha

46,8

49,0

44,6

26,8

27,4

Phần Lan

48,7

55,7

41,6


1988-1991
NHANES II
(%)

1991-1994
NHANES III
(%)

1999-2000
NHANES
IV (%)

Nhận biết về THA

73

68

70

THA có điều trị

55

54

59

THA được kiểm soát

11
Tồn tại bằng chứng rõ ràng về mối liên quan giữa lượng Natri ăn vào và
THA. Một nhóm nghiên cứu Ian. J Brown đã chứng minh sự liên quan giữa
tăng lượng Natri ăn vào và tăng huyết áp, sau khi đã hiệu chỉnh các biến
nhiễu, nghiên cứu được thực hiện trên 10.079 người từ độ tuổi 20-59, trong số
đó người có huyết áp bình thường là 8344 [65].
Nhiều nghiên cứu cắt ngang đã chỉ ra rằng những người uống nhiều rượu
có trị số huyết áp cao hơn và tỷ lệ hiện mắc huyết áp cao hơn. Lượng rượu
tiêu thụ tăng cao gấp ba lần lượng rượu tiêu chuẩn cho phép mỗi ngày làm
tăng gấp hai lần nguy cơ mắc THA. Huyết áp giảm trở lại trong một vài ngày
sau khi ngừng uống rượu.
Chế độ ăn nhiều chất béo được coi là một trong những nguyên nhân gây
tỷ lệ hiện mắc THA tại Nga và Phần Lan. Theo tính chất vùng địa lý, nơi nào
có lượng tiêu thụ acid béo hòa tan nhiều hơn thì nơi đó tỷ lệ mắc tăng huyết
áp thường cao. Một vài nghiên cứu chỉ ra một chế độ ăn đảo ngược với nhiều
acid không bão hòa xu hướng làm giảm huyết áp. Điều này giải thích tại sao
huyết áp của những người sinh sống tại các vùng ăn ít thịt lại thấp hơn những
người có chế độ ăn tạp.
Về mức độ nhận biết ở những nước có nền kinh tế phát triển, gần 1/2 1/3 bệnh nhân tăng huyết áp hiểu về bệnh tình của họ. Hoa kỳ năm 19992000, 68,9% bệnh nhân THA ≥ 18 tuổi hiểu về bệnh này. Ở các nước đang
phát triển, mức độ nhận thức thấp hơn xấp xỉ từ 1/4-1/2 số bệnh nhân tăng
huyết áp, tại Trung Quốc là 44,7% [67].
1.2.2. Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam
Tỷ lệ THA tại Việt Nam ngày càng gia tăng. Theo thống kê của Đặng
Văn Chung năm 1960 tần suất THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam mới chỉ
là 1%. Đến năm 1992, theo điều tra toàn quốc của Trần Đỗ Trinh và cộng sự


12
tỷ lệ này đã là 11,7% tăng lên hơn 11 lần và mỗi năm tăng trung bình 0,33%
[47] Trong 10 năm sau (2002) theo điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố

trong đó 52% không biết mình bị THA, 30% số người bị THA nhưng không
được điều trị, 64% số người biết THA đã được điều trị nhưng không đạt huyết
áp mục tiêu [23].
Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài (2012) thực hiện tại 08 xã triển
khai chương trình phòng chống THA tỉnh Yên Bái. Tỷ lệ THA khác nhau ở
các độ tuổi, lứa tuổi bị THA cao nhất là ≥ 60 tuổi chiếm 59,1%. Tỷ lệ nữ giới
mắc THA cao hơn nam giới 53,5%. Tỷ lệ THA ở thành thị cao hơn nông thôn
(61,8%). THA độ I là 61,4%, THA độ II là 25,5%, THA độ III là 13,1% [20].
Theo Nguyễn Thu Hiền (2006) “Bước đầu tìm hiểu thực trạng bệnh THA
tại xã Linh Sơn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, tỷ lệ THA là 33,3% trong
đó ở nam là 39,5%, nữ 29,4%. Tỷ lệ THA tăng theo độ tuổi, nhóm ≥ 25 tuổi
chiếm 20,8%, nhóm trên 65 tuổi là 70,6%. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên
quan giữa THA và trình độ học vấn (tỷ lệ nghịch), người bị béo phì có nguy
cơ cao gấp 2,94 lần so với người bình thường, hút thuốc lá là 1,66 lần [16].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cúc (2012) tiến hành tại huyện Phổ Yên
trên 340 người cao tuổi thấy rằng, nhóm độ tuổi từ 60-69 là 27,4%, các yếu tố
liên quan đến THA như ăn mặn chiếm tỷ lệ 68%, người cao tuổi có nguy cơ
bị THA cao gấp 7,53 lần so với những người cao tuổi không ăn mặn, đối với
rượu bia là 2,66 lần [6].
Theo thống kê của Hội Tim Mạch (2006) thì có tới 67,5% người bệnh
không biết mình mắc bệnh, 15% người bệnh biết mình có bệnh THA nhưng
không điều trị, 15% người bệnh điều trị thất thường, không đúng cách, chỉ có
4% là điều trị đúng [23].


14
1.3. Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp
1.3.1. Chế độ ăn (nhiều muối, mỡ, nhiều tinh bột)
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi người trưởng thành mỗi
ngày nên sử dụng ít hơn 6 gam muối (một thìa cà phê), nếu ăn nhiều hơn thì

phì tạo nên một nhóm nguy cơ đối với bệnh mạch vành và mạch máu não.
Béo phì thường gặp bởi 50-60% ở người THA có sự hiện diện của tăng quá
mức trọng lượng. Thường đó là béo phì dạng nam hóa với sự gia tăng tỷ lệ
kích thước vòng bụng/vòng hông.
Theo Viên Văn Đoan (2005) tỷ lệ người bệnh THA có béo phì chiếm
4,3%; ít vận động thể lực chiếm 1%. Béo phì thường kèm theo rối loạn Lipid
máu, tỷ lệ rối loạn Cholesterol máu cao chiếm 56,3% số người bệnh THA [9].
Theo Nguyễn Đức Sơn (2011) người bệnh THA có rối loạn lipid máu
chiếm 45,54%, trong đó tăng cholesterol chiếm nhiều hơn cả (60,78%), theo
Tô Văn Hải tỷ lệ người bệnh THA có rối loạn Lipid máu chiếm 75% [41].
Nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng ở người độ tuổi từ 25-74 có rối loạn
lipid máu với lượng mỡ cao hơn mức trung bình là 26%. Tại thành phố Hồ
Chí Minh tỷ lệ này lên đến 40%. Trong một nghiên cứu khác do Nguyễn Đỗ
Vân Anh, Nguyễn Xuân Ninh, Phùng Đắc Cam thực hiện trên 300 người
trưởng thành tại Hà Nội cho thấy có mối liên quan giữa rối loạn chuyển hóa
Lipit máu với tình trạng thừa cân (OR = 1,9;CI 95% = 1,2-3,0; p < 0,01), béo
bụng (OR = 6,4;CI 95% = 3,9-10,7; p < 0,001), % mỡ cơ thể cao (OR = 2,5;
CI 95% = 1,6-4,1; p < 0,001) [23].
Nghiên cứu của Doãn Thị Tường Vi, Phạm Quang bệnh viện 109 về rối
loạn lipid máu và huyết áp ở người thừa cân trên 162 bệnh nhân thừa cân và
162 bệnh nhân không thừa cân thì các chỉ số nhân trắc học có thấy. Tỷ lệ
THA ở nhóm thừa cân (37,7%) cao hơn nhóm chứng (11,7%). Nhóm thừa cân
có rối loạn cholesterol máu kết hợp rối loạn Triglycerit là 58,7% cao hơn
nhóm chứng 39,2%. Bên cạnh đó tỷ lệ thừa cân có tăng huyết áp có rối loạn
Lipid máu cũng cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê [52].


16
1.3.3. Sử dụng rượu, bia
Một nghiên cứu dịch tễ học hiện đại đầu tiên về mối liên quan giữa rượu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status