TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN - SAU ĐẠI HỌC
––––––––––––––––––––––
TIỂU LUẬN
Cải cách hành chính gắn với
đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế
Giáo viên hướng dẫn: S BÙI QUANG VINH
Sinh viên: HOÀNG MINH KHANG
Lớp: KTPT K22
ĐÀ NẴNG, 02 – 2016
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
3
Chương I. Những vấn đề chung về thủ tục hành chính.
4
1.1. Cơ sở lý luận của cải cách hành chính.
4
KẾT LUẬN
9
9
9
10
13
20
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ hội nhập phát triển kinh tế hiện nay công cuộc cải cách hành
chính là một trong những nhiệm vụ cấp thiết để thực hiện mục tiêu xây dựng
một nền hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh, chuyên nghiêp lấy nhân
dân làm gốc.
Bước vào thời kỳ hội nhập phát triển kinh tế, để tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của các thành phần kinh tế và thu hút nguồn đầu tư nước ngoài thì
cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hoá các khâu trong quá trình giải quyết
công việc của cá nhân, tổ chức có một vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng.Cải
cách hành chính là những thay đổi được thiết kế có chủ định nhằm cải tiến một
cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước: lập kế
hoạch, định thể chế, tổ chức, công tác cán bộ, tài chính chỉ huy phối hợp; kiểm
tra; thông tin và đánh giá.
Căn cứ vào Nghị quyết hội nghị lần thứ VIII của BCH Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam, cải cách hành chính ở nước ta được hiểu là: “ Trọng tâm
của công cuộc tiếp tục xây dựng và kiện toàn Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
điều chỉnh của cơ cấu hành chính, kết quả tất yếu của sự tác động của tiến bộ
khoa học vào quản lý hành chính. Những yêu cầu của cải cách hành chính liên
quan mật thiết với nội dung cải cách hành chính, đồng thời liên quan chặt chẽ
với tính chất của cải cách hành chính. Về tính chất, cải cách hành chính là một
sự biến đổi hay cách mạng trong lĩnh vực thượng tầng kiến trúc và quan hệ sản
xuất, có tính chất chính trị và giai cấp rõ rệt. Tuy nhiên, từ góc độ hành chính thì
cải cách hành chính phải phục tùng nhu cầu khách quan của sự phát triển lực
lượng sản xuất xã hội và thúc đẩy khoa học hoá sự quản lý công việc của toàn
bộ hệ thống hành chính nhà nước, nên nó có tính cộng đồng xã hội nhất định.
Từ những phân tích trên đây, cải cách hành chính có thể được hiểu một
cách khái quát đó là: Cải cách hành chính là hoạt động của Chính phủ căn cứ
vào yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị của xã hội mà hiện đại hoá, khoa học
hoá, hiệu suất hoá thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức, chế độ công tác, phương
thức quản lý để nâng cao năng suất và hiệu lực hành chính của toàn bộ nền
hành chính nhà nước.
1.2. Mục tiêu của cải cách hành chính.
Cải cách hành chính ở Việt Nam là công việc hết sức mới mẻ, diễn ra
trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính Nhà nước
trong thời kỳ đổi mới, mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, nên có nhiều vấn đề phải vừa
làm, vừa tìm tòi, tổng kết đúc rút kinh nghiệm. Do vậy, việc hình thành quan
niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng
như việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện
4
trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng, là một quá
trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới. Cho nên, cải cách
hành chính ở Việt Nam vừa có tính chiến lược, vừa có tính chiến thuật giai đoạn,
được xác định trong khuôn khổ cụ thể cần đạt được trong từng giai đoạn nhất
5
tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình CCHC nhà nước giai đoạn
2001-2010.
Quyết định số 181/2003/QĐ – TTg ngày 04 tháng 9 năm 2003 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện “một cửa” tại cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương; ...
1.4. Mối liên hệ của cải cách hành chính và công cuộc cải cách khác.
Cải cách hành chính không có mục đích tự thân mà là nhằm mục đích phục
vụ, thúc đẩy sự phát triển ổn định và năng động của toàn xã hội, chủ yếu là triển
khai thực hiện mục tiêu cơ bản là: Phát triển nền kinh tế quốc dân theo định
hướng xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Cải cách kinh tế là cải cách thể chế kinh tế thực chất của cải cách kinh tế là
cải cách thể chế quản lý kinh tế của Chính phủ. Đây cũng là một trong những
nội dung của cải cách hành chính.
Cải cách hành chính là khâu mấu chốt, đảm bảo sự thành công của cải cách
kinh tế luôn gắn liền với những thành tựu trong cải cách kinh tế, đổi mới hệ
thống chính trị, cải cách pháp luật và tư pháp
Cải cách hành chính trước hết là cải cách thể chế của nền hành chính, có
mối liên hệ mật thiết phụ thuộc lẫn nhau với cải cách pháp luật và tư pháp.
Những thay đổi trong cải cách hành chính cần phải được đảm bảo thực hiện
bằng hệ thống pháp luật và nền tư pháp, chỉ có cải cách pháp luật mới tạo cơ sở
pháp lý cho cải cách hành chính thành công
Cải cách hành chính cũng chính là thể chế hoạt động của Nhà nước nói
chung và trực tiếp là Chính phủ - một bộ phận cấu thành quan trọng của thể chế
chính trị. Cải cách hành chính là một trong những bước đi góp phần làm đổi mới
hệ thống chính trị nhưng vẫn phục tùng, phục vụ hệ thống chính trị, và giữ vững
ổn định chính trị.
1.5. Định hướng phát triển nội dung lý luận về quản lý nhà nước ở
hiện được vai trò quản lý đất nước trên mọi lĩnh vực, đưa đất nước phát triển lên
một bước đáng kể, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội khá cao
trong thập kỷ qua. Từ những bài học thành công và kinh nghiệm chưa thành
công của hơn 50 năm qua, chúng ta có thể đúc kết được hệ thống lý luận về bộ
máy nhà nước và hoạt động của bộ máy đó phù hợp với điều kiện cụ thể của
nước ta.
- Yêu cầu đổi mới hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước nhằm phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế hội nhập với nền
kinh tế thế giới. Lý luận quản lý nhà nước không thể tách rời mục tiêu phát triển
đất nước, cũng không thể tách rời xu thế hội nhập của thế giới trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay. Chính những mục tiêu này đặt ra các yêu cầu mà lý luận
quản lý nhà nước phải nghiên cứu giải quyết để tìm ra các giải pháp hữu hiệu
cho việc thực hiện các mục tiêu trên.
7
- Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ giai
đoạn từ năm 2001 - 2010. Chương trình này đã đề ra các mục tiêu và nội dung
tổng thể về cải cách hành chính trong giai đoạn tới. Lý luận quản lý nhà nước
phải lý giải và định hướng cho những mục tiêu và nội dung này, tạo cơ sở lý
luận cho việc thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính trong giai
đoạn tới.
Dựa vào những căn cứ nói trên, việc phát triển lý luận về quản lý nhà nước
trong thời gian tới cần hướng vào các nội dung sau :
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân và
chức năng của Nhà nước ta. Trọng tâm của công tác nghiên cứu cần tập trung
làm rõ những nội dung của một nhà nước pháp quyền trong điều kiện xây dựng
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Thứ hai, làm rõ các nguyên tắc tổ chức và quản lý hành chính nhà nước xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Những nguyên tắc đề ra không chỉ dừng lại ở nhận thức
cải cách hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức vừa là chủ thể vừa là đối tượng
của cải cách hành chính. Vì vậy, cần nghiên cứu các lý thuyết về quản lý nguồn
nhân lực trong bộ máy hành chính, tạo ra cơ chế sử dụng công chức có hiệu quả
để thúc đẩy đội ngũ này tự cải cách. Nghiên cứu, tìm ra cơ chế ngăn chặn và đẩy
lùi nạn tham nhũng, quan liêu, lãng phí trong bộ máy nhà nước và nâng cao đạo
đức, năng lực của công chức.
Thứ tám, nghiên cứu về quản lý tài chính công như một công cụ quan
trọng để Nhà nước can thiệp vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng cơ chế
phân cấp quản lý tài chính và ngân sách nhằm phục vụ có hiệu quả cho hoạt
động của bộ máy nhà nước.
Thứ chín, nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước về cải cách
hành chính để tìm ra những bài học có thể áp dụng vào điều kiện nước ta. Trong
những thập kỷ qua, nền hành chính các nước phát triển đã tiến được những bước
khá xa và có nhiều kinh nghiệm. Đó chính là tài sản tri thức mà nhân loại tích
lũy được trong quá trình phát triển. Lý luận hành chính cần nghiên cứu, tham
khảo những kinh nghiệm này và có trách nhiệm sàng lọc, đúc rút ra những bài
học kinh nghiệm có thể áp dụng vào điều kiện nước ta.
9
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁTHỰC TRẠNG CỦA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
2.1. Thực trạng cải cách hành chính ở Việt Nam
Thực hiện chủ trương, chính sách tại các Nghị quyết Đại hội VII, Nghị
quyết Trung ương 8 (khóa VII), Nghị quyết Đại hội VIII, các Nghị quyết Trung
ương 3, Trung ương 6 (lần 2) và Trung ương 7 (khóa VIII), Nghị quyết Đại hội
lần thứ IX, công cuộc cải cách hành chính trong gần 20 năm qua đã góp phần
quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống của đại bộ pbận tầng lớp nhân dân,
được sắp xếp, điều chỉnh, thay đổi theo hướng tinh gọn hơn. Bộ máy hành chính
từ Trung ương đến cơ sở vận hành phát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn, cùng với
chủ trương hạn chế biên chế từ mấy năm nay, giảm số lượng đầu mối (nơi phát
sinh các thủ tục hành chính) cấp bộ, ngành từ Trung ương đến cơ sở và trong
từng cơ quan, đơn vị. Vấn đề tiền lương cũng được nhìn nhận một cách công
bằng hơn, chế độ tiền lương được cải thiện từng bước trong khả năng của ngân
sách, chính là cơ sở vật chất quan trọng để thực hiện cải cách hành chính.
- Một số cơ quan Nhà nước đó đi tiên phong trong áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo động lực đáng kể trong cải tiến hoạt
động của bộ máy hành chính Nhà nước.
* Về đội ngũ cán bộ, công chức.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ công chức bộ máy hành chính nhà nước đã được
nâng lên về mọi mặt, cả về trình độ chính trị lẫn chuyên môn. Việc quản lý, sử
dụng cán bộ, công chức được đổi mới một bước theo các quy định của Pháp
lệnh Cán bộ, công chức: từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi nâng ngạch, khen
thưởng, kỷ luật đến đào tạo, bồi dưỡng. Chếđộ, chính sách tiền lương bước đầu
được cải cách theo hướng tiền tệ hóa. Nhận thức của phần lớn cán bộ, công chức
Nhà nước đã có sự thay đổi cơ bản, từ cách tư duy hành chính theo kiểu ''hành
dân'' đó chuyển sang tư duy ''phục vụ''. Sự tiến bộ trong nhận thức đó trực tiếp
tác động đến lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, công chức từ cấp lãnh đạo
đến nhân viên khi thi hành công vụ. Việc tiếp công dân và giải quyết các khiếu
nại của dân được coi trọng hơn. Các cuộc gặp gỡ và giải đáp vướng mắc, kiến
nghị của doanh nghiệp đã được tổ chức thường xuyên ở nhiều cơ quan, được cấp
lãnh đạo cao nhất tham dự, đã giải quyết trực tiếp các kiến nghị trong khuôn khổ
pháp luật quy định.
2.1.2. Những hạn chế, yếu kém.
Cải cách nền hành chính nhà nước đã tiến hành được nhiều năm, tuy
nhiên, vẫn còn mang nặng dấu ấn, “tàn dư” của cơ chế quản lý tập trung, quan
liêu bao cấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi phải có cơ chế quản lý
thích hợp thực tiễn, công cuộc đổi mới toàn diện, dân chủ hoá các mặt của đời
nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ,
sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật rành mạch, triệt để,
cụ thể và phù hợp. Tình trạng chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan cùng
cấp, cấp trên và cấp dưới còn chồng chéo, nhiều khi hạn chế lẫn nhau, dẫn đến
hiệu lực, hiệu quả quản lý thấp.
12
- Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với
dân, không nắm chắc được những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng,
bịđộng khi xử lý các tình huống phức tạp.
- Phương thức quản lý hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân
tán, chưa thông suốt; chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với
hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ
công;
* Về đội ngũ cán bộ, công chức.
Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần
trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính; phong cách làm việc
chậm đổi mới; tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ra
nghiêm trọng trong một bộ phận cán bộ, công chức. Nhìn chung chưa đáp ứng
được yêu cầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và
hội nhập quốc tế; ý thức nghề nghiệp chưa cao, tôn trọng kỷ luật lao động còn
yếu; đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ công chức bị suy thoái; thái độ
phục vụ nhân dân còn thấp, một bộ phận cán bộ công chức tồn tại thái độ thờ ơ,
''lãnh cảm'' với dân, đặt mình ở vị thế ban phát quyền lợi cho dân. Những vấn đề
đó đó làm chính quyền ngày càng xa dân, giảm lòng tin của dân đối với chính
quyền... Về số lượng thì có nơi, có lĩnh vực thừa và ngược lại, có nơi, có lĩnh
vực thì thiếu; thiếu đội ngũ cỏn bộ công chức có chất lượng cao, tận tụy với
chưa thống nhất.
- Sáu là, cải cách hành chính diễn ra chậm, thiếu sự kiểm tra, đánh giá sát
sao; nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh từđội ngũ cán bộ, công chức từ cấp cao
đến cấp cơ sở chậm được phát hiện xử lý nghiêm minh, kịp thời. Hiện tượng
phát sinh tiêu cực cả một tập thể, ngay từ chính những cán bộ chủ chốt cảở hệ
thống bộ máy Đảng và chính quyền có nơi, cóđịa phương xả ra trầm trọng, gây
bất bình trong dư luận, giảm lòng tin của nhân dân vào chếđộ.
14
CHƯƠNG III:
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GẮN VỚI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ.
Bất kỳ hoạt động nào của Nhà nước đều phải đặt trong mối quan hệ với
các quan hệ kinh tế, cải cách hành chính cũng được đặt ra trong mối quan hệ
chặt chẽ với cải cách kinh tế với từng bước đi và từng lĩnh vực, trên từng địa bàn
nhằm tạo ra sự ăn khớp và thúc đẩy lẫn nhau giữa cải cách hành chính và đổi
mới cơ cấu quản lý kinh tế.
Việc triển khai các hoạt động kinh tế cũng cần được thực hiện bằng hệ
thống thủ tục, trình tự theo quy định của pháp luật (thủ tục hành chính) và hệ
thống thứ bậc hành chính mà chủ thể vận hành là công chức, viên chức Nhà
nước. Mặt khác, hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền từ Trung
ương đến địa phương cũng là tác nhân trực tiếp làm cho nền kinh tế tăng trưởng
hay suy thoái. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, trong đó là bộ máy cồng
kềnh, nhiều tầng, nấc, quản lý không thông suốt, chưa có cơ chế, chính sách tài
chính thích hợp với hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ
chức làm dịch vụ công sẽ không chỉ tạo điều kiện cho tệ tham nhũng, quan liêu
trong bộ máy Nhà nước mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư, tạo
ra sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, phá vỡ tính đồng bộ của nền
Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2010:
Trong lĩnh vực xã hội, Việt Nam là một trong những quốc gia triển khai
hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế gắn với xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ
đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ mức hơn 50% vào đầu thập niên 90 xuống
còn gần 12% năm 2011. Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu
Phát triển Thiên Niên kỷ (MDGs) và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một
trong những điển hình sử dụng thành công các nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức cho các mục tiêu phát triển xã hội.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Việt Nam cũng đứng trước nhiều
thách thức to lớn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa 20112020. Thứ nhất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn những hạn chế
nhất định, hệ số ICOR của Việt Nam đã tăng từ 6,6 giai đoạn 2001-2005 lên 8
trong giai đoạn hiện nay. Thứ hai, Việt Nam phải đối phó với một số vấn đề về
ổn định kinh tế vĩ mô, đáng chú ý là lạm phát có xu hướng tăng cao trong một số
thời điểm nhất định như các năm 2008 và 2011. Thứ ba, tỷ lệ đói nghèo tại một
số vùng, miền còn cao và chênh lệch khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông
thôn còn lớn. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng gặp phải những thách thức từ những
biến động phức tạp, khó lường của kinh tế thế giới từ sau khủng hoảng tài chính
toàn cầu 2008-2009.
Trên thế giới, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 đã góp phần đẩy
nhanh quá trình tái cấu trúc kinh tế thế giới với những đặc trưng chủ yếu, đó là:
(i) Chuyển đổi tư duy phát triển từ chú trọng tốc độ tăng trưởng kinh tế sang
16
tăng trưởng kinh tế bền vững và toàn diện; (ii) Chuyển đổi mô hình kinh tế ở cấp
độ quốc gia, trong đó ưu tiên các mô hình kinh tế mang tính bền vững và thân
thiện với môi trường, ví dụ như kinh tế xanh, các chính sách kinh tế gắn với an
sinh xã hội và tạo việc làm; (iii) Chuyển dịch các mạng lưới sản xuất và chuỗi
giá trị với sự nổi lên của khu vực Châu Á-Thái Bình Dường; (iv) Tăng cường
các hình thức liên kết kinh tế quốc tế và khu vực, chú trọng yếu tố kết nối giữa
2. Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao
chất lượng và sức cạnh tranh
3. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền
vững
4. Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị cao,
tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh
5. Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông
6. Phát triển hài hoà, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn
mới
7. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hoà với phát triển
kinh tế
8. Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc
sức khoẻ nhân dân
9. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển
nhanh giáo dục và đào tạo
10. Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá
trình phát triển nhanh và bền vững
11. Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó có hiệu
quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai
12. Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo
đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ
động hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Trước mắt, trong giai đoạn 2013-2015, ưu tiên chính của Chính phủ Việt
Nam là thực hiện Đề án tổng thể về tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô
hình tăng trưởng. Quan điểm về tái cơ cấu được xác định rõ trong Đề án tổng thể
của Chính phủ Việt Nam như sau:
Một là, tiếp tục đổi mới tư duy, phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà
nước và thị trường; nâng cao năng lực và hiệu lực quản trị quốc gia, phát huy vai
trò kiến tạo và hỗ trợ phát triển của Nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách,
thống các tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu
quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình...
Về tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà
nước: sẽ thực hiện phân loại, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, tập trung
vào các lĩnh vực chính gồm công nghiệp quốc phòng, các ngành, lĩnh vực công
nghiệp độc quyền tự nhiên hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và một số
ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn; đẩy mạnh cổ
phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không
cần nắm giữ 100% sở hữu... Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao chất lượng,
hiệu quả, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân; khuyến khích hình
19
thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân có tiềm lực mạnh, có khả năng
cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Do tầm quan trọng đặc biệt của nội dung tái cơ cấu kinh tế, Chính phủ
Việt Nam đã yêu cầu các Bộ/ngành, địa phương và các tập đoàn, tổng công ty
nhà nước phải xây dựng chương trình hành động triển khai Đề án tổng thể tái cơ
cấu. Đồng thời, bên cạnh Đề án tổng thể, Chính phủ Việt Nam cũng đã phê
duyệt Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước vào tháng 7/2012.
Kết quả bước đầu và một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình tái cơ cấu
kinh tế
Sau hơn 2 năm triển khai chủ trương tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi
mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững, tuy gặp phải nhiều thách thức song
Việt Nam đã đạt được một số kết quả bước đầu trong các lĩnh vực tái cơ cấu.
Trong lĩnh vực tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước, các Bộ/ngành liên quan đã
tích cực rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và mô hình thực hiện
chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý của chủ sở hữu đối với
DNNN. Quá trình tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, DNNN
đang được đẩy mạnh, tới nay đã có trên 50 tập đoàn, tổng công ty nhà nước xây
lẫn nhau. Đặc biệt, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước được đánh giá là nội dung
cần được đặc biệt chú trọng do vai trò của các doanh nghiệp nhà nước trong nền
kinh tế và hiệu quả mà tiến trình này có thể mang lại đối với các lĩnh vực tái cơ
cấu còn lại.
Hai là, gắn kết hài hòa giữa tái cơ cấu kinh tế với các biện pháp chuyển đổi
mô hình tăng trưởng, nói cách khác là giữa chủ trương, biện pháp tái cơ cấu kinh
tế với các chính sách liên quan đến chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ví dụ như
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến
năm 2050. Đồng thời, tiến trình tái cơ cấu kinh tế cần gắn kết chặt chẽ với việc
thực hiện ba khâu đột phá chiến lược giai đoạn 2011-2020 đó là: hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh
tranh bình đẳng và cải cách hành chính; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết với phát triển và ứng dụng khoa họccông nghệ; và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại,
tập trung vào hệ thống giao thông và đô thị lớn.
Ba là, gắn kết giữa tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng với
tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, do hội nhập quốc tế có thể đóng vai trò
tích cực giúp thu hút nguồn lực (vốn, công nghệ, tri thức…) cho tái cơ cấu kinh
tế. Đồng thời, tái cơ cấu kinh tế hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội, từ đó tạo cơ sở thuận lợi cho hội nhập quốc tế. Sau hơn 25 năm Đổi mới,
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hội nhập quốc tế, bao
gồm thiết lập quan hệ thương mại-đầu tư với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; trở
thành thành viên của nhiều diễn đàn hợp tác khu vực và quốc tế quan trọng như
các cơ chế tiểu vùng Mê Công, ASEAN, hợp tác Đông Á, APEC, ASEM,
21
FEALAC, WTO… đồng thời đang tích cực tham gia tiến trình đàm phán nhiều
Hiệp định Thương mại tự do quan trọng như Đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TPP)… Đây là cơ sở quan trọng cho việc tăng cường sự gắn kết giữa hội nhập
quốc tế với tái cơ cấu kinh tế trong thời gian tới.
Tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và các nước thành viên FEALAC trong
chính và giải quyết các vấn đề xã hội. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 20082009, một số nước thành viên FEALAC cũng đã thực hiện chuyển đổi mô hình
tăng trưởng với những thành công nhất định. Về phía mình, Việt Nam có thể
chia sẻ những kinh nghiệm tiến hành cải cách kinh tế trong hơn 25 năm Đổi
mới, bao gồm triển khai các nội dung tái cơ cấu trong giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, tăng cường hợp tác kinh tế, nhất là trên các lĩnh vực có khả năng
bổ trợ lẫn nhau giữa các nước như trao đổi thương mại, thúc đẩy FDI, hợp tác
khoa học-công nghệ… qua đó phục vụ các nội dung chuyển đổi mô hình tăng
trưởng của các nước.
Thứ ba, đóng góp vào nội dung hợp tác kinh tế trong khuôn khổ diễn đàn
FEALAC, bao gồm nội dung hợp tác giữa các nước liên quan đến tái cơ cấu
kinh tế. Việc tổ chức các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giữa các nước FEALAC
tương tự như Hội thảo “Kinh nghiệm của các nước FEALAC về chuyển đổi mô
hình tăng trưởng theo hướng bền vững” có thể tạo cơ hội tốt để các nước
FEALAC trao đổi, nắm bắt những bài học bổ ích về chuyển đổi mô hình tăng
trưởng, đồng thời tăng cường khả năng hợp tác với các tổ chức quốc tế trong
tiến trình quan trọng này.
(theo Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo
hướng bền vững tại Việt Nam - Vụ Tổng hợp Kinh tế - Bộ Ngoại giao nước
CHXHCN Việt Nam)
23
KẾT LUẬN
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế, yếu tố
quyết định chính là nâng cao năng suất lao động, do vậy nâng cao năng suất lao
động là yếu tố “sống còn” đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Theo đó, Chính phủ cần có biện pháp hướng các doanh nghiệp đầu tư phát triển
các lĩnh vực thâm dụng khoa học công nghệ, hàm lượng chất xám trong hoạt
25