Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái và biện pháp phòng trị bệnh tại trại lợn nguyễn văn chiêm, xã đạo tú huyện tam dương tỉnh vĩnh phúc - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NGUYỄN QUANG CẢNH
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN CHIÊM,
XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành: Thú y
Khoa

: Chăn nuôi Thú y

Khóa học

: 2012 – 2017

THÁI NGUYÊN - NĂM 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

i

LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở em đã luôn nhận
được sự giúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo và bạn bè. Đến nay em đã hoàn
thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp.
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình,
em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi thú y và trang trại
chăn nuôi lợn gia công của công ty Cổ Phần Charoen Pokphand Việt Nam.
Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp
đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình.
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể
các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp
đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo GS. Từ
Quang Hiển người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian
thực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên tại trại lợn nái sinh
sản Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã
giúp đỡ em hoàn thành tốt thời gian thực tập.
Một lần nữa em xin kính chúc toàn thể thầy cô giáo cùng toàn thể
gia đình sức khỏe, hạnh phúc, thành công trong công việc giảng dạy và
nghiên cứu.
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 11 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Quang Cảnh

Escherichia coli

KHKT:

Khoa học kỹ thuật

NXB:

Nhà xuất bản

PGF2α:

Prostaglandin F2α

TT:

Thể trọng

TN:

Thí nghiệm

VTM:

Vitamin

vđ:

Vừa đủ




v

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................ 32
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 32
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu............................................................ 32
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 32
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu ................................... 32
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 32
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 32
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................ 36
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 36
4.1.1. Công tác phòng bệnh............................................................................. 36
4.1.2. Công tác điều trị bệnh ........................................................................... 39
4.1.3. Công tác khác ........................................................................................ 41
4.2. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn qua 3 năm từ 2014 đến
5/2016 .................................................................................................... 44
4.3. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ ................................................ 44
4.4. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo dãy chuồng ....................................... 46
4.5. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo tháng trong năm................................ 46
4.6. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn........................................... 47
4.7. Một số triệu chứng của bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại ............ 48
4.8. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị ........................ 49
4.9. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị .......................... 50
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 52
5.1. Kết luận .................................................................................................... 52
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO

dịch bệnh, lợn hay mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng,
đặc biệt là bệnh sản khoa. Một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn
nái sinh sản là bệnh viêm tử cung.


2

Bệnh viêm tử cung là bệnh sinh sản gây ra do một số vi khuẩn như:
Escherichia coli, Streptococcus, Staphylococcus…. Bệnh không mang tính
truyền nhiễm nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợn nái: giảm tỷ lệ thụ
thai, gây chết thai, lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm
làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng
đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn. Với mục
đích góp phần vào nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nâng cao hiệu quả
phòng trị bệnh, tiết kiệm chi phí nái nuôi tại trại lợn nái sinh sản Nguyễn Văn
Chiêm. Từ thực tế đó em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tình hình mắc bệnh
viêm tử cung ở đàn lợn nái và biện pháp phòng trị bệnh tại trại lợn Nguyễn
Văn Chiêm, xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của nghiên cứu
- Đánh giá tỷ lệ cảm mắc bệnh viêm tử cung ở lợn.
- Đánh giá hiệu quả của các phác đồ điều trị.
- Đánh giá được thực trạng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại
Trại lợn nái sinh sản Nguyễn Văn Chiêm.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Ý nghĩa của đề tài góp phần giải thích được cơ sở khoa học về tình hình
mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề ra các biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh
sản và hạn chế thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi.



4

% là đất chưa sử dụng. Nhìn chung đất canh tác của huyện có độ màu mỡ
kém, đất phù sa phân bố chủ yếu ở xã Hợp Thịnh và các xã có địa hình thấp
trũng, thích hợp cho trồng lúa, rau và cây thực phẩm. Vùng đồi trung du gồm
các loại đất xám feralít xen kẽ đất cát, phù hợp cho trồng các loại cây ăn quả.
Bình quân diện tích đất nông nghiệp năm 2009 đạt 687 m2/người, thấp hơn
mức bình quân chung của tỉnh (823 m2/người).
2.1.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội
Tập trung phát triển mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn: Xã Đạo Tú có
tổng số hơn 1.000 con bò. Số bò này chủ yếu nuôi rải rác trong các hộ dân,
không nuôi quy mô lớn. Để đảm bảo vốn vay đến đúng đối tượng, sử dụng có
mục đích, sau thời gian một tháng giải ngân, Hội nông dân trực tiếp đi kiểm
tra một lần nữa. Trong trường hợp hộ nào không chấp hành yêu cầu thì sẽ bị
thu hồi vốn.
Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới: Đảng bộ, chính
quyền huyện đã chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị chọn những giải pháp tuyên
truyền, vận động mang lại hiệu quả cao và phù hợp với đặc điểm của từng địa
phương. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các xã đánh giá đúng thực trạng
địa phương, tìm ra tiềm năng, lợi thế để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
nông dân thông qua việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, quy hoạch mở rộng
cánh đồng rau sạch, mở rộng diện tích sản xuất cây trồng hàng hóa, nâng giá
trị thu nhập trên diện tích canh tác, phát triển chăn nuôi tiểu thủ công nghiệp.
Cùng với đó, các xã đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân đi xuất khẩu lao
động nước ngoài và trong các công ty, xí nghiệp.
Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, kết hợp với chương
trình lồng ghép, kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư, sau hơn 3 năm, xã làm điểm
xây dựng nông thôn mới và đã huy động được 272 tỷ đồng xây dựng các công

Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại
cho 600 nái cơ bản bao gồm: 3 chuồng đẻ (mỗi chuồng có 56 ô), 1 chuồng nái
chửa (mỗi chuồng có 600 ô), 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, cùng một
số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng,
phòng pha tinh, kho thuốc...


6

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ
thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8
quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2
quạt đối với chuồng đực. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính. Mỗi cửa sổ có
diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm. Trên trần được
lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh.
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy
đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng
liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác.
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều
được đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước
uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 3 và
chuồng nái chửa 1. Nước phục vụ cho các công tác khác như nước tắm, nước
xả gầm... được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể
chứa ở giữa các chuồng.
* Tình hình sản xuất của Doanh nghiệp
- Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của Doanh nghiệp là sản xuất con giống và chuyển
giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,40 - 2,45 lứa/năm.

Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trang trại thực hiện
nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cho đàn lợn
luôn đạt 100 %.
- Công tác trị bệnh
Cán bộ kỹ thuật của trang trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn
thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được phát hiện sớm,
cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90 %.
- Thuận lợi
Trang trại được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã tạo điều kiện và
được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông.


8

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt
tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép
kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
- Khó khăn
Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh
lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng.
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý
nước thải của trại còn nhiều khó khăn.
2.2. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.2.1. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và cơ
bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống. Theo

trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh mạch bạch huyết và mô liên
kết. Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào, tầng ngoài cùng là
những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt
buồng trứng.
* Ống dẫn trứng (vòi fallop)
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp
gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng. Căn cứ vào chức
năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
- Tua diềm: có hình giống như tua diềm.
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng.
- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm
- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung. Ống
dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo
hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời.


10

* Tử cung (Uterus)
Ở lợn, tử cung thuộc loại hình sừng kép, các sừng gấp nếp hoặc quấn
lại và có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn lại. Độ dài này
thích hợp cho việc mang nhiều thai. Cả hai mặt của tử cung được đính vào
khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng.
- Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và
niệu đạo trong xoang chậu. Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2
sừng thông với một thân và cổ tử cung. Sừng tử cung dài 40-65cm. Thân tử
cung dài 5cm. Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp
theo chiều dài răng lược thông với âm đạo.
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng. Nội mạc tử cung
và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản. Gồm:

mới vào âm đạo. Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trước màng trinh
là âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo. Màng trinh có các sợi cơ đàn
hồi giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến,
các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức
năng tiết ra dịch nhầy.
2.2.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Sự thành thục về tính
+ Sự thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt
đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục.
+ Các giống khác nhau có thời gian thành thục về tính khác nhau: lợn
nội là 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), lợn ngoại là 6 - 7 tháng tuổi (180 210 ngày).
+ Các yếu tố ảnh hưởng tới sự thành thục về tính:
- Giống: Lợn lai có tuổi thành thục đầu tiên muộn hơn lợn nội, lợn
ngoại động dục lần đầu muộn hơn lợn lai.
Phạm Hữu Doanh (1985) [5] cho rằng, các giống lợn nội có độ tuổi
thành thục về tính vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi). Trong khi đó


12

tuổi động dục ở lợn ngoại là từ 6 - 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội × ngoại)
thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi.
- Chế độ dinh dưỡng: lợn được nuôi trong điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng
tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn nuôi trong điều kiện dinh
dưỡng kém.
- Mùa vụ: Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục muộn hơn so với mùa
thu - đông.
- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông tuổi thành thục sẽ chậm.

Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử được hình thành
thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái có thai và cho đến khi đẻ một khoảng
thời gian gia súc cái mới động dục trở lại.
- Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày)
Ở giai đoạn này con vật dần trở lại trạng thái bình thường, các phản xạ
hưng phấn về sinh dục mất hẳn con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu
khó ăn uống. Thời kỳ này buồng trứng đã xuất hiện thể vàng tiết progesteron
để ức chế động dục, cổ tử cung đóng lại.
- Giai đoạn yên tĩnh
Đây là giai đoạn thể vàng hoạt động, thường khởi đầu vào ngày thứ 4
sau khi rụng trứng và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy. Cơ quan sinh dục trở
lại trạng thái sinh lý bình thường. Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để
phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng cho hoạt động của
chu kỳ tiếp theo.
* Thời điểm phối giống thích hợp
Trứng rụng vào ống dẫn trứng và có khả năng thụ thai trong thời gian 8
- 10h kể từ sau khi rụng. Tinh trùng sống trong đường sinh dục cái còn khả
năng thụ tinh 34 - 72h. Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái
ngoại và lợn nái lai là cho phối giống vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4
tính từ lúc bắt đầu động dục. Đối với lợn nái nội sớm hơn một ngày vào cuối
ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục của lợn nái nội ngắn
hơn, cần cho phối 2 lần ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khoá đuôi” của
thời kỳ rụng trứng.


14

* Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng
sinh sản của gia súc cái. Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên

Sau 12 ngày màng nhung niệu được hình thành.
Ở cuối giai đoạn này, một số cơ quan trao đổi chất như: đầu, hố mắt,
tim, gan.... hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh.
Trong giai đoạn này cần chăm sóc nái mẹ cẩn thận, tránh những tác
động mạnh tới cơ thể nái mẹ không cho ăn những thức ăn ôi thiu không hợp
vệ sinh.... giảm khả năng sảy thai ở lợn mẹ.
- Giai đoạn tiền thai (23 – 39 ngày)
Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra
mạnh mẽ hơn để hoàn chỉnh các cơ quan mới. Ở cuối thời kỳ này hầu hết các
cơ quan đã cơ bản được hình thành.
- Giai đoạn bào thai (40 – 114 ngày)
Đây là giai đoạn phát triển mạnh nhất của bào thai các cơ quan bộ phận
dần được hoàn chỉnh. Quá trình trao đổi chất của bào thai diễn ra mãnh liệt.
Khối lượng bào thai tăng mạnh, đặc biệt từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển
rất mạnh.
Nguyễn Xuân Tịnh (1996) [32] cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh
trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hoá giữa
tinh trùng và trứng. Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen
khác nhau. Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày. Khi mang thai
thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố progesterone ức chế sự phát triển của bao
noãn. Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng. Thời gian
chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
+ Chửa kì I: Là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên.
+ Chửa kì II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ.
Theo Trương Lăng (2003) [13], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện
hai tai biến:
+ Toàn bộ các thai chết gây sẩy thai.


16


17

phần ăn đầy đủ chất dinh dưỡng. Cai sữa sớm lợn con ở 21 – 28 ngày nhằm
nâng cao sản lượng sữa, giảm tỷ lệ hao mòn và tăng khả năng sinh sản của lợn
mẹ (Nguyễn Văn Thiện (1996) [30]).
2.2.3. Sinh lý lâm sàng
* Thân nhiệt:
Nhiệt độ thân thể gọi tắt là thân nhiệt, là một hằng số hằng định sinh
học ở các động vật cấp cao như động vật có vú, người.
Trong điều kiện chăn nuôi giống nhau, thân nhiệt của gia súc non bao
giờ cũng cao hơn thân nhiệt của gia súc trưởng thành và gia súc già: ở con cái
cao hơn con đực. Trong một ngày đêm, thân nhiệt thấp nhất lúc sáng sớm (1 5h sáng), cao nhất vào buổi chiều (16h - 18h)
Thân nhiệt của lợn trong điều kiện sinh lý bình thường dao động trong
khoảng 38,5 - 39,50C.
* Sốt:
Sốt là phản ứng toàn thân đối với các tác nhân gây bệnh mà đặc điểm
chủ yếu là thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường. Quá trình chủ
yếu là do tác động của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được
hình thành trong quá trình sinh bệnh. Những chất đó chủ yếu là protein hay
sản phẩm của nó (Hồ Văn Nam và Nguyễn Văn Thanh, (1997) [22]). Một số
kích tố như adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu trương đều có
thể gây sốt.
* Tần số hô hấp:
Tần số hô hấp là số lần thở trên phút, nó phụ thuộc vào cường độ trao
đổi chất, tuổi, tầm vóc. Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần
số hô hấp tăng hơn. Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động
vật có thể vóc lớn. Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường
cũng ảnh hưởng đến nhịp thở. Tần số hô hấp bình thường dao động trong
khoảng 8 - 18 lần/phút.

tinh làm tổn thương niêm mạc tử cung).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status