Quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế qaun trọng
có vai trò to lớn đối với hoạt động đối ngoại của mỗi quốc gia và cộng đồng
quốc tê. Các quốc gia ngày càng coi trọng việc phát triển du lịch tại hội nghị bộ
trưởng Du lịch Thế giới (tháng 11/1994, Osaka- Nhật Bản )với sự tham gia của
78 quốc gia ,18 cơ quan chính quyền đã khẳng định : “ Du lịch là nguồn lớn nhất
tạo ra GDP và việc làm thế giới, chiếm tới 1/10 mỗi loại . Đầu tư cho du lịch và
các khoản thu từ du lịch cũng tăng cao .Những sự gia tăng này cùng với các chỉ
tiêu khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc” và
như vậy ,du lịch sẽ là đầu tàu kéo cho nền kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI.
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTO), sự đóng góp của du
lịch và lữ hành vào nền kinh tế thế giới được minh họa bằng sự đóng góp của du
lịch và lữ hành vào nền kinh tế thế giới được minh họa bằng sự dóng góp trực
tiếp 3,8% trong số GDP ,nếu tính gộp và cả trực tiếp lẫn gián tiếp là 10,6% vào
GDP toàn cầu trong 2005 . Số lượng khách đi du lịch ngày càng tăng tại tất cả
các khgu vực ,các quôc gai trên thế giới, năm 1950 cả thế giới mới có 25 triệu
khách đi du lịch thì đến năm 2000 đã có 698 triệu người đi du lịch , dự kiến năm
2010 sẽ có trên một tỷ lượt khách du lịch quốc tế.
Trong quá trình hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ
trương ,quan điểm hết sức đúng đắn và quan trọng : Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX đã xác định “Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn” .Tháng
7/2002 ,Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt
Nam 2001-2010 ” Với mục tiêu tổng quát “Phát triển du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu ”
Từ sau năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của
WTO, tổ chức thuong mại Dịch vụ có tính quốc tế ,mang tính hội nhập toàn cầu
và điều này kích thích sự phát triển mạnh mẻ của ngành Du Lịch Việt Nam nói
chung và du lịch nói riêng, sẽ tiến mình trong tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh
1



2


nhà nước trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn Thành phố Hà Nội “ làm đề tài
luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua ,cùng với sự phát triển của nghành du lịch Hà Nội
đã có một số đề tài khoa học ,có giá trị lý luận và thực tiễn ,giúp cho việc ứng
dungjcacs giải pháp có hiệu quả góp phần thiết thực vào việc quản lý và thúc
đẩy sự phát triển của nghành du lịch Thủ đô .Những đề tài này chủ yếu giải
quyết các vấn đề nghiệp vụ du lịch hoặc quản lý nhà nước đối với các hoạt động
du lịch trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Cụ thể gần đây có các đề tai sau:
- Nghiên cứu nhũng giải pháp phát triển du lịch lữ hành của Thủ đô.
- Thực trang hoạt động kinh doanh và một số định hướng ,giải pháp chủ
yếu để các khách sạn Hà Nội kinh doanh có hiệu quả.
- Các giải pháp nâng cao chất lượng các tour du lịch trên địa bàn Hà Nội.
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch trên và dịch vụ chiến
lược hội nhập đối với kinh tế Hà Nội.
Kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học trước đây,để tiếp tục có
những bước phát triển vượt trội nhằm phấn đầu trở thành nghành kinh tế quan
trọng ,mũi nhọn vào nhưng năm tiếp theo ,luận văn này sẽ nghiên cứu ,đánh giá
thực trạng và đề xuất một số phương pháp quản lý nhà nước nhằm góp phần đẩy
nhanh sự phát triển du lịch trong cơ cấu kinh tế Thủ đô.
3.Mục tiêu – nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.Mục tiêu của luận văn
- nghiên cứu ,xây dựng luận cứ khoa học mang tính lý luận và thực tiễn về
quản lý nhà nước đối với các hoạt động du lịch trên địa bàn Hà Nội trong tình
hình mới.
- Đánh giá thực trạng về kết quả hoạt động kinh doanh và công tác quản

công tác quản lý nhà nước về quy hoạch phát triển và doanh nghiệp, cá nhân
tham gia hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Thành phố, bên cạnh đó, có
khảo sát, đánh giá khái quát các hoạt động quản lý khác có liên quan với tư cách
các bộ phận không tách rời của quản lý nhà nước về du lịch.
4.2.phạm vi nghiên cứu:
Do tính phức tạp của vấn đề, trong khuôn khổ, giới hạn của một luận văn
thạc sỹ, việc nghiên cứu chỉ giới hạn là công tác quản lý nhà nước về quy hoạch
4


phát triển và doanh nghiệp, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh du lịch trên
địa bàn Thành phố nhằm đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý
nhà nước trong lĩnh vực du lichj trong địa bàn thủ đô.
5. phương pháp nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp khoa học hành chính, quản lý
nhà nước, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phân tích tổng hợp,
phương pháp chuyên gia và logic....Bên cạnh đó có phương pháp thông kê, dự
báo, mô hình trực quan cũng được vận dụng nhằm góp phần bổ trợ cho các
phương pháp trên trong quá trình nghiên cứu. các phương pháp nghiên cứu tổng
quan, mô phỏng, đối chiếu, sô sánh...được sử dụng ở mức độ cần thiết.
6.Ý nghĩa ứng dụng của luận văn:
Luận văn nghiên cứu tương đối toàn diện cơ sở lý luận cũng như tực tiển
công tác quản lý nhà nước về hoạt động du lịch của Hà Nội. Trên cơ sở đó đề
xuất một số mang tính khoa học và thực tiễn, với mong muốn đóng góp vào việc
đổi mới hoạt đông quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Thủ đô. Thực hiện
các giải pháp, cơ chế, chính sách đề tài đề xuất gopsphaanf phát triển nhanh,
hiệu quả và bền vững đối với du lịch thủ đô. Qua đó mang lại hiệu quả quản lý
du lịch của Hà Nội.
7.Kết cấu – Nội dung của luận văn:
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành ba chương:

hiện ba xu hướng chính: Lưu trú, ăn uống và giao thông. Du lịch trong thời kỳ
này tập trung ở các trung tâm kinh tế văn hóa của loài người. Thể loại du lịch
nghỉ ngơi và giải trí cũng đã phát triển cho giới quý tộc chiếm hữu nô lệ, những
người phục vụ và các nhân viên cao cấp. Sau thế kỷ IV, khi đạo Thiên chúa giáo
được phát triển, du lịch chữa bệnh cũng đã xuất hiện.
Trong thời kỳ phong kiến du lịch không có biểu hiện gì lớn. Ở thời kỳ này
du lịch công vụ và du lịch tôn giáo là loại hình tương đối phát triển so với các
thể loại du lịch khác. Đáng chú ý trong thời kỳ hưng thịnh của chế độ phong
kiến ( từ giữa thế kỷ XI đến thế kỷ XVI), du lịch có một bước chuyển biến mới.
6


Ngoài các thể loại du lịch công vụ và du lịch tôn giáo, một số thể loại du lịch
khác được phục hồi và phát triển như du lịch chữa bệnh và du lịch vui chơi giải
trí. Đặc biệt phải kể đến các chuyển đi xa, dài ngày ( có khi hàng năm) của các
đoàn gồm những người sùng đạo đến các trung tâ đạo giáo ( Rôm, Reruxalem
của người theo đạo Thiên chúa giáo Meca và Medina của người theo đạo Hồi
giáo). Thời kỳ cuối chế độ phong kiến (thế kỷ XVI đến những năm 40 của thế
kỷ XVII), những điều kiện cho việc phát triển du lịch được mở rộng, nhất là
Pháp, Anh và Đức – những nước có nền kinh tế phát triển nhất bây giờ.
Thời kỳ cận đại ( từ những năm 40 của thế kỷ XVII đến chiến tranh thế
giới lần thứ nhất), với sự ra đời và củng cố của chủ nghĩa tư bản, nền kinh tế thế
giới phát triển mạnh và có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động du lịch. Chuyển
biến rõ nét nhất phải kể đến thời điểm từ sau cuộc bùng nổ cuộc cách mạng kỹ
thuật, trong đó có cuộc các mạng giao thông và sự ra đời của đầu máy hơi nước
là tiền để vật chất quan trọng cho việc phát triển của du lịch.
Trong thời kỳ hiện đại, kể từ sau cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất với
sự chuyến biến chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn thấp đến lên giao đoạn cao, đã tạo
điều kiện cho thể loại du lịch thể thao mùa đông được khai sinh và phát triển
ngang với số khách đi nghỉ khí hậu núi vào mùa hè, làm cho các trung tâm du

xưm hát, đi dạo hay chỉ đơn giản là thưởng thức môi trường xung quanh. Nếu
xem xét khía cạnh rộng hơn, trong định nghĩa du lịch có thể bao gồm những
người đi lam kinh doanh, công tác, dự hội nghị, hội thảo, thực hiện các hoạt
động chuyên ngành (professionai activities), học giỏi hay nghiên cứu khoa học,
kỹ thuật.
Vấn đề định nghĩa du lịch một cách quy mô phải bao gồm các thành phần
tạo ra hoạc chịu ảnh hưởng của ngành du lịch. Quan điểm của thành phần này có
tầm quan trọng đến việc triển khai một định nghĩa bao quát.
Trên thế giới, du lịch đã được đánh giá là một ngành kinh tế đặc thù, vai
trò của du lịch đã được các quốc gia và các nền kinh tế nhận thức đúng đắn.
Ngày nay du lịch đã được trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính phổ
biến, du lịch là ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả các ngành sản xuất ô
tô, điện tử và nông nghiệp. Một số quốc gia coi du lịch là nguồn thu ngoại tệ
quan trọng nhất trong ngoại thương, là một ngành kinh tế hàng đầu, coi chỉ tiêu

8


đi du lịch của dân cư là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cuộc sống, nên
nhanh chóng phát triển nó trở thành ngành kinh tế.
Trong quá trình hình thành và phát triển du lịch, cho đến nay có khá nhiều
định nghĩa về du lịch. Trước đây, người ta chỉ mới quan niệm du lịch là một loại
hình hoạt động mang tính văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí và những nhu
cầu hiểu biết của con người, du lịch không được coi là một hoạt động kinh tế,
không mang tính chất kinh doanh và ít được đầu tư để phát triển bởi du khách
hầu hết là những người hành hương, thương nhân...cho đến đầu thể kỷ XX, du
lịch vẫn còn dành riêng cho một nhóm người giàu có, họ đi du lịch với mục đích
giải trí và được coi là những kỳ nghỉ bình thường. Kể từ những năm 50 của thể
kỷ XX đổ lại đây, khái niệm về du lịch luôn được đưa ra tranh luận.
Thuật ngữ “du lịch” bắt đầu từ từ “TOUR” trong tiếng Pháp, có nghĩa là

điểm này du lịch được hiểu là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỷ thuật đẻ phục vụ du khách. Du lịch là tổng hợp các
hoạt động kinh doanh đa dạng được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu
trú tạm thời của cá thể. Du lịch là cơ hội để bán sản phẩm địa phương, tăng thu
ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy
mạnh cán cân thanh toán và nâng cao sức sống vật chất và tinh thần cho địa
phương.
Thứ tư, trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại. du lịch là một hiện tượng
kinh tế - xã hội. Trong trong giai đoạn hiện nay, có được đặc trưng bởi sự tăng
nhanh khối lượng và mỡ rộng phạm vi, cơ cấu dân cư tham gia vào qua trình du
lịch tại địa phương mình vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu về nền văn hóa
và phong cách của người ngoài địa phương, người nước ngoài; là cơ hội để tìm
kiếm việc làm, để phát sinh và phát triển các nghề cổ truyền, các nghề thủ công
truyền thống của dân tộc. Thông qua du lịch, một mặt có thể tăng thu nhập
nhưng mặt khác cũng gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân sở tại như:
Vấn đề về môi trường, trật tự an ninh, xã hội...
Ngoài ra, ở thời đại sự nhìn nhận về du lịch cũng có khác nhau Điều đó
phản ánh mức độ phát triển của du lịch. Năm 1811, lần đầu tiên tại Anh có định
nghĩa về du lịch: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành
của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Năm 1930 Ông Glusman, người
Thụy Sỹ định nghĩa: “ Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến
10


một địa điể mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”. Sau này, giáo sư,
tiến sĩ Hunziker và giáo sư, tiến sỹ Krapf- hai người được coi là những người
đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: “ Du lịch
là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình
và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành
cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”.

Theo Luật Du lịch của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2005: “ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời đại nhất định”; “ Hoạt động du lịch là hoạt
động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư
và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch” , và “ Dịch vụ là việc
cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống vui chơi giải trí,
thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch”.
Từ tổng quan các định nghĩa về du lịch, cho thấy mỗi định nghĩa đều
muốn nhấn mạnh đến một khía cạnh nhất định có liên quan đến hoạt động du
lịch, cần phải đặt vấn đề khi nghiên cứu khái niệm, định nghĩa về hoạt động du
lịch, song vì chúng ta nghiên cứu khái niệm du lịch trong điều kiện kinh tế thị
trường và vận dụng trong môi trường cụ thể và trên quan điểm quản lý Nhà
nước, khái niệm du lịch cần nhấn mạnh theo định nghĩa là một ngành kinh tế.
Do vậy, tác giả luận văn xin đưa ra nét định nghĩa cơ bản:
Du lịch là một hoạt động kinh tế bao gồm các hoạt động của những
đơn vị kinh doanh và phục vụ du lịch, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại
lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách
du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội thiết
thực cho khách du lịch, cho quốc gia và cho chính bản thân các doanh
nghiệp.
Việc nhấn mạnh khái niệm du lịch nói trên không đồng nghĩa với việc
kinh doanh du lịch đơn thuần mà còn coi trọng đến hiệu quả về kinh tế, chính trị
- văn hóa – xã hội của tất cả các chủ thể liên quan đến du lịch; tạo điều kiện cho
du lịch tái đầu tư, bảo tồn và phát triển du lịch bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu
của khách du lịch ngày một tốt hơn.
12



13


khách du lịch thường có nhu cầu nhiều hơn thường ngày do tâm lý hưởng thụ để
bù đắp xứng đắp xứng đáng cho thời gian làm việc.
Ngành kinh doanh du lịch và địa chỉ để khách hàng chuyển yêu cầu của
họ đến. Việc cung cấp các sản phẩm vật chất để thỏa mãn nhu cầu ăn, ở, nghỉ
ngơi của khách sạn luôn gắn liền với sự tiện nghi và bản sắc văn hóa quốc gia,
địa phương. Tính độc đáo ở mỗi nơi khách đến là một trong những động lực tạo
nên chuyển du lịch.
Để khách hàng được thỏa mãn các nhu cầu khi đi du lịch, nhà kinh doanh
và nhà quản lý cần quan tâm tới việc phối hợp với các nghành sản xuất vật chất,
thương mại, vận tải, các cơ sở văn hóa...Đến lượt nó các ngành phụ trợ này lại
mang về nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia cũng như góp phần thu hút nhiều
khách hơn cho du lịch.
Một số nhà nghiên cứu cho răng du lịch vừa có tính chất như một ngành
dịch vụ khi nó tạo ra sản phẩm vô hình thỏa mãn trực tiếp nhu cầu từng khách
hàng cụ thể, vừa có tính chất của một ngành sản xuất vật chất khi nó cung cấp
các sản phẩm hàng hóa hữu hình cho cuộc du lịch của khách hàng như thế biến
các món ăn chẳng hạn, vừa có tính chất của ngành văn hóa khi thỏa mãn nhu cầu
vật chất và tinh thần của khách hàng bằng những nét văn hóa dân tộc hay địa
phương.
Thứ ba, hoạt động du lịch có ảnh hưởng ngoại biên đa chiều tới phát
triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, ở những nước, hoạt động du lịch không chỉ đem lại lợi ích kinh
tế mà còn đem lại giá trị chính trị, văn hóa, xã hội to lớn. Đơn cử, ở Việt Nam,
vào những năm của thập kỷ 90 thế kỷ trước, trong chương trình mục tiêu xúc
tiến du lịch tại các quốc gia trên thế giới, tại một số nước phát triển của châu âu,
có những cá nhân đã từng đặt câu hỏi rằng: “đất nước Việt Nam của các bạn còn
chiến tranh không”. Điều này cho thấy rằng với cách tiếp cận thông qua hoạt

trí, bãi tắm, tuyên truyền và khai thác các di tích, danh lam thắng cảnh và không
loại trừ những sản phẩm truyền thống. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, đặc
biệt nghệ thuật truyền thống cũng có cơ hội phát triển.
Điều thú vị ở đây là, phần lớn khách du lịch là những người có mức sống
cao. Khái niệm khách du lịch vì thế thường gắn liền với khả năng chi trả cao.
Việc phát triển các ngành sản xuất, các hoạt động văn hóa theo hướng phục vụ
15


du lịch cũng vì thế tất yếu phải hướng vào vấn đề chất lượng và tính đặc sắc,
tính độc đáo của sản phẩm.
1.1.4.3 Du lịch thúc đẩy lưu thông hàng hóa- tiền tệ giữa các vùng miền
trong nước, tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia.
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi cán cân thu
chi của khu vực và của đất nước. Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước
mà họ đi du lịch, làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho nước đến. Trong phạm vi một
quốc gia, hoạt động du lịch làm xảo động hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng
hóa. Du lịch có tác dụng điều hòa thu nhập từ vùng kinh tế phát triển sang vùng
kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế các vùng sâu, vùng xa. Khi
khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch, du khách từ mọi nơi đổ về sẽ làm
cho nhu cầu về mọi hàng hóa tăng lên đáng kể. Việc đòi hỏi một số lượng lớn
vật tư, hàng hóa các loại kích thích mạnh mẽ các ngành kinh tế có liên quan, đặc
biệt là nông nghiệp, công nghiệp chế biến..vv. Bên cạnh đó, các hàng hóa vật tư
cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức
đẹp và hấp dẫn. Điều này có nghĩa là yêu cầu hàng hóa phải được sản xuất trên
mọi công nghệ cao, trình độ tiên tiến...vv Để sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng
nhu cầu của du khách.
So với ngoại thương ngành du lịch cũng có nhiều ưu thế nỗi bật. Du lịch
xuất khẩu tại chỗ được nhiều mặt hàng không phải qua nhiều khâu, nên tiết kiệm
được lao động, chênh lệch giá giữa người bán và người mua không quá cao.

thuộc đối tượng xuất khẩu của ngoại thương, trong trường hợp này du lịch đã
mở rộng danh sách các mặt hàng xuất khẩu.
Du lịch còn góp phần khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Thông qua du lịch, nhà đầu tư nước ngoài dễ tiếp cận hơn với thực tiễn nước sở
tại. Nhờ đó đẩy nhanh hơn việc ra quyêt định đầu tư, bao gồm cả đầu tư trực tiếp
và đầu tư gián tiếp.
Du lịch góp phần củng cố và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế. Các tổ
chức du lịch quốc tế mang tính chính phủ và phi chính phủ có tác động tích cực
trong việc hình thành các quan hệ kinh tế quốc tế. Phát triển du lịch quốc tế giúp
cho giao thông quốc tế phát triển. Lượng hành khách được coi là yếu tố quyết
định cuối cùng tới việc mở các tuyến giao thông mới, số lượng, lịch trình các
chuyến bay hay tàu biến và các phương tiện giao thông khác.
17


1.1.4.5 Du lịch góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia
Ngoài những tác trực tiếp tới kinh tế, văn hóa, du khách còn có ảnh hưởng
ngoại hiện tích cực tới đời sống xã hội có thể nêu một số nét điển hình như sau:
Thứ nhất, du lịch tạo việc làm, thu nhập cho xã hội nói chung địa phương
nói riêng góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Theo thống kê của tổ
chức du lịch thế giới, tổng số lao động trong các hoạt động du lịch và liên quan
chiếm 10,7% so với tổng số lao động toàn cầu. Cứ 2,5 giây du lịch tạo ra một
việc làm mới và trong số 8 lao động thì sẽ có 1 lao động trong ngành du lịch.
Một phòng khách sạn 3 sao trung bình trên thế giới hiện nay thu hút 1,3 lao
động và khoảng 5 lao động trong các dịch vụ bổ xung. Số lượng lao động trong
các dịch vụ bổ xung có thể tăng lên nếu dịch vụ bổ chất lượng cao và phong phú
về chủng loại.
Thứ hai, du lịch góp phần làm thay đổi bộ mặt địa phương nhờ những
công trình đầu tư phục vụ du lịch. Hơn nữa, giao lưu với khách du lịch góp phần
nâng cao dân trí địa phương. Du lịch làm giảm quá trình đô thị hóa và sự di cứ

Du lịch với những thế mạnh của nó đang ngày càng được nhiều nhà kinh
doanh chú ý, thị trường du lịch vì thế trở nên sôi động ở tất cả các dẳng cấp
.Song ,mặt trái của hoạt động du lịch cũng làm phat sinh nhiều vấn đề trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội . Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch vì
thế được đánh giá là công tác hết sức khó khăn,phức tạp.
1.2 Quản lý nhà nước về du lịch
1.2.1. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước về du lịch
Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh liên
tục bằng quyền lực pháp luật nhà nước dựa trên cơ sở nền tảng của thể chế chính
trị nhất định đối với các quá trình, các hoạt động du lịch của can người để duy trì
và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế
nhằm đạt được các hiệu quả kinh tế xã hội do nhà nước đó đặt ra.
Quản lý nhà nước đói với hoạt động du lịch là phương thức chỉ đạo,
ddiieuf hành, điều chỉnh các mối quan hệ thông qua hệ thống pháp luật, các chủ
thể quản lý (cơ quan quản lý được nhà nước ủy quyền)tác động tới các đối tượng
bị quản lý tham gia trong quá trình kinh doanh nhằm định hướng cho hoạt đọng
du lịch theo sự vận động, phát triển có mục đích.
19


Những lý do chủ yếu để khẳng định sự cần thiết khách quan của việc quản
lý nhà nước đối với hoạt động du lịch bao gồm:
Thứ nhất, du lịch cần được phát triển nhanh và hiệu quả.
Tạo ra mức lợi nhuận hấp dẫn, du lịch thu hút được số lượng lớn nhà đầu
tư, cũng khó thống kê đầy đủ số lượng cơ sở kinh doanh nhỏ. Áp lực cạnh tranh
khốc liệt trên thị trường du lịch ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ doanh nghiệp thất
bại và rút khỏi thị trường, gây tình trạng bất ổn trong kinh doanh và phân bboos
nguồn lực kém hiệu quả. Đẻ tạo ddiieuf kiện cho hoạt động du lịch phát triển
thuận lợi, cung cấp thông tin và tư vấn trong đầu tư kinh doanh du lịch, cần thiết
có sự điều tiết từ phía cơ quan quản lý nhf nước có thẩm quyền.

1.2.2.1 Mục tiêu của quản lý nhà nước về du lịch
Mục tiêu tổng quát là phát triển du lịch bền vững. Trong đó, du lịch phải
đóng góp phần quan trọng vào tổng sản phẩm xã hội, giải quyết việc làm, góp
phần thực hiện các mục tiêu quốc gia, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương, như chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện thu nhập và mức sống của dân
cư, xóa đói giảm nghèo, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước ở các cấp để
tạo nguồn cho các khoản đầu tư xây dựng địa phương, bảo vệ tài nguyên môi
trường.
Như vậy, du lịch không chỉ nhằm vào mục tiêu kinh tế, du lịch phải góp
phần ổn định chính trị, quốc phòng, bảo vệ những giá trị vô hình khác của quốc
gia và địa phương.
1.2.2.2 Yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước về du lịch
Xuất phát từ tính chất của loại hoạt động kinh doanh du lịch, công tác
quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đặc thù này cần đáp ứng những yêu cầu sau:
Thứ nhất, đảm bảo ổn định và phát triển thị trường du lịch theo hướng
khai thác tối ưu các nguồn lực quốc gia và địa phương.
Thứ hai, quản lý và hướng các hoạt động kinh doanh du lịch đúng pháp
luật, cạnh tranh lành mạnh, có hiệu quả.
Thứ ba, đảm bảo ổn định chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn, giữ gìn cảnh
quan, môi trường , các di tích, điểm du lịch.
Thứ tư, phát triển các ngành phụ trợ một cách cân đối và đáp ứng các tiêu
chuẩn hiện đại.

21


Thứ năm, hướng hoạt động du lịch vào việc thực hiện các mục tiêu quốc
gia và địa phương.
1.2.2.3 NHững nội dung chủ yếu của công tác QLNN về du lịch
Thứ nhất, quản lý nhà nước về định hướng, chiến lược phát triển du lịch

thiệp để sửa chữa những khuyết tật cố hữu của thị trường.
Thị trường du lịch luôn hấp hẫn nhà kinh doanh ngay từ khi mới ra đời.
Mức độ cạnh tranh trong thị trường này gay gắt cao độ. Trong điều kiện một nền
kinh tế mới nổi như Việt Nam, áp lực cạnh tranh càng khốc liệt hơn. Hoạt động
vô chính phủ, vi phạm các lợi ích cộng đồng, xâm phạm và lãng phí tài nguyên
thiên nhiên, các công trình lịch sử, di tích văn hóa,v.v.luôn tiềm ẩn trong quá
trình mỡ rộng phạm vi hoạt động kinh doanh du lịch là tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho khách bao gồm từ cơ sở vật chất tới các phương tiện đi lại, nghe, nhìn,
môi trường cảnh quan và các đối tượng hưởng thụ khác. Trong khi cố gắng thõa
mãn nhu cầu của khách, doanh nghiệp thường bỏ qua việc bảo vệ và phát triển
nguồn lực cho du lịch. mâu thuẫn này chỉ có thể được giãi quyết thông qua việc
hoạch định và triển khai các chính sách từ phía Chính phủ. Quan hệ doanh
nghiệp du lịch – nhà nước mà đại diện là các cơ quan quản lý ngành, cơ quan
quản lý chức năng trong nền kinh tế thị trường vì vậy trở nên một mắt xích quan
trọng trong hoạt động kinh doanh du lịch.
Thứ ba, QLNN đối với luông khách và hoạt động củ khách du lịch.
Thu hút khách là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Song này vượt qua
khả năng của họ khi tồn tại trong một thể chế nhất định. Doanh nghiệp có các
kênh marketinh của riêng họ, nhưng không được vượt qua phạm vi cho phép về
mặt hành chính. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp hay gián
tiếp khơi thông các kênh đó bằng chính sách. Trong nước, đó là mở mang giao
thông là tự do đi lại, tự do cư trú, nới rộng hành lang pháp lý về kinh doanh du
lịch,...vv. Đối với nước ngoài là tham gia các điều ước quốc tế về việc đi lại,cư
trú của công dân, khuyến khích đầu tư, cải cách các thủ tục hành chính trong
xuất, nhập cảnh và xuất khẩu, quảng bả hình ảnh quốc gia...vv. Ngoài ra, còn
bao gồm việc quản lý số lượng, thành phần, quốc tịch các luồng khách...vv.
Hoạt động của khách du lịch có ảnh hưởng lớn đến môi trường, kinh tế,
chính trị, xã hội của quốc gia hay địa phương nơi họ đến. Đặc biệt trong trường
hợp khách nước ngoài còn liên quan đến các vấn đề văn hoá. Quản lý luồng
23

môi trường của điểm du lịch. Ngoài ra, sự di chuyến của du khách và các đồ
dung, phương tiện cá nhân của họ còn góp phần vào việc phát tán dịch bệnh.
24


Không những thế, lối sống của địa phương có thể bị thay đổi theo chiều hướng
thiếu lành mạnh, nhất là đối với các thế hệ trẻ.
Các chính sách, quy định về khai thác, bảo tồn và phát triển các tuyến
điểm du lịch, vì vậy, phải song hành với việc khai thác thực tế để đảm bảo nuôi
dưỡng nguồn lực cho du lịch.
Thứ năm, điều tiết việc phối hợp giữa các ngành, các cơ quan quản lý
thuộc thẩm quyền có liên quan đến du lịch.
Bao gồm các ngành vận tải, thương mại, thông tin, văn hoá, thể thao và cả
các ngành sản xuất vật chất. Sự phát triển đồng bộ các cơ sở thuộc nhiều ngành
như vậy đảm bảo cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thoả mãn nhu cầu
khách hàng. Ngược lại, lượng khách mà ngành du lịch mang đến chính là lượng
cầu cho thị trường địa phương. Song, nếu không quan tâm đến việc phát triển cơ
sở sản xuất hàng truyền thống, hàng xuất khẩu đặc thù hay các mặt hàng thế
mạnh khác của quốc gia hay địa phương, nếu không chú ý điều tiết ngành hàng,
xuất xử hàng, sẽ rơi vào tình trạng bán hàng hộ cho nước ngoài hoặc bán đỗ bán
tháo các nguồn tài nguyên, các di sản quý của quốc gia. Bằng chứng là, hiện nay
không ít hàng hoá bán cho du khách là hàng nhập khẩu (bao gồm cả nhập lậu) từ
Trung Quốc, Hàn Quốc như các loại thuốc bắc, nấm linh chi, các tân dược có
nguồn gốc cây cỏ Bắc Á, hàng tiêu dùng công nghiệp khác như lụa tơ tằm Trung
Quốc và các sản phẩm từ chúng, ngoài ra, thực đơn các khách sạn hàng sang sử
dụng chủ yếu thực phẩm Thái Lan, hoa tươi Hà Lan, sữa các sản phẩm từ sữa
nhập khẩu từ Châu Âu hay Châu Úc, ngoài ra, một số cổ vật quý hiếm, kim khí
quý, đá quý cũng thất thoát theo con đường du lịch.
Một hoạt động hết sức cần thiết nữa cho du lịch là văn hoá, nghệ thuật, y
học dân gian và địa phương. Đây là phương thức thoã mãn nhu cầu tìm tòi của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status