Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học nông nghiệp I
------------------
nguyễn thị hoa
Nghiên cứu rệp sáp hồng
Saccharicoccus sacchari Cockerell hại mía
và biện pháp phòng trừ tại Thanh Hoá
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 60.62.10
Ngời hớng dẫn khoa học: tS. phạm thị vợng
Hà Nội - 2006
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và cha hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đ đợc cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trong luận văn này đ đợc ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Thị Hoa
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
v
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các đồ thị
viii
1. Mở đầu
i
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
3.3. Dụng cụ và vật liệu nghiên cứu
34
3.4. Nội dung nghiên cứu
35
3.5. Phơng pháp nghiên cứu
35
4. Kết quả và thảo luận
42
4.1. Thành phần sâu hại mía
42
4.2. Đặc điểm hình thái và sinh vật học của rệp sáp hại mía
46
4.2.1. Đặc điểm hình thái và sinh vật học của rệp sáp hồng S. sacchari
46
4.3. Đặc điểm sinh thái học của rêp sáp Saccharicoccus sacchari
65
4.3.6. Vai trò của biện pháp bóc lá mía tới sự phát triển của rệp sáp mía
66
4.3.7. Sự gây hại của rệp sáp S.sacchari ảnh hởng đến chất lợng mía
67
4.4. Thiên địch rệp sáp hồng Saccharicoccus sacchari Ckr
68
4.4.1. Thành phần thiên địch rệp sáp hồng hại mía
68
4.4.2. Vai trò của nấm ký sinh đến rệp sáp
70
4.5. Phổ ký chủ của rệp sáp
73
4.6. Biện pháp phòng trừ
74
B§
: BiÕn ®éng
NSP
: Ngµy sau phun
NT
: N«ng tr−êng
NXB
: Nhµ xuÊt b¶n
M§
: MËt ®é
M§TP
: mËt ®é tr−íc phun
Q
: HiÖu lùc
RH
sacchari Ckr.(Viện Bảo vệ thực vật 2006)
49
Bảng 4: Thời gian phát dục rệp non của rệp sáp hồng Saccharicoccus
sacchari Cockerell (Viện bảo vệ thực vật 2006)
50
Bảng 5: Thời gian vòng đời của rệp sáp hồng Saccharicoccus sacchari
Cockerell (Viện Bảo vệ thực vật 2005-2006)
53
Bảng 6: Khả năng sinh sản của rệp sáp hồng Saccharicoccus sacchari tại
Viện bảo vệ thực vật năm (2005-2006)
54
Bảng 7: Diễn biến tỷ lệ hại, chỉ số hại trên giống roc10 (NTHà Trung
Thanh Hoá vụ xuân 2005-2006)
56
Bảng 8: Tình hình gây hại của rệp sáp ở các tuổi mía khác nhau trên giống
roc10 (NT Hà Trung-Thanh Hoá. Vụ Xuân 2005-2006)
62
Bảng 9: Tình hình gây hại của rệp Saccharicoccus sacchari ở các giai
sacchari Ckr vụ mía xuân tại Thanh Hoá 2006
69
Bảng15: Tỷ lệ rệp sáp mía Saccharicoccus sacchari Ckr. bị nấm ký sinh
tại Nông trờng Hà trung năm 2005
Bảng 16: Một số cây ký chủ phụ của rệp sáp hồng hại mía
70
73
Bảng17: Hiệu lực của một số loại thuốc hoá học tại nhà lới Viện bảo vệ
thực vật, năm 2006
77
Bảng 18: Hiệu lực phòng trừ rệp sáp S.sacchari của một số loại thuốc hoá
học ngoài đồng tại Thạch Thành Thanh Hoá, năm 2006
78
Bảng19: Hiệu lực phòng trừ rệp sáp của một số loại thuốc sinh học tại
nhà lới Viện Bảo vệ thực vật 2006
80
Bảng 20: Hiệu lực phòng trừ rệp sáp của một số loại thuốc sinh học
ngoài đồng ruộng (Thạch Thành- thanh Hoá , năm 2006)
81
(Đờng). ở Việt Nam cây mía đang chiếm một vị trí quan trọng trong việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp nông thôn
[12]
Việt nam là nớc nhiệt đới ẩm, có vĩ độ địa lý từ 8-23 vĩ tuyến Bắc là
vùng có khí hậu thích hợp cho cây mía sinh trởng phát triển tốt. Năng suất
tiềm năng có thể đạt trên 200 tấn/ha, cũng nh có trữ lợng đờng cao, do có
mùa khô lạnh vào thời gian mía chín, do vậy cây mía là cây trồng mang lại
hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên theo các số liệu thống kê hàng năm thì năng
suất mía trung bình của nớc ta còn rất thấp.
Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đ đề ra mục tiêu đến
năm 2000 cả nớc đạt 1 triệu tấn đờng, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong
nớc và tiến tới xuất khẩu. Thực hiện chủ trơng này vụ mía năm 1999-2000
cả nớc đ trồng đợc 350.000 ha, tăng 200.000 ha, năng suất bình quân 50,8
tấn/ ha, sản lợng đạt 17,8 triệu tấn, đạt mục tiêu sản suất 1 triệu tấn đờng
vào năm 2000. Nhờ trồng mía tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động với mức
thu nhấp khá (hơn 7 năm trồng mía nông dân vùng mía có thu nhập hơn 3100
tỷ đồng từ bán mía cho các nhà máy và làm các khâu dịch vụ khác) góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo ở nhiều địa bàn nhất là vùng
sâu vùng xa, vùng miền núi, đất đai khô cằn. Chơng trình mía đờng đ
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip -------------------------
1
khẳng định tính đúng đắn về chủ trơng trong việc phát huy nội lực, khai thác
có hiệu quả đất đai tạo ra sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm ngoại
tệ góp phần thực hiện Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
(báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chơng trình mía đờng Bộ Nông nghiệp
& PTNT, tháng 8 năm 2000 [1]
rệp sáp là việc làm khó khăn cho ngời sản xuất vùng nghiên cứu bởi vì; Dân
dùng không đúng thuốc, rệp nằm trong các bẹ lá, nớc phun thiếu, cây mía
cao, dụng cụ phun không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.. dẫn đến đầu t cao cho
công tác phòng trừ rệp, nhng hiệu quả thấp, vừa để lại hậu quả khôn lờng về
môi trờng và cho sức khoẻ cộng đồng.
Sở dĩ có những vấn đề trên là do cho đến nay các nghiên cứu về rệp sáp
hại mía cả về khía cạnh khoa học và ý nghĩa thực tế vẫn còn hạn chế. Vì vậy
việc nghiên cứu hệ thống về sinh học, sinh thái của chúng, trên cơ sở đó
nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phòng trừ có hiệu quả là rất cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, nhằm đóng góp lý luận cho
việc xây dựng chơng trình phòng trừ rệp sáp hại mía chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tàiNghiên cứu rệp sáp hồng Saccharicoccus sacchari
Cockerell hại mía và biện pháp phòng trừ tại Thanh Hoá
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Xác định đợc thành phần sâu hại mía nói chung và rệp sáp mía nói riêng,
đồng thời nắm đợc đặc điểm sinh học sinh thái của loài rệp sáp
Saccharicoccus sacchari Cockerell. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp phòng
chống chúng một cách hợp lý.
1.2.2. Yêu cầu
- Xác định thành phần sâu hại mía, rệp sáp hại mía.
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của rệp sáp hồng S.sacchari
Cockerell.
- Nghiên cứu quy luật phát sinh phát triển của loài rệp sáp S.sacchari
Cockerell gây hại quan trọng trong sản xuất.
- Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phòng chống chúng.
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip -------------------------
3
4
Citri), có chân phát triển, cho nên chúng có khả năng di chuyển, thậm chí giai
đoạn trởng thành không giống nh những loài rệp sáp khác. Điều này nói nên
là rệp sáp mềm dễ dàng lây lan sang các cây bên cạnh. Chúng là loài ăn tạp và
chúng truyền độc tố vào biểu bì và làm phát tán nguồn bệnh và virus.
Trên mía nhóm rệp sáp có thành phần loài phong phú, có 40 loài rệp
khác nhau thuộc họ Coccidae tấn công cây mía ở các vùng khác nhau trên thế
giới. Trong đó rệp S. sacchari đợc tìm thấy ở nhiều vùng trồng mía trên thế
giới Agarwal,R.A. 1960. [38] .
Theo Williiams et al., 2001 [79] tại Cuba có ba loài rệp là Dysmicoccus
boninsis (kuwana), Saccharicoccus sacchari (Cockerel) và Trionymus
radicicola (Morrison) gây hại trên mía. Hiện nay loài thứ 4 Kiritshenkella
sacchari đ đợc ghi nhận thêm trên mía ở nớc này. Loài rệp này phân bố
rộng r i ở châu á và Trung Đông trên cây cỏ và cả trên mía, chúng đợc đa
vào Cuba một cách ngẫu nhiên trên cây giống trong thời gian gần đây.
Williams và Granara de Willink chỉ ra rằng loài rệp Dysmicoccus brevipes
(Cockerell) đa thực có trên mía ở những hòn đảo khác ở Caribbean và ở Nam
Mỹ, nhng không xuất hiện trên mía ở Cuba, mặc dù chúng xuất hiện trên các
cây trồng khác ở đây.
2.1.2. Đặc điểm hình thái của rệp
Khi nghiên cứu đặc điểm sinh học của rệp, tác giả Kosztarab et al.,
1988 [63] cho biết họ Pseudococcidae tên thờng gọi xuất phát từ dịch sáp
sinh ra bởi những lỗ hình đĩa nhng chủ yếu là những lỗ có 3 ô khi đẻ trứng
rệp thờng sản sinh ra những túi trứng do những sợi tơ bông hình thành. Con
cái trởng thành : thờng dạng hình trứng, có đầu, ngực và bụng gắn liền
nhau, màng cutin là màng manbran, màu sắc cơ thể khác với các loài khác
thờng là màu vàng nhạt, xám hoặc hồng. Râu 2-9 đốt, giảm 1-3 đốt đối với
đốt, lng có những lỗ nhỏ, bụng có ngấn dạng vòng. Trởng thành cái hình
trứng, chậm chạp. Trởng thành đực trông giống nh con muỗi nhỏ, có một
đôi cánh có thể bay tới con cái, phần miệng của chúng teo lại và không ăn.
Con cái rệp sáp giả có kiểu miệng hút dài thích hợp với việc hút nhựa cây.
Robert M. [73] khi nghiên cứu về rệp sáp hồng S.sacchari cho biết
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip -------------------------
6
trởng thành cái có hình ô van dài hoặc tròn, dài khoảng 7 mm. Các thuỳ hậu
môn phát triển vừa phải, mỗi thuỳ có một lông cứng ở đỉnh ngọn dài khỏang
350 mn, trên bề mặt bụng thuỳ hậu môn. râu có 7 đốt dài từ 310-380 mn,
chân phát triển bình thờng và mảnh.
Theo William D. [80] cũng có nhận xét tơng tự; rêp sáp hồng hại mía
Saccharicoccus sacchari Cockerell có cơ thể hình ô van, dài khoảng 7 mm,
nhìn nghiêng có hình dạng lồi, màu hồng, phủ lớp sáp tạo lên màu trên toàn
bộ cơ thể không để hở vị trí nào trên lng. Túi trứng ở phía bụng, thờng
không có những lông nhỏ ở mặt bên, duy chỉ có một đôi nhìn thấy đợc ở con
cái mới hoá trởng thành. Rệp thờng xuất hiện ở bẹ lá. Cũng theo ông thì đặc
điểm nhận dạng cụ thể của rệp mía hồng là cơ thể hình cầu lồi. Có những lỗ
nhỏ ở xunh quanh đốt háng, cúc sừng kéo dài tới thuỳ hậu môn, các đốt bụng
phía sau mỗi đốt đều có lông cứng đơn lẻ mọc ra từ các mép bên của cơ thể.
So sánh rệp sáp mềm mía với những loài rệp sáp mềm khác là do có hình dạng
cầu lồi rất dễ phân biệt, có nhiều lỗ nhỏ ở trên da xung quanh đốt chày, có
một đôi cúc sừng. có một đốt lông cứng trên mỗi bên mép của cơ thể ở các
đốt phía sau
Kosztarab et al.,1988 [63] cho biết giống Saccharicoccus trởng thành
cái có hình ôvan hoặc ôvan dài, có 7 tua, hiếm khi có 8 tua.
cành cây. Một con cái trởng thành đẻ tới 1800 trứng vào cuối tháng 5 đầu
tháng 6, trứng nở tháng 6 và ấu trùng di chuyển lên lá lặp lại vòng đời. Những
loài có nguồn gốc châu Âu có 1-3 lứa trong năm, những loài sống trong nhà
có 6-8 lứa /năm. Có những loài khác hoàn thành hoàn thành sự phát triển trong
vòng hơn một năm một số loài sinh sản vô tính, nhiều loài không thấy xuất
hiện con đực, nhng chúng dễ xác định do chúng nhỏ và sống chỉ đợc vài
ngày M. Kosztarab, F. Kozár (1988) [63].
Theo Entwistle, 1973 [55] một số loài rệp sáp đẻ trứng thành bọc và
một số loài đẻ không có túi. Có những loài rệp có tới 6 thế hệ trong một năm .
Rệp sáp có khả năng sinh sản rất lớn, một đời của rệp cái có thể đẻ
đợc 500 trứng thời gian đẻ từ 20-29 ngày Jurgen Kramez và Schmuttere
(1978) [62]. Rệp lột xác 3-4 lần, thời gian phát triển của rệp rất khác nhau, có
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip -------------------------
8
thể từ 26-47 ngày và thơì gian sống từ 36-57 ngày .
Robert M.[73] cho rằng rệp sáp mềm hồng (Saccharicoccus sacchari
Cockerell) mất khoảng 30 ngày để hoàn thành vòng đời. Loài rệp này thờng
trú ngụ ở bên trong lá bẹ nhng đôi khi tìm thấy ở phần thân dới đất, trên búi
rễ hoặc mắt mía, hoặc mặt dới lá. Trứng đợc đẻ dới bẹ lá, mỗi con cái đẻ
có thể lên tới 1000 quả. Thời gian nở khoảng 10-14 giờ, những trứng đợc giữ
lại trong bộ máy sinh dục của con cái vẫn phát triển tốt. Tuổi 1 của rệp hoạt
động khá linh hoạt, thông thờng nó chỉ di chuyển từ phần già lên phần non
của cây. Tuổi lớn rệp ít hoạt động và di chuyển rất miễn cỡng. Sinh sản đơn
tính là phơng thức sinh sản phổ biến của rệp. Trởng thành đực xuất hiện cả
hai loại hình có cánh và không cánh, nhng nhìn chung là rệp đực rất hiếm
gặp.
cá thể lớn với sức sinh sản lớn, khi mà tỷ lệ phát triển tơng ứng cao nhất đ
dẫn đến loài côn trùng nhiệt đới này tăng trởng về quần thể rất cao nhanh ở
nhiệt độ cao.
Gión et al., 2005 [56] lại cho rằng rệp Saccharicoccus sacchari
Cockerell có vòng đời trung bình 54,8 ngày, ấu trùng 2 tuổi và giai đoạn
trởng thành. Khả năng sản sinh trung bình của một con cái là 219 trứng. rệp
thờng tập trung ở các đốt mía.
Waterhouse et al., [78] cho biết ở úc ấu trùng rệp cái có 4 tuổi, rệp đực
có 5 tuổi. Con đực ngừng ăn khi kết thúc ấu trùng tuổi 2, chúng phải trải qua
tuổi 3 ( tiền nhộng) và tuổi 4 (nhộng) trong lớp vỏ xốp (lông) đợc hình thành
từ các lông nhỏ, mảnh, mịn. Rệp cái đẻ trứng vào ngày thứ 7-12 ngày sau khi
hoá trởng thành. Con cái có khả năng đẻ lên tới 1100 trứng. trởng thành
tiếp tục đẻ trong vòng 3 tuần. Thời gian phát triển từ trứng đến trởng thành
trong vòng khoảng 4 tuần. Trứng nở trong một thời gian ngắn sau khi đẻ, con
cái ngừng ăn ngay sau khi bắt đầu đẻ trứng. Con đực trởng thành nhỏ hơn
(1,25 mm) có thể có cánh hoặc không cánh. con trởng thành không cánh so
với con trởng thành có cánh thiếu cả vết cánh, mắt ở phía mặt bụng và lng.
2.1.4. Tập Quán sinh sống và qui luật phát sinh gây hại
Họ rệp sáp giả Pseudococidae gây hại nhiều loài cây, cả cây gỗ và cây
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip -------------------------
10
bụi, nhng hầu hết sống trên cây thân thảo đặc biệt là cây cỏ, một số loài đa
thực, nhất là những loài phân bố rộng, những loài khác sống trên một số loài
thực vật nhất định và những loài đơn thực nh loài chatococcus pharagmitis
chỉ gây hại trên cây sậy, còn loài allococus vovae chỉ gây hại trên cây bách.
Quần tụ rệp thờng có sự hiện diện của kiến, chúng ăn chất tiết ra của rệp
hai loài rệp sáp giả Saccharicoccus sacchari và Dysmicoccus boninsis đều
xuất hiện trên mía, nhng loài Saccharicoccus sacchari có mức độ phổ biến
hơn, chúng có thể tìm thấy bất kỳ trên cánh đồng trồng mía nào và gây hại
nghiêm trọng hơn ở những ruộng mía kém phát triển, sự gây hại của chúng
làm cây mía thấp lùn. Qua theo dõi trên các cánh đồng mía, các nhà khoa học
Columbia cho rằng Paratrechina fulva là loài côn trùng đ trở lên quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp do nó hình thành lên mối quan hệ cộng sinh đối
với côn trùng chích hút. Trên mía loài này cộng sinh với loài rệp sáp hồng
Saccharicoccus sacchari gây lên những thiệt hại đến hàm lợng đờng và
năng suất mía. (Gión et al., 2005 [56].
Robert M., [73] có nhận xét loài rệp sáp mềm quan trọng nhất trên mía.
chúng thờng xuất hiện với một số lợng lớn, sản sinh ra một lợng dịch mật
đáng kể cùng với sự phát triển và hình thành của nấm mốc có thể gây độc cho
cây.
rệp sáp mía thay đổi theo mùa, vùng sinh thái và các giai đoạn phát
triển của cây mía Graham D.B., Michael L H. [58]. Rệp có mặt ở hầu hết các
vùng trồng mía trên thế giới. chúng xâm nhiễm vào các bộ phận bảo quản
trên mặt đất (hom giống) và khi cây phát triển, chúng gây hại phloem và sản
sinh ra dịch. Tuy nhiên, sự gây hại có giống nhau ở các vùng trồng mía hay
khác nhau hoặc là quần thể có thay đổi giữa các năm trong cùng một vùng hay
không còn cha đợc nghiên cứu. Những điều tra trên đồng ruộng cho thấy số
lợng đốt bị nhiễm rệp đợc tiến hành qua 5 vụ mía ở 3 vùng sản xuất mía ở
phía Bắc nớc úc trên mía trồng và mía lu gốc. Mức độ nhiễm rệp tơng
đơng nhau ở giữa các mùa khác nhau (chỉ duy có một năm lợng ma thấp
làm giảm quần thể). ở 3 vùng, tỷ lệ đốt bị nhiễm rệp tơng tự nhau nhng đạt
đỉnh cao muộn hơn một tháng ở vùng Marian so với 2 vùng còn lại là Kalamia
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip -------------------------
12
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip -------------------------
13
hại của rệp sáp hồng trên mía cho biết, rệp Saccharicoccus sacchari Cockerell
thờng xuất hiện ở những chồi chính trên và dới bề mặt đất. Cây mía bị hại
thờng chậm lớn và đôi khi xuất hiện bệnh vàng lá. Những chồi chính thờng
có những đốm vàng, loài rệp này có thể hoàn thành một vài thế hệ trong một
năm.
2.1.5. Tác hại của rệp sáp
ở Hawai rệp sáp là một trong những loài sâu hại dứa quan trọng nhất
do có liên quan đến bệnh của cây dứa Ronal F.I. [74]. Chúng truyền bệnh héo
cây dứa, Giảm khả năng quang hợp do dứa bị hại hình thành các vùng lá bị
mất diệp lục, làm thối quả khi gây hại với quần thể rệp lớn và hại ở đuôi quả.
Rệp gây hại ở các lá phía trong tạo ra các đờng sọc trên lá. Bệnh héo dứa là
thiệt hại quan trọng nhất gây thất thu dứa ở hawai. có 2 loại héo đó là héo
nhanh và héo chậm cả hai dạng đều làm suy sụp bộ rễ do sự xâm nhập của
sinh vật hoại sinh hoặc làm khô rễ, héo nhanh gây ra do sự gây hại trong
khoảng thời gian rất ngắn, bởi quần thể rệp lớn và đặc trng bởi sự mất màu
của lá, chuyển sang màu vàng hoặc đỏ và làm mất sức sinh trởng. Héo chậm
xuất hiện sau khi quần thể phát sinh mạnh và lá ít thay đổi hơn. Trên lá có các
vết hại do rệp, biểu hiện là đầu lá nâu, mép ngoài lá rủ xuống. Bệnh héo dứa
còn gọi là héo mép bởi vì những cây ở mép viền ngoài bị hại trớc, lan dần
vào bên trong ruộng.
Trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu về các loài sâu bệnh hại mía
đ ghi nhận rệp sáp hồng hại mía là một đối tợng sâu hại quan trọng của các
vùng trồng mía. Rệp làm giảm lợng đờng một cách nghiêm trọng, làm hỏng
một số lớn mầm mía, đồng thời làm cho nấm ký sinh gây bệnh cho mía.
khuẩn giúp cho quá trình ngăn chặn nấm Aspergillus parasiticus ký sinh trên
rệp sáp nhng có thể hoạt động nh một chất hấp dẫn cho loài bắt mồi ăn thịt
Cacixenus perpicax.
Waterhouse et al., [78], South African Sugar Association [75], Robert
M. 1999 [73] nhận xét rằng rệp sáp hồng là sâu hại quan trọng trên cây mía.
Rệp hại mía đ làm ngừng trệ sự phát triển của cây mía và rõ ràng chất sản
sinh ra bởi rệp hoặc vi khuẩn hoặc nấm men cộng sinh với chúng gây độc cho
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip -------------------------
15
cây mía. Chúng phân tán sang các cây mới nhờ kiến, kiến ăn chất dịch do rệp
tiết ra.
2.1.6. Phân bố và ký chủ
Rệp sáp phân bố rộng r i ở nhiều nớc trên thế giới thuộc các vùng
Nhiệt đới, á nhiệt đới nh Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật Bản. Anthony
Youdeowei (1983) [83] cho biết rệp sáp gây hại cà phê ở hầu hết các nớc:
Địa Trung Hải, Nam Phi, Nam Mỹ và các nớc Châu á. Lavabre (1970) [84]
cho biết loài rệp sáp phổ biến ở các nớc vùng nhiệt đới của thế giới, cũng
theo tác giả rệp sáp tấn công bộ phận trên mặt đất của cây cà phê ở các nớc
nh Java, Việt Nam. Còn Jurgen Kranz và Heinz Schmutteres (1978) [62] có
nhận xét tơng tự là rệp sáp có mặt ở hầu hết các vùng trên thế giới, từ vùng
nhiệt đới đến vùng cận nhiệt đới.
Rệp sáp không chỉ tấn công cà phê mà còn gây hại trên rất nhiều loại
cây trồng khác và cả cỏ dại. Rệp sáp là loại côn trùng đa thực, chúng gây hại
trên nhiều loại cây trồng khác nhau. Theo thống kê của Wyniger (1962) [82]
rệp có mặt trên nhiều loại cây trồng trong đó có ca cao, thuốc lá, bông vải, đu
đủ và các cây thuộc họ cam chanh. Theo Ben-dov (1994), Youdeowei