Nghiên cứu bệnh lợn con phân trắng và biện pháp phòng trị tại trại nguyễn thanh lịch huyện ba vì hà nội - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN VĂN QUANG

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BỆNH LỢN CON PHÂN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỊ TẠI TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH,
HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2012 - 2016

Thái Nguyên, năm 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN VĂN QUANG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BỆNH LỢN CON PHÂN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỊ TẠI TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH,
HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Tôi xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Thanh Lịch cùng toàn thể anh
em kỹ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong
suốt quá trình thực tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực
tập tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa
vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi
sai sót.
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến
thức của tôi ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công
việc sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2016
Sinh viên
Trần Văn Quang


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Khẩu phần ăn cho đàn lợn ............................................................ 30
Bảng 4.2. Kết quả phục vụ sản xuất................................................................ 37
Bảng 4.3. Tình hình đẻ của đàn lợn nái .......................................................... 38
Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu sinh sản của 2 loại lợn nái ..................................... 39
Bảng 4.5. Một số chỉ tiêu khối lượng lợn con của các loại lợn nái ................ 41
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo các tháng ........................ 42
Bảng 4.7. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo tính biệt .......................... 43
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con ....................................... 44


iv

MỤC LỤC
Trang
LỜI CÁM ƠN .......................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ......................................................... iii
MỤC LỤC .............................................................................................. iv
Phần 1: MỞ ĐẦU................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................ 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài .......................................................... 1
1.2.1. Mục tiêu của đề tài .................................................................................. 1
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 1
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................... 2
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ............................................................. 2
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập ..................... 2
2.1.2. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở .......................................... 3
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài
nước có liên quan đến nội dung đề tài ............................................ 4
2.2.1. Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ ....................................................... 4
2.2.2. Sinh lý tiết sữa của lợn nái ...................................................................... 9
2.2.3. Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ ................................... 13
2.2.4. Đặc điểm bệnh phân trắng lợn con ....................................................... 16
2.2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................ 24
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ........................................................................... 26
3.1. Đối tượng ....................................................................................... 26
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ...................................................... 26
3.3. Nội dung tiến hành ......................................................................... 26

1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một ngành có truyền thống lâu đời và phổ biến ở một
nước nông nghiệp như Việt Nam. Đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn chiếm vị trí
quan trọng trong ngành chăn nuôi và gắn bó mật thiết với bà con nông dân.
Đây là nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị với tỷ trọng cao và chất lượng tốt
cho con người, ngoài ra còn là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt,
cung cấp nguyên liệu cho sản xuất biogas làm nguyên liệu đốt và là nguồn
cung cấp các sản phẩm phụ như: da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến.
Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn cần có sự đầu tư về phương tiện
kỹ thuật, giống, thức ăn, công tác thú y để hạn chế dịch bệnh, nâng cao hiệu
quả sản xuất. Muốn đảm bảo giống tốt thì cần nâng cao chất lượng chăn nuôi
lợn nái sinh sản để có đàn con sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao.
Bên cạnh đó cũng cần đảm bảo lợn con nuôi thịt phải có chất lượng tốt, đạt
khối lượng tiêu chuẩn, sức đề kháng cao.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất, được sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự
giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu bệnh lợn con phân trắng và biện pháp phòng trị tại trại
Nguyễn Thanh Lịch, huyện Ba Vì, Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
Có các số liệu về tình hình đẻ của đàn lợn nái tại trại và tình hình mắc
bệnh phân trắng ở lợn con.
1.2.2. Yêu cầu
- Hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con và phương pháp phòng trị bệnh.
- Hiệu quả của thuốc dùng trong điều trị.


2


trưởng và 15 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm
cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này.
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng
chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích
cực. Trang trại đã chủ động liên hệ với cơ sở thú y địa phương tổ chức tiêm
phòng đầy đủ cho đàn lợn. Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối
tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày. Để phòng
tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt. Mọi nhân viên
trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát
trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng.
Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun
thuốc sát trùng xuống nền chuồng. Xung quanh trạng trại được trồng cây
xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn
sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn
thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và
bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng. Nguồn nước thải rửa
chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải.
2.1.2. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1. Đối tượng sản xuất
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là lợn L11 và
CP909 và DUROC. Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng.
2.1.2.2. Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Thanh Lịch là một trong những
trang trại có quy mô lớn . Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật
vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao. Dưới đây là một số chỉ
tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:


4



91,85

92,34

93,25

Tổng số lợn con sinh ra (con)

22.725

23.615

12.324

Tổng số lợn con sinh sống (con)

21.958

22.886

11.944

767

729

380

21.151


thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và
nâng cao được sức sống của lợn con.
Trước tiên là khâu trực đẻ phải đảm bảo để tỷ lệ số con sơ sinh còn
sống cao nhất, đây là công việc rất cần thiết, lợn con đẻ ra được lau khô bằng
vải xô mềm sạch theo trình tự miệng, mũi, đầu, mình, bốn chân. Sau đó cắt
rốn, sát trùng và cho vào lồng úm. Tiếp theo với tiến hành bấm nanh, bấm số
tai và thiến lợn đực. Lưu ý cho lợn con bú sữa đầu.
Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm
hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp.
- Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn
về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể
mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài. Do vậy nếu
nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp.
Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn. Lợn
mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa
hồi phục, nên dễ đè chết lợn con. Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai
đoạn này để giảm tỷ lệ chết.
- Thời kỳ 3 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn
mẹ gây nên. Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở
giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi
đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng,
phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn
này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi.
- Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,
do yếu tố cai sữa gây nên. Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ


đồng đều của đàn lợn con rất thấp, trường hợp những con lợn yếu không tranh


7

bú được sẽ bị đói làm cho tỷ lệ chết của lợn con cao. Khi cố định đầu vú, nên
ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú ở những vú phía trước ngực. Công
việc này đòi hỏi kiên trì, tỉ mỉ, bắt từng con cho bú và để chúng quen hẳn với
vị trí bú thì mới thôi. Cũng có những trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú
thì những lợn bú ở những vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen với 2 vú,
để tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh teo vú của lợn mẹ.
Bổ sung sắt cho lợn con:
Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con
tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con
cần được bổ sung thêm sắt.
Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 30 ngày đầu sau đẻ là 210
mg/ngày. Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt 10 - 20 mg/ngày,
lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con
cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt. Trong thực tế thường cung cấp thêm
200 mg (Bertschinger. H. U. et al (1979) [16]
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh. Việc tiêm
sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động. Nếu cai sữa
lợn con ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ. Nếu cai sữa sau 3 tuần
tuổi, nên tiêm 200 mg sắt chia làm 2 lần, lần 1 tiêm lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm
lúc 10 - 13 ngày tuổi. Trại lợn của ông Nguyễn Thanh Lịch tiến hành cai sữa
cho lợn con lúc 21 ngày tuổi nên chúng tôi bổ sung sắt một lần.
Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng
Hemoglobin giảm. Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn
con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn có khi tử vong.
Có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm hoặc cho ăn nhưng người ta thường

ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử
dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg.


9

Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm
ngon, vệ sinh sạch sẽ. Với chuồng lợn nái đẻ cũi, máng tập ăn để ở ngăn lợn
con. Với chuồng lợn nái nuôi con nền truyền thống thì máng tập ăn để vào ô
sưởi ấm lợn con. Rắc thức ăn vào máng ít một và nhiều lần trong ngày để
thức ăn luôn mới, mùi thơm hấp dẫn cho lợn con ăn.
Nếu tập đều đặn thì 20 ngày tuổi thì lợn con đã biết ăn tốt. Nếu không
được tập ăn thì đến 30 ngày tuổi lợn con mới ăn thêm được nhiều, nhưng còn
tùy thuộc vào lượng sữa của mẹ, nếu sữa lợn mẹ ít thì lợn con tự biết ăn sớm
hơn và ngược lại.
Nếu cho rằng lợn mẹ là một đơn vị sản xuất lợn thì việc chăm sóc lợn
con từ lúc đẻ đến lúc cai sữa được cải thiện, sẽ làm tăng số lợn con cai sữa/
lợn mẹ/ năm. Bình quân người chăn nuôi thiệt hại hơn 25% lợn con còn sống
lúc sơ sinh đến trước lúc cai sữa. Hơn 42% số lợn con sống bị hao hụt trước
cai sữa đã chết vì đói hoặc dẫm đạp. Việc quản lý tốt sẽ làm giảm số lợn chết
và có thể tăng thêm 2 lợn con cai sữa/ lợn mẹ/ năm.
2.2.2. Sinh lý tiết sữa của lợn nái
2.2.2.1. Sự tiết sữa của lợn nái
Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý
phức tạp, do có đặc điểm khác với các gia súc khác là bầu vú của lợn nái
không có bể sữa nên ở lợn nái không có sự dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy
lợn mẹ không tiết sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú
được sữa lợn mẹ.
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích
thích vào bầu vú gây nên. Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và

protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường. Trong sữa đầu lượng vật
chất khô đạt 22,30% cao hơn so với sữa thường chỉ có 16,60%. Hàm lượng
protein cũng cao hơn (11,15% so với 6,8%), tuy nhiên hàm lượng khoáng,
chất béo và đường lactose lại thấp hơn.


11

Đặc biệt trong sữa đầu còn nhiều kháng thể gama globulin và các chất
khác bảo vệ lợn con mới đẻ chống lại sự tấn công của các virut, vi khuẩn gây
bệnh. Lượng gama globulin chiếm khoảng 50% tổng protein của sữa đầu, sau
đó giảm dần. Khả năng hấp thụ gama globulin của lợn con chỉ xảy ra trong
những giờ đầu sau khi sinh
Sản lượng sữa của lợn mẹ trong vòng 5 ngày đầu sau đẻ là 4,55 kg/
ngày, năng lượng là 1202 Kcal/kg, lượng vật chất khô, khoáng, chất béo và
đường lactose là 19,2; 0,47; 6,41; 6,88 và 5,16% theo thứ tự.
2.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như
giống, cá thể, tuổi và lứa đẻ, thức ăn dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng…
- Giống và cá thể:
Các giống lợn khác nhau khả năng tiết sữa khác nhau. Các giống lợn
được cải tạo có năng xuất sữa cao hơn các giống lợn chưa được cải tạo. Ví dụ
như lợn Ỉ có sản lượng sữa bình quân là 20,1 - 25 kg, lợn Đại Bạch nuôi tại
Việt Nam có sản lượng sữa bình quân là 40 - 50 kg.
Thể trạng của lợn mẹ cũng ảnh hưởng đến khả năng suất sữa trong thời
kỳ đầu của quá trình tiết sữa. Lợn mẹ gầy yếu thì khả năng tiết sữa kém hơn
lợn mẹ có thể trạng trung bình. Chúng ta có thể tăng lượng thức ăn cho lợn
mẹ trong những ngày đầu tiên sau đẻ, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được ăn
mức ăn cao chỉ có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượng sữa
( Glawsschning E. Bacher H (1992), [18]. Đối với lợn có thể trạng trung bình,

Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình có chửa và tiết sữa có ảnh
hưởng đến thành phần hóa học của sữa . Quá trình hình thành các chất dinh
dưỡng của sữa lợn mẹ được thông qua quá trình tổng hợp, một số thông qua
quá trình chọn lọc và một số chuyển thẳng trực tiếp vào máu. Hàm lượng các
vitamin của sữa phụ thuộc vào hàm lượng vitamin trong thức ăn và cả lượng
vitamin dự trữ ở gan hoặc các tế bào. Trích theo Laval A (1997)[20]
Kỹ thuật chăm sóc, quản lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết
sữa của lợn nái, các tác động không thích hợp như đánh đuổi lợn, gây tiếng


13

động mạnh trong khu vực chuồng lợn nái nuôi con… đều gây ức chế quá trình
tiết sữa của lợn nái. Ngoài ra, nếu chăm sóc không chu đáo dễ gây cho lợn mẹ
các bệnh như viêm vú, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng sữa.
2.2.3. Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
Sau khi lợn nái sinh sản xong thì bên cạnh việc chăm sóc cho lợn mẹ để
đảm bảo sức khỏe tốt thì việc chăm sóc quản lý lợn con là hết sức quan trọng,
đây là chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế. Lợn con theo mẹ sức
đề kháng bệnh tật chưa cao, dễ cảm nhiễm bệnh, trong đó bệnh phân trắng lợn
con xảy ra rất phổ biến. Chính vì thế mà công tác phòng và trị bệnh phân
trắng lợn con rất được chú trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản.
2.1.3.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa
Lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh.
Lợn con hay gia súc nói chung đều có thời kỳ bào thai phát triển tốt thì
sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau. Nhìn chung khả năng phát triển của
lợn nhanh hơn so với một số loài gia súc khác. Khối lượng khi cai sữa của lợn
2 tháng tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê, nghé
chỉ tăng 3 - 4 lần.
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [9], lợn con trong giai đoạn bú sữa

con mới sinh ta thấy:
+ Men pepsin: Đây là men quan trọng để tiêu hóa thức ăn, nhưng nếu
không cho lợn con tập ăn sớm thì khoảng 25 ngày đầu mới đẻ ra, men pepsin
trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, vì lúc này
dịch vị dạ dày còn chưa có HCl tự do sẽ không kích hoạt được pepsinogen
thành men pepsin hoạt động. Do thiếu HCl nên lợn con rất dễ bị vi khuẩn có
hại xâm nhập vào đường tiêu hóa gây bệnh.
+ Men amilaza và mantaza: Có trong nước bọt và dịch tụy của lợn con
từ lúc mới đẻ, nhưng hoạt động kém trước 3 tuần tuổi, chỉ tiêu hóa học được
50% lượng tinh bột ăn vào, sau 3 tuần tuổi hoạt đông của men này mới mạnh
lên thì khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con mới tốt hơn.


15

+ Men Saccaraza: hoạt lực của men này kém dưới 2 tuần tuổi, nếu cho
lợn con ăn Saccaraza rất dễ bị tiêu chảy.
+ Men tripsin: Là men tiêu hóa protein của thức ăn, ở thai lợn trong hai
tháng tuổi đã có men tripsin, thai càng lớn hoạt tính của men này càng cao.
Khi mới đẻ ra, men tripsin của dịch tụy rất cao, để bù đắp lại khả năng tiêu
hóa kém protein của men pepsin trong dạ dày.
+ Men Catepsin: Là men tiêu hóa protein trong sữa, lợn con ở 3 tuần
tuổi đầu men này có hoạt tính mạnh, sau đó giảm dần.
+ Men Lactaza: Có tác dụng tiêu hóa đường Lactose trong sữa, men
này có hoạt tính mạnh từ khi lợn mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ
hai, sau đó giảm dần.
+ Men Lipaza và Chymosin: Hai men này có hoạt lực mạnh trong 3
tuần đầu sau đó giảm dần.
2.2.3.2. Khả năng đáp ứng miễn dịch ở lợn con
Lợn con mới đẻ, lượng kháng thể tăng nhanh sau khi bú sữa đầu từ lợn

Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh và giai đoạn bú sữa
mẹ. Tỷ lệ mắc bệnh từ 50 - 100%, trong đó tỷ lệ chết có thể là 60 - 70% nếu
không can thiệp kịp thời. Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng phát triển mạnh nhất
là khi thời tiết thay đổi đột ngột.
* Đặc điểm dịch tễ của bệnh
Bệnh phân trắng lợn con xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn lợn con theo
mẹ, đặc biệt từ sơ sinh đến 30 ngày tuổi. Bệnh xảy ra quanh năm, đặc biệt khi
thời tiết thay đổi, nóng ẩm thất thường... Lợn cái sơ sinh dễ nhiễm bệnh hơn
lợn đực.
- Chất chứa vi khuẩn:
Vi khẩn có trong dụng cụ chăn nuôi, chất tiết, nước tiểu, phân... của
con bị bệnh. Ngoài ra còn có trên bầu vú của lợn mẹ không được vệ sinh tốt.
Bệnh xảy ra với các đàn lợn đẻ lần đầu, lợn nái chửa không được chăm sóc
đầy đủ, chuồng trại không đảm bảo.
Bệnh thường xảy ra ở thể viêm ruột, viêm dạ dày cấp tính đối với lợn
con, đặc trưng là ỉa chảy màu hơi vàng sau đó chuyển sang màu trắng.


17

- Đường xâm nhập:
Lợn con bị nhiễm bệnh chủ yếu qua đường tiêu hóa, môi trường
chuồng nuôi ô nhiễm, lượng vi khuẩn vượt quá khả năng bảo hộ của kháng
thể có trong sữa mẹ làm lợn con bị nhiễm bệnh.
- Cơ chế sinh bệnh:
E. coli từ môi trường bên ngoài vào theo đường ăn uống. Khi có đủ
điều kiện thuận lợi vi khuẩn sẽ nhân lên với số lượng lớn và sản sinh các yếu
tố kháng khuẩn Colicin V, yếu tố này bị tiêu diệt hoặc hạn chế sự phát triển
của các vi khuẩn đường ruột khác, đặc biệt là vi khuẩn có lợi và trở thành vi
khuẩn có số lượng lớn trong đường ruột, cường độ độc và tác động gây bệnh.

đến ngày thứ 15, từ ngày thứ 20 lượng sữa mẹ giảm đột ngột khi nhu cầu về
sữa của lợn con ngày một tăng. Do vậy nếu không cung cấp đủ dinh dưỡng
cho lợn mẹ thì lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa.
Bệnh phân trắng lợn con có liên quan chặt chẽ tới phản ứng thích nghi của
cơ thể đối với các yếu tố stress, biểu hiện qua sự biến động về hàm lượng một số
thành phần trong máu: Đường huyết, sắt, kali... (Sử An Ninh, 1993) [7].
* Triệu chứng lâm sàng
Lợn con mắc bệnh lúc đầu vẫn bú bình thường nhưng sau đó giảm dần,
khi nặng kèm theo triệu chứng sốt. Lúc đầu con vật đi táo, phân rắn như hạt
đỗ xanh, thường có màu vàng nhạt, dần dần chuyển sang ỉa chảy, phân vàng
hoặc lỏng dính vào mông, khoeo chân sau. Sau đó do sữa không được tiêu
hóa nên con vật đi ỉa phân trắng.
Lợn con bị bệnh khát nước, tìm nước bẩn để uống làm bệnh nặng thêm
nếu không đảm bảo đủ nước sạch cho lợn con.
Đôi khi lợn nôn ra sữa không tiêu hóa có mùi chua, bệnh kéo dài 2 - 4
ngày, lợn suy nhược nhanh chóng, co giật, run rẩy, rồi chết.
Nhiều con có dử ở mắt, có vùng thâm quầng, lợn suy dinh dưỡng, nằm
dài, khó đứng dậy, nếu không chữa kịp thời lợn chết sau 1 tuần.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status