Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn ở tỉnh thừa thiên – huế - Pdf 43


Để hoàn thành được bài khóa luận tốt nghiệp
này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực phấn đấu của
bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự ủng hộ,
quan tâm giúp đỡ từ phía nhà trường, của quý thầy
cô, đơn vò thực tập, người thân và bạn bè.
Thông qua đây tôi xin phép được gửi lời cảm ơn
sâu sắc đến toàn thể giảng viên của Khoa Du Lòch –
Đại Học Huế đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt kinh
nghiệm, trang bò kiến thức cho tôi trong suốt 4 năm
học tập tại trường, đặc biệt là giảng viên Th.S
Hoàng Thò Anh Thư người đã trực tiếp hướng dẫn,
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm khóa
luận.
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn
Giám đốc và các anh chò tại Trung tâm Thông tin
Xúc tiến Du lòch Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện
cho tôi được thực tập, điều tra, thu thập số liệu và
tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khóa
luận này.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến tất cả bạn bè, người thân đã luôn
bên cạnh động viên, nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tôi
trong suốt những năm học qua và trong thời gian tôi
làm bài khóa luận.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, do
chưa có đủ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực
tiễn chưa nhiều nên đề tài không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!


Lê Thị Hiền

SVTH: Lê Thị Hiền

33

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

MỤC LỤC

78

PHỤ LỤC

SVTH: Lê Thị Hiền

44

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư


: Làng nghề truyền thống

UNESCO

: (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc

LNTT

: Làng nghề truyền thống

TP

: Thành phố

UBND

: Ủy ban nhân dân

SVTH: Lê Thị Hiền

55

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

SVTH: Lê Thị Hiền

việc khai thác các tài nguyên thế mạnh của mình. Thừa Thiên - Huế là một trong số
ít những địa phương có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng và có giá trị
cao cả về tự nhiên lẫn nhân văn. Tài nguyên du lịch nhân văn ở tỉnh Thừa Thiên Huế thật sự là những giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc trở thành di sản quý hiếm của
quốc gia, là lợi thế rất lớn của tỉnh cho phép phát triển du lịch thành ngành kinh tế
mũi nhọn mang tầm quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên, những TNDLNV này chưa
được đầu tư khai thác hợp lí, hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao để đảm bảo cho sự
phát triển bền vững của ngành du lịch tỉnh. Chính vì vậy việc đánh giá và xác nhận
tiềm năng các tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ cho hoạt động du lịch để một
mặt có kế hoạch khai thác hợp lý, mặt khác có kế hoạch trùng tu, tôn tạo và bảo vệ
tài nguyên là việc làm hết sức cần thiết.

SVTH: Lê Thị Hiền

7

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

Từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá tài nguyên du lịch
nhân văn ở tỉnh Thừa Thiên – Huế” là vấn đề nghiên cứu cho bài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Đề tài nghiên cứu này sẽ cung cấp một cách nhìn tổng quan về các TNDLNV
làm cơ sở cho việc đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm khai thác hiệu quả
tài nguyên du lịch nhân văn, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của ngành du lịch

4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu định tính
SVTH: Lê Thị Hiền

8

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

- Thu thập và sử dụng các số liệu, tài liệu có liên quan đến tài nguyên du lịch
nhân văn ở tỉnh Thừa Thiên – Huế như các tài liệu từ cơ quan ban ngành, các viện,
công ty du lịch, tạp chí du lịch, ….
- Thu thập và sử dụng các tài liệu trên website có liên quan đến tài nguyên du
lịch nhân văn ở TTH
- Tham khảo các bài báo khoa học, các luận văn, khóa luận, …..
- Thảo luận nhóm: thảo luận nhóm về đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
TTH, thu thập ý kiến của từng thành viên trong nhóm.
- Hỏi ý kiến chuyên gia: trao đổi, xin ý kiến tư vấn của các chuyên gia về các
tiêu chí để đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
4.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Thu thập số liệu sơ cấp bằng phương pháp điều tra bảng hỏi và phỏng vấn trực
tiếp du khách đến Huế.
Phương pháp xác định cỡ mẫu:
Du khách đến Huế với cỡ mẫu lớn và không biết tổng thể nên tôi sử dụng công
thức Cochran (1977) để xác định cỡ mẫu:
n=

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

1,00 – 1,8
Hoàn toàn không đồng ý
1,81 – 2,6
Không đồng ý
2,62 – 3,4
Bình thường
3,41 – 4,2
Đồng ý
4,21 – 5,0
Hoàn toàn đồng ý
Cấu trúc của bảng hỏi gồm 3 phần: Thông tin chuyến đi, cảm nhận của du
khách và thông tin cơ bản với hệ thống các câu hỏi lựa chọn; trong quá trình phỏng
vấn kết hợp với việc quan sát, trao đổi về các vấn đề có liên quan.
Đề tài sử dụng phần mềm phân tích thống kê SPSS 20 để xử lí các thông tin từ
phiếu điều tra của du khách thông qua thống kê mô tả và phân tích phương sai một
yếu tố.
Thống kê mô tả: Tần suất (Frequency), mô tả (Descriptive), phần trăm
(Percent), giá trị trung bình (Mean).
Phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA)
Kiểm định Independent sample T-test để xem xét sự khác biệt về ý kiến đánh

-

giá của du khách có giới tính khác nhau về TNDLNV tỉnh TTH.
Với độ tin cậy 95% (mức ý nghĩa 0.05):
Nếu Sig. > 0.05: Không có sự khác biệt trong đánh giá của du khách có giới tính

-

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

SVTH: Lê Thị Hiền

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

11

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

PHẨN II: PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN
1.1. Cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn
1.1.1. Các vấn đề liên quan đến tài nguyên du lịch
1.1.1.1. Tài nguyên
“Tài nguyên là tất cả những nguồn thông tin, vật chất, năng lượng được khai
thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người. Đó là những thành
tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, những sản phẩm do bàn tay
khối óc của con người làm nên, những khả năng của loài người…được sử dụng cho
sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng” (Trần Đức Thanh, 2006)

nhau, nhưng về cơ bản có các điểm chung:
- Tài nguyên du lịch bao gồm các yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa do con
người tạo ra có khả năng phục vụ mục đích du lịch. Bởi vì, không phải tất cả tổng
thể tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, ... đều có thể khai thác cho mục đích du lịch,
có khả năng thu hút khách du lịch. Điều làm cho nó trở thành tài nguyên du lịch đó
chính là những tính chất, đặc điểm, những giá trị về thẩm mỹ, kiến trúc, lịch sử, văn
hóa, tâm linh,… của các thành tạo tự nhiên, các công trình, sản phẩm do bàn tay
khối óc con người tạo nên có sức hấp dẫn đối với du khách.
- Tài nguyên du lịch bao gồm những tài nguyên đã và đang khai thác, và
những tài nguyên chưa khai thác, còn tồn tại dưới dạng tiềm năng.
Tóm lại, tài nguyên du lịch là tiền đề để phát triển du lịch, thực tế, tài nguyên
du lịch một lãnh thổ càng phong phú, càng đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả khai
thác hoạt động du lịch càng cao.
b) Đặc điểm
Một số loại tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế - xã
-

hội.
Tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử nên ngày càng có nhiều loại tài nguyên du

-

lịch được nghiên cứu, phát hiện, tạo mới và được đưa vào khai thác, sử dụng.
Hiệu quả và mức độ khai thác tài nguyên du lịch phụ thuộc vào các yếu tố: khả năng

-

nghiên cứu, trình độ phát triển khoa học công nghệ, nguồn tài sản quốc gia.
Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng; có các giá trị thẩm mỹ, văn hóa lịch sử, tâm


GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

Đặc điểm:
Có tác dụng giải trí nhiều hơn nhận thức.
Thường tập trung ở những khu vực xa trung tâm dân cư.
Có tính mùa rõ nét, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên.
Việc tìm hiểu thường diễn ra trong thời gian dài.
Những người quan tâm đến du lịch tự nhiên tương đối đồng đều về sở thích.
Tiêu chuẩn đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên có tính chất định lượng nhiều hơn.
Tài nguyên du lịch tự nhiên tác động đến du khách theo một quá trình.
Tài nguyên du lịch nhân văn
Đây là nội dung nghiên cứu của đề tài nên tôi sẽ trình bày cụ thể ở mục 1.1.2
dưới đây.
1.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
1.1.2.1. Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn
“Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao
động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể
được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”. (Luật Du lịch, 2005)
Nếu hiểu theo nguồn gốc hình thành có thể hiểu tài nguyên du lịch nhân văn là
tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra. Tuy nhiên chỉ có những
tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du
lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du
lịch nhân văn.
1.1.2.2. Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Mang tính phổ biến
Cho đến nay dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, song hầu hết các
ý kiến đều thừa nhận văn hóa là những sản phẩm sáng tạo của con người. Như vậy
ở đâu có con người, ở đó có các sáng tạo văn hóa. Sinh hoạt bao trùm toàn bộ hoạt

sản phẩm du lịch và đó chính là những giá trị hữu hình của tài nguyên du lịch nhân
văn. Ngoài yếu tố hữu hình thì giá trị của tài nguyên còn được đóng góp bởi các yếu
tố “vô hình”. Các giá trị vô hình này được khách du lịch cảm nhận thông qua những
cảm xúc tâm lý, làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần (thẩm mỹ, văn hóa) - một nhu cầu
đặc biệt của khách du lịch. Giá trị vô hình của TNDLNV nhiều khi còn được thể
hiện thông qua những thông tin (nghe kể lại, qua báo chí, truyền hình, quảng cáo,...)
mà khách du lịch cảm nhận được, ngưỡng mộ và mong muốn được đến tận nơi để
thưởng thức.
- Thời gian khai thác khác nhau
Thời gian khai thác TNDLNV được hiểu theo hai nghĩa là thời lượng và mùa
vụ. Các TNDLNV có thời gian khai thác rất khác nhau phụ thuộc vào loại tài
nguyên và phương thức khai thác tài nguyên phục vụ du lịch.
Theo thời lượng khai thác, những TNDLNV mà hoạt động du lịch được tổ
chức bên trong công trình thì gần như ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và có khả
năng khai thác quanh năm. Trong khi những TNDLNV mà hoạt động du lịch được

SVTH: Lê Thị Hiền

15

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

tổ chức ngoài trời thì việc khai thác chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, đặc biệt
là yếu tố thời tiết, khí hậu, ...
Theo mùa vụ, những TNDLNV gắn liền với sinh hoạt và đời sống con người

16

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

tượng là tài nguyên tự nhiên và TNDLNV cũng khác nhau. Đối với tài nguyên du
lịch nhân văn, mục đích ban đầu bao giờ cũng mang tính nhận thức. Bằng hành vi
tiếp xúc trực tiếp với những tài nguyên, du khách mong muốn kiểm chứng lại
những nhận thức của mình về các tài nguyên đó, nhờ vậy làm giàu thêm kiến thức
của mình.
1.1.2.3. Các thành phần của tài nguyên du lịch nhân văn
a) Các di tích lịch sử - văn hóa

“Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử - văn hóa và khoa
học”. (Luật Di sản văn hóa, 2001)
Di tích lịch sử - văn hóa chứa đựng nhiều nội dung và đặc điểm riêng. Theo
điều 29 của Luật Di sản văn hóa (2001) và điều 13 của Nghị định 92 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa (2002) thì di tích được phân loại
như sau: Di tích khảo cổ, di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm
danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh.
- Di tích khảo cổ
Di tích khảo cổ là những công trình, địa điểm tồn tại trên mặt đất, trong lòng
đất hoặc dưới nước mà ở đó lưu giữ những di vật, vết tích tồn tại có liên quan tới
quá trình tồn tại và phát triển của một tộc người, một cộng đồng cư dân ở những
thời điểm xa xưa của lịch sử.

DTKTNT bao gồm: Nhóm di tích tôn giáo, tín ngưỡng và nhóm di tích kiến
trúc quân sự và nhóm di tích kiến trúc dân sự.
+ Nhóm di tích tôn giáo, tín ngưỡng bao gồm di tích đình làng, di tích chùa
tháp Phật giáo, di tích gắn với Nho giáo, di tích gắn với Đạo giáo, di tích đền thờ, di
tích nhà thờ và di tích gắn với các tín ngưỡng dân gian truyền thống.
+ Nhóm di tích kiến trúc quân sự gồm di tích thành lũy quân sự - kinh đô cổ
và di tích trấn thành, tỉnh thành, đồn binh, chiến lũy quân sự cổ.
+ Nhóm di tích kiến trúc dân sự gồm di tích cung điện, dinh thự, di tích kiến
trúc Chămpa, di tích kiến trúc làng cổ, di tích phố cổ, di tích nhà cổ, di tích lăng mộ.
- Danh lam thắng cảnh
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp
giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa
học. Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, mà còn có
giá trị nhân văn do con người tạo nên.

-

Các chỉ tiêu đánh giá về di tích lịch sử - văn hóa:
Vị trí, tên gọi, diện tích của DTLSVH
Lịch sử hình thành và phát triển của DTLSVH
Quy mô, kiến trúc của DTLSVH
Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác các DTLSVH
Các di tích lịch sử - văn hóa ở Huế gồm: Đại nội Huế, Chùa Thiên Mụ, Đàn Xã
Tắc, Khe Tre, A Sầu, khu Chín Hầm, Trường Quốc học, Nhà lưu niệm Bác Hồ, lăng
mộ, nhà thờ và nghĩa trang cụ Phan Bội Châu, Đàn Nam Giao, Điện Long An, Lăng
SVTH: Lê Thị Hiền

18

Lớp: K47TT&MKT

Các chỉ tiêu đánh giá về lễ hội:
Lịch sử phát triển của lễ hội và các nhân vật được tôn thờ
Thời gian diễn ra lễ hội
Giá trị văn hóa và phong tục, tập quán được thể hiện qua lễ hội
Vai trò của lễ hội đối với người dân địa phương
Các lễ hội ở Huế: lễ hội vật Làng Sình, lễ hội điện Hòn Chén, lễ hội Quán Thế
Âm, lễ hội đền Huyền Trân, lễ hội Cầu Ngư, Festival Huế, Festival nghề truyến
thống Huế, ....

c) Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học

Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá,
phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có
những địa bàn cư trú nhất định. Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn
SVTH: Lê Thị Hiền

19

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

riêng đối với khách du lịch. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa
với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, sinh
hoạt, kiến trúc, trang phục dân tộc, âm nhạc,…

-


-

Các chỉ tiêu đánh giá về làng nghề truyền thống:
Lịch sử phát triển của làng nghề
Quy mô của làng nghề
SVTH: Lê Thị Hiền

20

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp
-

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

Qui trình sản xuất sản phẩm của làng nghề
Cách lựa chọn nguyên liệu của làng nghề
Giá trị thẩm mỹ của sản phẩm
- Khả năng sử dụng trong thực tế của sản phẩm
- Việc khai thác và khôi phục làng nghề phục vụ phát triển du lịch
Các làng nghề truyền thống ở Huế: làng nghề đúc đồng Huế, làng gốm Phước
Tích, làng hoa giấy Thanh Tiên, làng mộc Mỹ Xuyên, làng chế biến tinh dầu tràm
Lộc Thủy, tranh Làng Sình, Nón lá Thủy Thanh, làng hương Thủy Xuân, làng nghề
mây tre đan Bao La, ....

e) Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác



Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

Chính phủ quyết định xếp hạng), cấp quốc gia (do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch quyết định xếp hạng), cấp tỉnh (do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định xếp hạng).
Trong quá trình đánh giá, các tài nguyên du lịch nhân văn được xem xét đồng
thời vừa theo loại hình vừa theo cấp xếp hạng.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Một số vấn đề đặt ra trong đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
- Đánh giá tài nguyên làm cơ sở cho việc lập quy hoạch phát triển du lịch.
Trong thực tế, hoạt động du lịch của con người ngày càng mở rộng và càng đa
dạng. Để đáp ứng tốt nhất nhu cầu đặt ra, đem lại hiệu quả tối ưu nhất trong quy
hoạch sử dụng lãnh thổ cần dựa vào kết quả đánh giá các nguồn lực, trong đó có
nguồn tài nguyên du lịch nhân văn. Ngoài việc đánh giá theo giá trị văn hóa, lịch sử,
kiến trúc, ... của tài nguyên, để phục vụ cho hoạt động du lịch thường đánh giá
TNDLNV là phân loại mức độ thuận lợi hoặc khả năng khai thác tài nguyên cho
hoạt động du lịch nói chung hay cho một loại hình du lịch nào đó. Từ đó có thể thấy
rằng tiêu chí đánh giá phụ thuộc không chỉ vào yêu cầu phát triển du lịch nói chung
mà còn phụ thuộc vào yêu cầu của từng loại hình du lịch cụ thể, vào từng thị trường
khách cụ thể.
Để xác định hết khả năng khai thác của tài nguyên cho việc khai thác,
TNDLNV cần đánh giá theo phương pháp tổng hợp. Việc đánh giá tổng hợp
TNDLNV tại một điểm du lịch, khu du lịch hay một vùng du lịch không chỉ đơn
thuần là đánh giá tài nguyên mà còn là đánh giá cả các điều kiện để khai thác các tài
nguyên đó nữa, do đó đòi hỏi phải kết hợp nhiều yếu tố, nhiều lĩnh vực khác nhau.
Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở ban đầu cho việc lựa chọn các phương án quy hoạch
lãnh thổ phục vụ phát triển du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị văn hóa tiêu biểu của mỗi quốc
gia, do vậy ngoài việc phát triển kinh tế thì công tác bảo tồn, tu bổ, tôn tạo nhằm gìn
giữ bản sắc văn hóa, nâng cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc đáp ứng mục
tiêu văn hóa – xã hội của ngành du lịch là một nhiệm vụ quan trọng. Đồng thời, việc
bảo tồn nhằm đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững
- Phối hợp giữa cơ quan quản lý và cộng đồng địa phương trong quản lý, khai
thác và bảo tồn tài nguyên
Tài nguyên du lịch nhân văn là những sản phẩm văn hóa của con người,
thường phân bố ở các khu dân cư. Vì vậy, trong hoạt động khai thác phát huy giá trị
tài nguyên, việc quản lý hay bảo tồn cần làm tốt sự phối hợp giữa các ngành liên
quan và cộng đồng địa phương. Một mặt vừa góp phần nâng cao nhận thức, giáo
dục truyền thống văn hóa dân tộc, vừa tạo ra ý nghĩa về mặt xã hội, mặt khác đem
lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương.
1.2.2. Thực tiễn triển khai công tác đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
Việt Nam với bề dày lịch sử và văn hóa lâu đời đã tạo nên một nguồn tài nguyên
du lịch nhân văn phong phú và đa dạng, có giá trị cao cho hoạt động du lịch. Trong thời

SVTH: Lê Thị Hiền

23

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

kỳ đầu những năm 1960 lúc mới hình thành ngành du lịch Việt Nam, mặc dù hoạt động
du lịch chưa có nhiều khởi sắc nhưng công tác điều tra, thống kê, nghiên cứu, lập hồ sơ


24

Lớp: K47TT&MKT


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Anh Thư

Huế (2003), Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca Quan họ
(2009), Ca trù (2009), Hội Gióng (2010), Hát xoan (2011), Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương (2012), Đờn ca tài tử Nam Bộ (2013), Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh (2014). Ngoài
ra, Việt Nam còn được UNESCO công nhận 4 di sản tư liệu thế giới gồm Mộc bản
triều Nguyễn (2007), 82 Bia đá Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (2010), Mộc bản
chùa Vĩnh Nghiêm (2012) và Châu bản triều Nguyễn (2014).
Theo công tác xếp hạng trong nước đối với các di tích lịch sử - văn hóa, danh
lam thắng cảnh, tính đến tháng 12/2014, qua 5 đợt đánh giá xếp hạng đã có 62 di
tích được công nhận di tích cấp quốc gia đặc biệt. Ngoài hệ thống DTLSVH, nhiều
lễ hội, làng nghề truyền thống hay các đối tượng văn hóa gắn với dân tộc học, ...
cũng được xếp hạng giá trị cao. Tính đến tháng 6/2015 cả nước có 121 di sản văn
hóa phi vật thể quốc gia thuộc các loại hình như lễ hội, tiếng nói, chữ viết, tập quán
xã hội và tín ngưỡng, nghệ thuật trình diễn dân gian, ....
Những tài nguyên có giá trị xếp hạng cao, đặc biệt là những di sản thế giới là
nguồn tài nguyên quan trọng, tạo ra sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch và là
niềm tự hào, là tài sản vô giá của quốc gia và nhân loại.
Trên cơ sở tài nguyên du lịch nhân văn nổi bật của vùng, của địa phương như
các di sản thế giới, các danh lam thắng cảnh nổi tiếng, ... hệ thống khu, điểm du lịch
với những yếu tố hấp dẫn có khả năng thu hút khách du lịch được xác định trong
“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995-2010”. Cho đến hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status