ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VŨ THỊ MINH TRANG
NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phan Trọng Thƣởng
Thái Nguyên, năm 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS. Phan Trọng Thưởng. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung
thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Thị Minh Trang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan ..................................................................................................................i
Lời cảm ơn .................................................................................................................... ii
Mục lục ........................................................................................................................ iii
Mở đầu ...........................................................................................................................1
Chƣơng 1: NGUYỄN CÔNG HOAN TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT
NAM HIỆN ĐẠI ........................................................................................................13
1.1. Tiểu sử và quá trình sáng tác ............................................................................13
1.2. Đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phương diện thể loại .........................20
1.3. Đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phương diện nội dung .......................25
Chƣơng 2: NGUYỄN CÔNG HOAN - BẬC THẦY VỀ NGHỆ THUẬT VIẾT
TRUYỆN NGẮN ........................................................................................................32
2.1. Cốt truyện .........................................................................................................32
2.1.1. Khái niệm "cốt truyện" ..................................................................................32
2.1.2. Các đặc điểm cốt truyện truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ........................... 32
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ..........................................................................44
2.2.1. Khái niệm "nhân vật" ....................................................................................44
2.2.2. Số lượng và thành phần .................................................................................46
2.2.3. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật ........................................................47
2.2.4. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật ........................................................53
2.3. Nghệ thuật trần thuật ........................................................................................60
2.3.1. Điểm nhìn trần thuật ......................................................................................60
2.3.2. Giọng điệu trần thuật .....................................................................................62
2.3.3. Ngôn ngữ trần thuật và nhịp điệu trần thuât ..................................................67
Chƣơng 3: PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT NGUYỄN CÔNG HOAN .............71
3.1. Giới thuyết về phong cách ................................................................................71
3.2. Nét độc đáo về phong cách Nguyễn Công Hoan .............................................72
3.2.1. Tư tưởng nghệ thuật - quan niệm về hiện thực và con người .......................72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
lịch sử văn học dân tộc đã viết: "Nếu ta nhẩm từ cái hồi mà lời văn bổng trầm khóc
đứng khóc ngồi đến thời kì văn chương sạch sẽ kiểu Tự Lực thì lực lưỡng như một tay
đô vật không có địch thủ, từ Kiếp hồng nhan đến nay, truyện ngắn, truyện dài Nguyễn
Công Hoan sừng sững tạo thành một cái thế Tam Đảo, Ba Vì hùng vĩ, vượt qua hai
thời kì tiến vào Cách mạng tháng 8..." (Người bạn đọc ấy). Các sáng tác của Nguyễn
Công Hoan không chỉ chiếm được cảm tình, sự quan tâm, yêu mến của bạn đọc lúc bấy
giờ mà còn cho đến tận ngày nay nó vẫn còn nguyên sự lôi cuốn đó.
Nguyễn Công Hoan là nhà văn có một nguồn cảm hứng dồi dào, một sự
nghiệp sáng tác hết sức đồ sộ. Cả cuộc đời viết văn gần 60 năm, ông đã để lại cho nền
văn học Việt Nam hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều bài nghiên cứu
phê bình văn học nghệ thuật, cùng với những tập hồi ức, tự sự mang dấu ấn lịch sử
của thời đại mà ông sống. Mặc dù sáng tác nhiều thể loại khác nhau nhưng thể loại
thành công hơn cả, ghi dấu tên tuổi của ông trong nền văn học dân tộc lại là thể loại
truyện ngắn. Nói đến Nguyễn Công Hoan người ta thường nhớ đến một bậc thầy về
thể loại truyện ngắn.
1.2. Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mở ra trước mắt người đọc một thế giới
nghệ thuật mới lạ. Với cách thể hiện tài tình của mình, ông đã vẽ lên một bức tranh
hiện thực nhiều màu, nhiều vẻ của cái xã hội thực dân nửa phong kiến lố lăng, kệch
cỡm, đầy bất công, ngang trái. Ngòi bút của Nguyễn Công Hoan hướng tới mọi loại
1
người thuộc mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội: từ bọn địa chủ, quan lại, bọn tư sản,
nhà giàu đến những người thuộc tầng lớp nhà nho lỗi thời và những người dân lao
động nghèo khổ.
Nguyễn Công Hoan được coi là "cây bút bậc thầy", "một tài năng lớn" về
nghệ thuật viết truyện ngắn. Nhà nghiên cứu Xô Viết N.Niculin đã từng nói: "chính
trong loại truyện ngắn trào phúng đó, thiên tài xuất sắc của nhà văn mới được nảy
nở hết sức mạnh mẽ". Đọc truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ta thấy nhà văn đã
góp phần bổ sung và làm mới cách thức tiếp cận văn học cũng như công tác giảng
dạy của chúng tôi trong nhà trường. Đó là khi tiếp cận một tác phẩm của một nhà văn,
ta không chỉ tiếp cận từ phương diện nội dung mà còn cần thiết phải tiếp cận từ
phương diện nghệ thuật của tác phẩm. Với hướng tiếp cận tác phẩm văn chương từ
phương diện nghệ thuật sẽ giúp cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm, từ đó
nhận ra phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn.
Đó là những lí do khiến chúng tôi quyết định chọn đề tài "Nghệ thuật truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945", nhằm tìm ra nét đặc
trưng trong phương diện nghệ thuật, thể hiện sức sáng tạo và sự khác biệt của Nguyễn
Công Hoan so với các nhà văn khác.
2. Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi những truyện ngắn đầu tiên mới ra đời, nó đã gây được sự chú ý
của dư luận. Đặc biệt là sau khi tập truyện Kép Tư Bền được xuất bản năm 1935 thì
truyện ngắn của ông càng được giới nghiên cứu quan tâm, chú ý. Từ đó đến nay đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về nội dung - nghệ thuật của
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, trong đó những công trình nghiên cứu về nghệ thuật
chiếm số lượng chủ yếu. Sau đây là một số nhận định, đánh giá mà chúng tôi thống
kê được có liên quan đến nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách
mạng. Các tài liệu, nhận định này được chia làm 2 giai đoạn:
2.1. Giai đoạn trƣớc cách mạng tháng 8
Năm 1932, Trúc Hà trong bài "Một ngọn bút mới" đã khá tinh vi khi nhận ra
giọng văn mới mẻ pha chút hài hước của Nguyễn Công Hoan: "văn ông có cái hay, rõ
ràng, sáng sủa, thiết thực, hơi văn nhanh và gọn, lời văn hàm một giọng trào phúng lại thường hay đệm một vài câu hoặc một vài chữ có ý nghĩa khôi hài bông nhơn thú
vị" [20, tr.47].
Năm 1935, Trần Hạc Đình khi phê bình Kép Tư Bền in trên báo Bắc Hà tháng
8 đã viết: "Cái biệt tài viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan chỉ có ở trong truyện
3
2.2. Giai đoạn sau Cách mạng Tháng 8
Sau Cách mạng Tháng 8, công tác nghiên cứu, phê bình có một bước phát triển
mới. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan đã được đánh giá cao hơn, xác đáng
hơn. Các công trình nghiên cứu, các giáo trình đại học, các bài báo, tạp chí và gần
đây là những luận văn thạc sĩ, tiến sĩ... đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về nhiều khía
5
cạnh, nhiều mặt trong truyện ngắn của ông như là về tiếng cười, thế giới nhân vật,
tính kịch, ngôn ngữ, lời văn...
Năm 1957, khi đánh giá về nghệ thuật trào phúng của Nguyễn Công Hoan,
Trương Chính đã có nhận xét chưa đúng về truyện ngắn của ông: "kể cũng buồn cười,
Nguyễn Công Hoan là một nhà mô phạm lâu năm như thế, nhưng trong văn chương
ông không nghiêm túc tí nào cả. Âu đó cũng là hai mặt của một con người và trong
nhiều truyện của ông tiếng cười làm dịu mất nỗi chua xót, đánh tan mất lòng căm
phẫn". Tuy nhiên đa số các nhà nghiên cứu đều có những đánh giá xác thực, đúng
đắn về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan.
Năm 1968, tác giả Nguyễn Đức Đàn đã đưa ra nhận định về các khía cạnh như
là độ dài của truyện, lời văn, cốt truyện, kết cục của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan:
"Về nghệ thuật viết truyện ngắn phải nói rằng Nguyễn Công Hoan là người có nhiều
khả năng và kinh nghiệm. Truyện của ông thường rất ngắn. Lời văn khúc chiết, giản
dị. Cốt truyện được dẫn dắt một cách có nghệ thuật để hấp dẫn người đọc. Thường
kết cục bao giờ cũng đột ngột. Mỗi truyện thường như một màn kịch ngắn có giới
thiệu, thắt nút và mở nút. Cố nhiên không phải tất cả mọi truyện đều đạt cả. Nhưng
thường thì những truyện không đạt chủ yếu là do nội dung tư tưởng" [7, tr.71-88].
Và ông cũng đưa ra nhận xét về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của
Nguyễn Công Hoan: "Với một số lượng khá lớn như vậy... truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan hợp thành một bức tranh rộng lớn khá đầy đủ về xã hội cũ. Hầu hết trong xã
hội thực dân phong kiến đều có mặt: nông dân, công nhân, tiểu tư sản, trí thức làm
của nhà văn" đã nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Công Hoan: "Đọc
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thấy tài hoa của ông chủ yếu dồn vào cốt truyện và
cách kể chuyện (...). Ông có một cái duyên kể chuyện hết sức hấp dẫn (...). Phương
thức kể chuyện biến hóa, tài vẽ hình, vẽ cảnh sinh động, khả năng dựng đối thoại có
kịch tính, giọng kể chuyện tự nhiên hoạt bát, lối ví von so sánh độc đáo, cách chơi
chữ táo bạo, dí dỏm (...). Nhưng về đại thể bí quyết chủ yếu vẫn là nghệ thuật dẫn dắt
tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng, tình thế hài hước bật ra ở cuối tác phẩm một
cách đột ngột bất ngờ" [50, tr.107].
Năm 1979, Lê Thị Đức Hạnh - người đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu
về Nguyễn Công Hoan trong "Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan" đã viết:
"Đề tài và các vấn đề xã hội mà Nguyễn Công Hoan nêu ra trong truyện trào
phúng của ông rất đa dạng, tạo thành những bức tranh giàu sức sống và sáng tạo,
7
đem lại cho độc giả những cảm xúc lí thú, bất ngờ" [24, tr.136] và "Nguyễn Công
Hoan đã có một nếp cảm nghĩ riêng, xây dựng được hàng mấy trăm truyện ngắn,
với biết bao nhiêu kiểu cười làm cho độc giả thì khoan khoái, hả hê mà đối tượng
bị đả kích thì cay cú, ê chề. Nhà văn có nhiều cách để tạo nên những cốt truyện
mang chất trào phúng" [25, tr.140].
Và trong công trình "Nghệ thuật viết truyện ngắn đặc sắc và độc đáo của
Nguyễn Công Hoan" Lê Thị Đức Hạnh cũng nhận xét: "Nguyễn công Hoan tiếp nhận
phần lớn những hình ảnh hay, tốt, gạn lọc lấy những phần tinh túy, nhuần nhuyễn
vào ngòi bút, tạo thành một phần máu thịt trong câu văn của ông (...). Ngôn ngữ
Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng được chọn lọc và nâng cao, đậm
hương vị ca dao, tục ngữ, có khi tác giả đưa ca dao, tục ngữ vào truyện một cách rất
tự nhiên thoải mái. Những chữ dùng của ông thường giản dị, giàu hình ảnh - cụ thể,
so sánh, ví von làm cho người đọc dễ có liên tưởng thú vị" [24, tr.394].
Năm 1983, Phan Cự Đệ khi nhận xét về cấu trúc tác phẩm của Nguyễn Công
5.2. Phƣơng pháp hệ thống
Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là một hệ thống cấu trúc bao gồm
nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành. Vì vậy, các vấn đề cụ thể, các yếu
tố, các khía cạnh được triển khai trong luận văn được đặt trong mối quan hệ hệ thống.
5.3. Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh
Để chỉ ra những nét đặc sắc và những đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên
phương diện nghệ thuật truyện ngắn thì chúng tôi không chỉ tiến hành đối chiếu, so
sánh trong nội bộ các sáng tác của Nguyễn Công Hoan mà còn mở rộng ra đối chiếu,
so sánh với các sáng tác của các nhà văn hiện đại khác nhằm làm nổi bật rõ đối tượng
nghiên cứu.
5.4. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp
Từ việc khảo sát, phân tích tác phẩm ở các khía cạnh, vấn đề mà đề tài khoa
học đặt ra, người viết chú ý đến những đặc sắc trong nghệ thuật để có thể làm hiện
diện ra một phong cách riêng, độc đáo. Và từ việc phân tích đó, chúng tôi có cơ sở để
đi đến những kết luận có tính chất tổng hợp, khoa học.
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở khảo sát những truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan, luận
văn tiến hành khảo sát nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, phân tích những
nét độc đáo và khẳng định vai trò, giá trị của nó trong việc truyền tải nội dung. Qua
đó góp phần khẳng định vị trí, tầm quan trọng của Nguyễn Công Hoan trong thể loại
truyện ngắn hiện đại nói riêng và trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam hiện đại
nói chung. Nghiên cứu toàn bộ nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, luận văn
sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về tất cả những mặt, những
khía cạnh, những yếu tố thuộc về phương diện nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945.
11
7. Cấu trúc luận văn
năm học ở đây Nguyễn Công Hoan được học văn học một cách tương đối có hệ
thống, nhất là văn học Pháp, còn về văn học cổ Việt Nam thì ông được học "toàn là
một loạt thơ trào phúng, nhạo đời" [31, tr.50] và ông cũng thừa nhận là "Được nhập
tâm những thơ văn hay, tôi chịu ảnh hưởng của các bậc tiền nhân không nhỏ" [tr.50].
Năm ông 20 tuổi (tức là năm 1923) ông cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên
với nhan đề "Kiếp hồng nhan" nhằm phê phán những cô gái ham giàu sang, sống bám
vào ngoại kiều. Tập truyện ngắn này chỉ mang tính chất "thử bút" của Nguyễn Công
Hoan, ngay chính bản thân ông cũng đã từng nói trong "Đời viết văn của tôi" rằng tập
truyện ngắn này "không có nghĩa lý gì, không có mục đích nào" [tr.81] và " toàn thể
13
cuốn sách không nổi lên một hướng nào về chính trị hoặc nghệ thuật" [tr.83]. Tuy
nhiên, dù chưa thật rõ nét nhưng chúng ta cũng thấy ở tập truyện ngắn đầu tay này
phần nào cái tinh thần, tư tưởng cơ bản của nhà văn.
Năm 1926, Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm và bắt
đầu đi dạy học - một nghề bị bạc đãi trong xã hội lúc bấy giờ. Mặc dù là nghề bị xã
hội bạc đãi nhưng trong số tất cả các nghề có thể làm thì Nguyễn Công Hoan lại yêu
nghề dạy học, đơn giản vì theo ông đó là cách kiếm ăn ít nô lệ nhất. Ít nhất thì làm
thầy giáo cũng có thể làm chủ bản thân, có quyền quyết định mọi việc diễn ra trong
lớp học mà không cần phải nghe theo mệnh lệnh hay luồn cúi bất kì ai. Khi dạy học,
xen lẫn vào các bài giảng của mình, ông lại trau dồi vào tâm trí những lớp học trò
lòng yêu nước và giúp cho học trò hiểu sự thật của hoàn cảnh lịch sử đất nước ta lúc
bấy giờ nhằm gợi sự căm giận đối với kẻ thù xâm lược và bán nước trong học trò.
Năm 1928, ông gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng với Nguyễn Thái
Học. Và cũng bắt đầu từ đây, ông vừa dạy học vừa viết văn. Khi tham gia tổ chức này
Nguyễn Công Hoan có điều kiện đọc các báo như: "Việt Nam hồn", "LE PARIA" (do
Nguyễn Ái Quốc chủ trương) bên Pháp gửi về, những sách "Một bầu tâm sự" (của
Trần Huy Liệu), "Tờ cớ mất quyền tự do" (của Trần Hữu Độ) từ Sài Gòn gửi ra và
hướng văn học mới. Tập truyện ra đời lập tức đã gây được tiếng vang lớn, được nhiều
báo chí khen ngợi. Đặc biệt là nó đã gây lên cuộc bút chiến sôi nổi giữa hai trường
phái văn học lúc bấy giờ là phái "Nghệ thuật vị nhân sinh" do Hải Triều đứng đầu và
phái "Nghệ thuật vị nghệ thuật" mà đại diện tiêu biểu là Hoài Thanh, Thiếu Sơn.
Riêng đối với chính bản thân Nguyễn Công Hoan, ông nói "việc cuốn Kép Tư Bền
được hoan nghênh làm tôi tin rằng tôi có thể viết nổi tiểu thuyết và tôi có thể theo
đuổi được nghề viết văn" [31, tr.188].
Tháng 9/1936, ông đổi về dạy học ở trường Nam Định. Tại đây ông có dịp tiếp
xúc với công nhân của các nhà máy tơ, máy sợi. Họ thường cung cấp cho ông những
đề tài để viết, cũng kể từ đây ông luôn luôn bị người của Sở mật thám theo dõi. Và
cũng trong năm này, ở Nam Định cũng như ở những nơi khác, nhiều chính trị phạm
bị nhà cầm quyền bắt trước đó đã được thả (do ở Pháp, Mặt trận bình dân lên nắm
quyền), Nguyễn Công Hoan có cơ hội tiếp xúc với họ, cũng từ đây Đảng cộng sản
Đông Dương đã có ảnh hưởng trực tiếp tới ông.
Đến tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, Mặt trận bình dân
không còn nắm quyền ở Pháp. Ở Đông Dương cũng như ở Việt Nam, mọi hoạt động
không còn được tự do như thời kì 1936 - 1939 nữa, chế độ kiểm duyệt sách báo được
15
tái lập. Bọn thực dân do thấy ông viết một số tác phẩm có tinh thần phản chiến nên đã
đến khám nhà ông và đưa ông ra tòa Nam án để kết tội nhưng vì ông có giấy khai
sinh là người Hà Nội nên bản án của chúng không có hiệu lực. Đây là thời kì mà gia
đình cũng như cá nhân ông đã gặp rất nhiều khó khăn: trong nhà hết người này đến
người kia bị thực dân bắt, các tác phẩm của ông bị kiểm duyệt rất gắt gao, phần lớn
các tác phẩm không được xuất bản...
Để tránh tình trạng bị "lừa" như đối với "Bước đường cùng", bọn chính quyền
không chấp nhận cho truyện của ông được kiểm duyệt theo từng hồi như trước mà
phải đưa cả quyển rồi chúng mới quyết định cho in hay không. Nhiều truyện của ông
sở tuyên truyền Bắc bộ. Trong quá trình công tác ông đã dần tìm được những tư liệu
chính xác liên quan đến việc trồng đay và thu thóc của hai kẻ thù xâm lược là Thực
dân Pháp và Phát xít Nhật - nguồn gốc gây ra nạn đói năm 1945 mà ông tận mắt
chứng kiến. Dựa vào những tư liệu đó ông viết "Tranh tối tranh sáng".
Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, Nguyễn Công
Hoan đã tình nguyện gia nhập quân đội. Ông liên tục hoạt động ở nhiều cương vị,
nhiều lĩnh vực khác nhau như là làm báo "Vệ Quốc Quân" rồi giám đốc trường Văn
hóa quân dân, chủ nhiệm tờ "Quân dân học báo". Được tiếp xúc với những người
chiến sĩ cách mạng, ông có thêm những mẫu nhân vật mới để viết "Đồng chí Tơ"
(1946), "Xổng cũi" (1947), "Nông dân với địa chủ" (1955).
Đến năm 1954, hòa bình lặp lại trên miền bắc, ông trở về Hà Nội công tác
trong Hội Văn nghệ Việt Nam và được bầu làm chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
khóa I (1957). Điều này tạo cho Nguyễn Công Hoan có nhiều thời gian cũng như
có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho việc sáng tác. Thời kì này, ông tiếp tục viết
nhiều bài cho các báo, đặc biệt là tập trung viết nhiều tiểu thuyết từ những gì mà
ông tích lũy được về xã hội cũ trong suốt quá trình hoạt động trước đó. Tiêu biểu
là "Tranh tối tranh sáng" (1956), "Hỗn canh hỗn cư" (1961), "Bà Năm đi tản cư",
"Đống rác cũ" (1963)...
Kháng chiến chống Mỹ bùng nổ, mặc dù đã ở cái tuổi (có thể gọi là) xế
chiều (65 tuổi) nhưng Nguyễn Công Hoan vẫn không hề chịu thua những nhà văn
thuộc lớp sau, sức sáng tác của ông vẫn vô cùng dồi dào. Từ những thực tế mới
của cuộc kháng chiến chống Mỹ ông viết những bộ tiểu thuyết "Anh con trai
người bạn đọc ấy", "nếu không có anh" (Xuất bản dưới tên "Một kiếp người" năm 1989) , "Trong ấy ngoài này"...
17
Năm 1960, nhờ nghe những người thân kể lại mà Nguyễn Công Hoan đã viết
được hai bài bút kí hay, được đánh giá cao: "Những này tháng 8 ở Côn Đảo" và
"Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn năm 1930".
còn bị độc giả hiểu nhầm. Khi cuốn "Thanh Đạm" ra đời năm 1942, ông đã bị dư luận
cho là "tán dương quan trường" [31, tr.219], lúc đó ông đã rất "hậm hực, buồn bã hết
sức, đâm ra chán nản với nghề" [tr.220] và mãi đến tận hơn mười năm sau ông mới
tự mình thanh minh được) và bão táp của cường quyền (truyện của ông luôn bị kiểm
duyệt gắt gao, mấy lần bị chính quyền Thực dân gọi ra tòa và cũng đã phải ngồi tù
trong một thời gian khá dài). Mặc dù liên tiếp gặp bão táp nhưng ông không hề nản
chí, vẫn luôn giữ trong mình một niềm tin để tiếp tục tạo ra những tác phẩm xuất sắc.
Cả cuộc đời 57 năm cầm bút của ông đã gắn liền với số phận của dân tộc, gắn
bó với cách mạng. Và cũng có thể khẳng định rằng ở thế hệ ông, ít có nhà văn nào lại
phải trải qua những cảnh đời như ông đã từng thử thách và gánh chịu. Trước Cách
mạng Tháng 8, ông và gia đình luôn luôn phải sống trong sự theo dõi của bọn mật
thám, rồi những vụ khám xét và bắt bớ, kết tội của chính quyền Thực dân đã khiến
cho gia đình ông tan tác. Ông thường xuyên phải tận mắt chứng kiến cảnh người thân
của mình bị tra tấn, tù đầy. Niềm đau xót của ông lên đến tận cùng khi nhận được tin
người con trai cả đã hi sinh (trong kháng chiến chống Thực dân Pháp) khi anh mới ở
độ tuổi 20. Đó là người con mà ông yêu quý nhất, người con giống ông từ dáng hình
đến tính cách con người, người con thông minh và đầy tài năng. Không chỉ chứng
kiến một người con ngã xuống mà cứ sáu tháng một lần trong những năm đầu của
cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, những người ruột thịt trong gia đình ông
theo nhau hi sinh. Kháng chiến chín năm gia đình ông đã hiến dâng cho Tổ quốc sáu
người. Nỗi đau đã không ngừng đến với ông và rồi không còn gì đau đớn hơn khi có
tin rằng người con trai duy nhất còn lại của ông được lệnh đi chiến trường miền Nam
chống Mỹ đã bị địch bắt và có thể đã bị thủ tiêu.
Cuộc đời viết văn của Nguyễn Công Hoan mở ra sừng sững trước mắt người
đọc nhưng không vì thế mà xa lạ, ngược lại nó rất gần gũi, thân thương với chúng ta.
Những trang viết, những dòng chữ, những nhân vật, những nỗi lòng sau mỗi lần đọc
ta không thể quên; chúng như đang tâm sự, như nói hộ nỗi lòng của cả một thế hệ
người trong một giai đoạn khổ đau và hào hùng của dân tộc, như chia sẻ buồn vui,
khích lệ họ vượt qua mọi trở ngại để vươn lên. Cuộc đời nhà văn luôn sống mãi trong