Nghiên cứu tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng và biện pháp phòng trị bệnh tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––

NGUYỄN QUÝ LONG
Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH
PHÂN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ
TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo :
Chuyên ngành:
Khoa
:
Khóa học
:

Chính quy
Chăn nuôi thú y
Chăn nuôi thú y
2012 - 2016

THÁI NGUYÊN - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––

thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập
của tất cả các trường đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên nói riêng. Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống
hoá toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn
sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và
tiễn hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực
tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi
ra trường trở thành một người cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu
thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Được sự nhất trí của Ban chủ nghiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại
học Nông lâm Thái Nguyên, của thầy giáo hướng dẫn và trạm Thú y Đồng
Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Qua thời gian thực tập tại đây em đã được vận dụng các
kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, học hỏi được nhiều kinh nghiệm
trong thực tiễn từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được các phương
pháp tổ chức và tiến hành công tác nghiên cứu, tạo cho mình tác phong làm
việc đúng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một cán bộ chuyên môn
giỏi, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.
Do bước đầu làm quen với đề tài nghiên cứu nên chuyên đề tốt nghiệp
của em không tránh khỏi thiếu sót. Em mong nhận được sự đóng góp của các
thầy cô giáo và các bạn để bản báo cáo của em được hoàn thiện hơn, em xin
trân trọng cảm ơn !
Sinh viên
Nguyễn Quý Long


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Kết quả tỷ lệ mắ c bê ̣nh lơ ̣n con phân trắ ng ta ̣i tại một số xã của
huyện Đồng Hỷ ............................................................................... 35

: Thể trọng

Cs

: Cộng sự


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 1
1.3. Ý nghĩa của đè tài ....................................................................................... 1
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát tiển của lợn con trong thời gian theo mẹ ...... 4
2.1.2. Đặc biểm phát triển của cơ quan tiêu hoá ............................................... 5
2.1.3. Đặc điểm sinh lí của lợn con ................................................................... 9
2.1.4. Đặc điểm về tiêu hóa của lợn con ......................................................... 10
2.1.5. Hệ sinh vật trong đường ruột của lợn con ............................................. 10
2.1.6. Khả năng miễn dịch của lợn con ........................................................... 12
2.1.7. Nguyên nhân gây bệnh phân trắng ở lợn con ....................................... 13
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 21
2.2.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước .......................................................... 21
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 22

đóng một vai trò quan trọng trong mắt xích phát triển kinh tế của huyện. Để
hạn chế dịch bệnh thì công tác tiêm phòng và trị bệnh cho đàn vật nuôi nói
chung luôn được quan tâm . Tuy nhiên trong chăn nuôi lợn bên cạnh những
dịch bệnh nhiễm gây ảnh hưởng, tổn thất lớn cho chăn nuôi nói chung trong
đó có chăn nuôi lợn như : dịch tả, tụ huyết trùng, tai xanh… thì một trong
những bệnh thường gặp và gây tổn thất đáng kể cho người chăn nuôi lợn nái
sinh sản đó là bệnh phân trắng lợn con. Bệnh hay gặp ở giai đoạn lợn con
bú sữa. Để hiểu thêm một phần về tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con và
hiệu quả của một số thuốc dùng trong điều trị bệnh này, chúng em tiến hành
thực hiện đề tài
“Nghiên cứu tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng và biện pháp
phòng trị bệnh tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
-Xác định được tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng tại một số địa điểm
nghiên cứu
- Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi
- Tình hình mắc bệnh phân trắng qua các tháng trong năm.
- Triệu chứng lâm sàng , bệnh tích lợn mắc phân trắng
- Hiệu quả điều trị của thuốc
* Một số biện pháp điều trị.
1.3. Ý nghĩa của đè tài
* Ý nghĩa trong khoa học
- Nắm được nguyên nhân, cơ chế của bệnh phân trắng ở lợn con


2

* Ý nghĩa trong thực tiễn
- Trên cơ sở tìm hiểu được nguyên nhân và cơ chế của bệnh phân trắng
ở lợn con tiến hành điều trị bệnh hạn chế tổn thất cho người chăn nuôi

Clostridium perfringens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở
lứa tuổi 1 đến 14 ngày tuổi, đặc biệt xảy ra trầm trọng ở 1 đến 7 ngày tuổi, tỷ
lệ chết cao (50%), bệnh lây nhiễm qua phân.


4

Tiêu chảy ở lợn con do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện
ở 2 dạng là bại huyết và thần kinh. Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng
viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn
trước trực tràng phình to.
Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối
với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể. Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các
mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo
vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh. Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con
lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình
tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém. Do
vậy, các mầm bệnh như E.coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh.
Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, profecdin và lysozim được
tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém. Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu
là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều globulin miễn dịch, bảo vệ cơ
thể lợn con chống lại mầm bệnh. Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú
sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian
24- 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên
Tuy nhiên còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh
vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng. Việc cân bằng khu hệ
vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong
quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng. Sử dụng
chế phẩm sinh học để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con là rất cần thiết.

Hàm lượng protein cũng cao hơn 11,15% so với 6,80% sữa thường. Đặc biệt
sữa đầu chứa nhiều kháng thể ‫ ﻻ‬- globulin có vai trò bảo vệ lợn con mới để
chống lại sự tấn công của các virut, vi trùng gây bệnh. Lượng ‫ ﻻ‬- globulin
chiếm khoảng 50% tổng số protein sữa đầu. Hệ thống enzyme trong dịch vị
đã có từ khi lợn con mới sinh, nhưng trước 20 ngày tuổi chưa có khả năng
tiêu hoá bởi thiếu HCl. Hoạt tính của enzyme pepsin tăng dần theo độ tuổi. Ở
9 ngày tuổi tiêu hoá 30mg fibrin trong 19 giờ, 28 ngày tuổi chỉ cần 2 - 3 giờ,


6

đến 50 ngày tuổi chỉ cần 1 giờ là tiêu hoá hết. Khi bổ sung 3g pepsine và
500mg HCl 0,4% vào thức ăn cho lợn 3 - 4 tháng tuổi sẽ kích thích tiết dịch vị
và tăng sưc tiêu hoá của lợn con (Trương Lăng, 1994) [7]. Khả năng đông tụ
sữa của dịch vị lợn con cũng thay đổi theo tuổi, lượng chymozine cũng tăng
lên trước một tháng tuổi sau đó sẽ giảm dần. Khả năng miễn dịch của lợn con
thường được đánh giá ở nồng độ ‫ ﻻ‬- globulin trong máu lợn con.
Do lợn được bú sữa đầu nên hàm lượng globulin tăng vào lúc 2 ngày
tuổi, sau đó giảm dần. Sau đó hàm lượng ‫ﻻ‬- globulin lại tiếp tục tăng do miễn
dịch chủ động đã thay thế miễn dịch thụ động.
Kháng thể còn thấy ở dịch mô bào nên nồng độ ‫ ﻻ‬- globulin trong máu
thấp ở tuần 3 - 6 không thể nói hoàn toàn thiếu kháng thể. Lợn con có thể thụ
được miễn dịch thụ động một cách hiệu quả cao khi lợn con bú được nhiều
sữa đầu. Hàm lượng ‫ ﻻ‬-globulin có thể hấp thu trực tiếp ở ruột non trong vòng
36 giờ đầu mà không mất hoạt tính miễn dịch. Khả năng miễn dịch của lợn
con phụ thuộc vào số lượng ‫ ﻻ‬- globulin hấp thu được. Vì vậy cho lợn con bú
sữa đầu là vô cùng quan trọng để tăng sức đề kháng của cơ thể.
Hoạt tính của các enzyme pepsin, chymotrypsin, trypsin và axit HCl
tăng lên rất cao đặc biệt khi lợn con bắt đầu vào tuổi cai sữa, Enzyme phân
giải cacbohydrat phát triển không đồng đều. Lactase cao lúc đầu sau đó giảm

tinh bột ăn vào. Đối với thức ăn tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém.
Cho nên các loại thức ăn cần được nấu chín trước khi cho lợn con ăn. Sau 3
tuần tuổi, men amylaza và maltaza mới có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu
hoá tinh bột của lợn con tốt hơn.
+ Men saccaraza: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi men saccaraza hoạt
tính còn thấp cho nên lợn con ăn đường saccaroza thì dễ bị ỉa chảy. Lợn con
dưới 3 tuần tuổi chỉ có một số men tiêu hoá có hoạt tính mạnh như men
trypsin, catepsin, lactaza, lipaza và chymosin.
+ Men trypsin: Là men tiêu hoá protein thức ăn: ở thai lợn 2 tháng đã
có men trypsin, thời kỳ càng lớn hoạt tính của men trypsin càng cao. Khi lợn


8

con mới đẻ ra, men trypsin của dịch tuỵ rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu
hoá kém của men pepsin dạ dày.
+ Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa. Đối với lợn con ở 3
tuần tuổi đầu, men catepsin có hoạt tính mạnh, sau đó hoạt tính giảm dần.
+ Men lactaza: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa. Men này
có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới để ra và tăng cao ở tuần thứ 2, sau
đó hoạt tính của men này giảm dần.
+ Men lipaza và chymosin: Hai men này có hoạt tính mạnh trong 3 tuần
sau đó hoạt tính giảm dần. Nói chung lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hoá
các chất dinh dưỡng trong sữa lợn mẹ có khả năng tiêu hoá thức ăn kém.
Trong khâu nuôi dưỡng chúng ta cần chú ý chế biến thức ăn tốt để nâng cao
khả năng tiêu hoá của lợn con.
Giai đoạn lợn con bú sữa lợn sinh trưởng và phát triển rất nhanh, tầm
vóc và thể trọng tăng dần theo ngày tuổi. Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa trọng
lượng của lượn con tăng từ 10-12 lần. So với các gia súc khác thì trọng lượng
của lợn con tăng lớn nhất hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô

trưởng và tỏa nhiệt của lợn con, nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng
tới quá trình điều tiết thân nhiệt của lợn con. Khi nhiệt độ ngoại cảnh là 1324oC thân nhiệt lơn con sẽ giảm từ 2,5-6,5oC sau 1 giờ và mất 1 giờ mới phục
hồi thân nhiệt trở lại bình thường. Nếu nhiệt độ môi trường
gây bệnh hoặc không gây bệnh, hiếu khí hoặc hiếu khí tuỳ tiện, bao gồm vi
khuẩn sinh axit lactic, vi khuẩn bifidium, một số loại cầu khuẩn đường ruột có
khả năng ức chế và tiêu diệt vi khẩn Salmonella, Proteus vulgaris và các loại
vi khuẩn sinh thối rữa, vi khuẩn Lactobacillus, Bacilus subtilis. Ở gia súc sơ
sinh, chưa hình thành hoặc hình thành không ổn định hệ vi sinh vật có lợi này,
có nghĩa là chưa có vi khuẩn ức chế và tiêu diệt sự xâm nhập của vi khuẩn gây
bệnh đường tiêu hoá.
Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đường ruột là vi khuẩn Salmonella
spp, E.coli, một số chủng Clostridium spp, Shigella. Cho đến nay nhiều công
bố nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non
gồm 3 loại chính là E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfringens.
Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và
chúng xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở
phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ
thể Clostridium perfringens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở lứa


12

tuổi 1 đến 14 ngày tuổi, đặc biệt xảy ra trầm trọng ở 1 đến 7 ngày tuổi, tỷ lệ
chết cao (50%), bệnh lây nhiễm qua phân.
Tiêu chảy ở lợn con do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện
ở 2 dạng là bại huyết và thần kinh. Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng
viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn
trước trực tràng phình to.
2.1.6. Khả năng miễn dịch của lợn con
Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối
với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể. Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các
mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo
vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh. Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con

phối hợp, liên quan đến hàng loạt các yếu tố. Do đó việc phân chia nguyên
nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp điều trị hiệu quả.
* Do đặc điểm sinh lý của lợn con
Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo,
chức năng hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch. Lợn con trước một tháng tuổi không có
HCl tự do trong dịch vị vì lúc này lượng axit tiết ra và nhanh chóng liên kết với
dịch nhầy. Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày - ruột ở lợn
con. Hơn nữa vì thiếu axit HCl nên pepsinogen tiết ra không trở thành pepsin
hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới dạng casein gây rối
loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein chưa được tiêu hóa).
Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt
chưa hoàn chỉnh. Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có
khoảng 1%. Lúc khí hậu thay đổi lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản
nhiệt và thải nhiệt. Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng
loạt ồ ạt khi thời tiết thay đổi thất thường.
Theo Nguyễn Xuân Bình ( 2002) [2] lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến
ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 đột ngột giảm xuống thấp trong khi


14

nhu cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên. Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ
mà thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở
nên suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress.
Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là
do thiếu sắt. Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp. Khi ra
ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể
non yêu cầu. Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40- 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn
con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ. Vì vậy, cần bổ sung thêm ít
nhất là 200- 250mg/con để lợn con tránh thiếu máu. Trong sữa mẹ không

hàm lượng kháng thể đáng kể chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn gây
bệnh, tăng sức đề kháng của cơ thể.
* Do vi trùng, virus, ký sinh trùng và nấm mốc
Do vi khuẩn
Vi khuẩn E.coli
Vai trò của vi khuẩn gây tiêu chảy ở lợn con đã và đang được nhiều
nhà khoa học quan tâm. Nhưng trong đó vi khuẩn E.coli là nguyên nhân quan
trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy của lợn con mới sinh và sau cai sữa .
E.coli là một loại trực khuẩn đường ruột sống ở ruột già, chỉ một vài giờ sau
khi sinh và tồn tại đến khi con vật chết, bệnh lợn con phân trắng là một hội
chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt là viêm
dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh.
Hầu hết E.coli gây bệnh cho ký chủ nhờ yếu tố bám dính và độc tố
đường ruột. E.coli bám dính vào niêm mạc ruột rồi sản sinh độc tố đường
ruột. Các chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hay nhiều kháng nguyên
bám dính, chúng nằm trên Fibriae- một cấu trúc giống sợi lông, xuất phát từ
một đĩa giống trong màng nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn. Chính các
yếu tố bám dính cùng với các độc tố đường ruột đã gây quá trình sinh bệnh
đặc trưng của E.coli.


16

Nguyễn Thị Tài và cs (2000) [13] đã phân lập được các chủng E.coli
gây bệnh phân trắng cho lợn con và đã chọn được 7 chủng E.coli mang các yếu
tố gây bệnh như K88, Enterotoxin, Hly và R để chế tạo vacxin. Vacxin này rất an
toàn (100%) và hiệu lực bảo hộ so với đối chứng đạt 40% đến 59% trên động
vật thí nghiệm.
Vi khuẩn Salmonella
Salmonella có mặt trong thức ăn, nước uống, môi trường thiên nhiên

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của virus.
Một đại diện của virus được chú ý nhiều trong hội chứng tiêu chảy của lợn đó
là Transmissble gastroenteritis virus (TGE). TGE (viêm dạ dày ruột truyền
nhiễm), là một bệnh có tính truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa
và tiêu chảy nghiêm trọng, bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập
trung khi thời tiết rét lạnh.
Virus TGE xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hoá. Virus này gây
bệnh cho lợn ở các lứa tuổi khác nhau, ở lợn virus nhân lên mạnh nhất ở
trong niêm mạc của không tràng rồi đến hồi tràng, chúng không sinh sản
trong dạ dày và kết tràng.
Một số virus như Cornavirus, paravirus, rotavirus và adenovirus đều
có tính hướng đến các tế bào ruột. Các tế bào niêm mạc ruột bị phá huỷ do
lông nhung bị teo dẫn đến sự tiêu hoá và hấp thu kém. Những chất không tiêu
hoá được trong ruột non sẽ kéo theo chất lỏng vào xoang ruột non. Khi được
vận chuyển vào ruột già, một số được tiêu hoá hoặc không tiêu hoá đều có thể
tham gia vào quá trình gây tiêu chảy.
Do ký sinh trùng
Các bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hoá cũng là nguyên nhân dẫn đến
tiêu chảy ở lợn con cũng như ở một số gia súc khác. Nguyên nhân này xảy ra
chủ yếu ở lợn lứa tuổi sau cai sữa, còn lợn con theo mẹ ít gặp hơn vì đa số tỷ
lệ nhiễm ký sinh trùng tăng theo độ tuổi của lợn.
Tác hại của ký sinh trùng là do chúng ký sinh, phát triển trong đường
tiêu hoá, cướp chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết độc tố, quá trình bám dính và di
hành chúng làm tổn thương niêm mạc ruột, giảm sức đề kháng của cơ thể lợn.


18

Tất cả các yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn xâm
nhiễm, bội nhiễm và gây bệnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status