Báo cáo tổng kết đề tài sinh viên NCKH: Kiến thức, thái độ và nhu cầu giáo dục giới tính của học sinh trường trung học phổ thông - Pdf 43

1
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI SINH VIÊN NCKH

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ NHU CẦU GIÁO DỤC
GIỚI TÍNH CỦA HỌC SINH HAI TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG NGUYỄN ĐỨC CẢNH VÀ NGUYỄN TRÃI,
TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2016

Giảng viên hướng dẫn: Ths.Nguyễn Văn Tiến
Chủ nhiệm đề tài: SV.Phạm Thị Thu Huyền – Lớp YTCC3.K1

THÁI BÌNH – NĂM 2016

1


2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian dài thực hiện nghiên cứu, chúng em xin được chân
thành cảm ơn các Thầy/Cô giáo Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tận
tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Với tất cả tình cảm sâu sắc nhất chúng em, xin bày tỏ lòng cảm ơn tới
thầy hướng dẫn Ths. Nguyễn Văn Tiến - người đã tận tình giúp đỡ chúng em
từ khi xác định vấn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và hoàn
thành nghiên cứu này.
Chúng em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Quý thầy

Đào Huy Cừ – Lớp YTCC3.K1
Nguyễn Thế Duy – Lớp YTCC3.K1

THÁI BÌNH – 2016

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3


4

BCS

Bao cao su

BPTT

Biện pháp tránh thai

BLTQĐTD

Bệnh lây truyền qua đường tình dục

GDGT

Giáo dục giới tính

KHHGĐ

Kế hoạch hóa gia đình


4


5

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng 3.11
Bảng 3.12
Bảng 3.13
Bảng 3.14
Bảng 3.15

Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Phân bố tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng về tuổi bắt đầu
dậy thì theo địa bàn nghiên cứu
Hiểu biết của học sinh về dấu hiệu dậy thì của nữ giới
theo địa bàn nghiên cứu
Hiểu biết của học sinh về dấu hiệu dậy thì của nam giới
theo địa bàn nghiên cứu

32
33
34
36
36
37
38
38
39
40


6

Biểu đồ 3.1

Trang
Hiểu biết của học sinh về chu kì kinh nguyệt theo địa
29

Biểu đồ 3.2

bàn nghiên cứu
Hiểu biết của học sinh về hiện tượng sinh dục bất

30

Biểu đồ 3.3

thường ở nữ giới theo địa bàn nghiên cứu

35

Biểu đồ 3.8

giới tính theo địa bàn nghiên cứu
Đánh giá tổng điểm thái độ của học sinh về giáo dục

37

Biểu đồ 3.9

giới tính theo địa bàn nghiên cứu
Nhu cầu của học sinh về hình thức giáo dục giới tính

40

theo địa bàn nghiên cứu
Biểu đồ 3.10 Đánh giá chung về nhu cầu giáo dục giới tính của học

41

sinh theo địa bàn nghiên cứu

6


7
ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 1,7 tỷ người ở độ tuổi vị thành

có hiểu biết về sự thụ thai thì chỉ có 41,6% biết thời gian có thai theo chu kỳ
kinh nguyệt. Trong số 16,5% đối tượng có QHTD chỉ có 18,8% biết dùng các
biện pháp tránh thai [32]. Ở Thái Bình theo con số hiện nay của cơ sở y tế,
hàng năm có khoảng 20.000 ca nạo hút thai, 30% trong số ca trên là người
chưa có gia đình (15-24 tuổi) trên thực tế con số này còn lớn hơn nhiều [28].
Những thách thức to lớn mà tuổi VTN khi QHTD sớm đó là mang thai
ngoài ý muốn, nạo phá thai, HIV/AIDS. Vì vậy, rất cần có sự chuyển biến phù
hợp trong bộ máy quản lý xã hội, hệ thống giáo dục và sự quan tâm của gia
đình. Cho đến thời điểm này, tại Thái Bình chưa có báo cáo điều tra nghiên
cứu về các hoạt động chăm sóc SKSS ở trẻ VTN, chưa có nhiều số liệu chính
thức, đầy đủ về nhu cầu giáo dục giới tính, cũng như kiến thức và thái độ về
hoạt động tình dục ở lứa tuổi học sinh. Trước thực trạng trên cũng như dựa
trên tổng quan tài liệu nghiên cứu về hiểu biết của các em học sinh trường
trung học phổ thông liên quan vấn đề giáo dục giới tính, chúng tôi thực hiện
nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ và nhu cầu giáo dục giới tính của học sinh
hai Trường trung học phổ thông Nguyễn Đức Cảnh và Nguyễn Trãi, tỉnh
Thái Bình năm 2016”, nhằm mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ của học sinh về giới tính ở 2
Trường trung học phổ thông Nguyễn trãi và Trường trung học phổ
thông Nguyễn Đức Cảnh năm 2016.
2. Mô tả nhu cầu về giáo dục giới tính của học sinh ở 2 Trường nêu
trên năm 2016.


9
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm về giáo dục giới tính và vị thành niên.
1.1.1. Một số khái niệm.
GDGT là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh

thể chất, tâm lý cũng như bắt đầu phát triển các mối quan hệ xã hội. Mặc dù
không còn là trẻ con, song những người ở độ tuổi này cũng chưa phải là người
lớn, họ phải đối mặt với những thách thức về sự phát triển thể chất và tâm lý
cũng như sự nhìn nhận và hòa nhập với xã hội xung quanh, họ có thể đặt mình
vào những nguy cơ mà không suy xét đến hậu quả. Về mặt sinh học, họ có thể
trở thành những người làm cha mẹ nhưng chưa sẵn sàng về bổn phận. Họ tự
cảm thấy tính độc lập của bản thân rất cao, song phần lớn các nhu cầu vật chất
ở tuổi VTN vẫn lệ thuộc vào người lớn.
Thông thường, người ta chia tuổi VTN làm 3 giai đoạn [5], [11]:
- Giai đoạn VTN sớm (10-13 tuổi): Giai đoạn này đặc trưng bởi sự phát triển
nhanh chóng về thể chất và quá trình trưởng thành về tính dục. Ở độ tuổi
này có sự phát triển tư duy trừu tượng rất rõ rệt.
- Giai đoạn VTN trung bình (14-16 tuổi): Về thể chất vẫn tiếp tục thay đổi
với tốc độ chậm hơn, nhưng những thay đổi về tâm lý trở nên mạnh mẽ
hơn, các em có xu hướng tách khỏi gia đình để tìm đến các mối quan hệ
với bạn bè đồng lứa. Các em ở độ tuổi này hay tò mò và bắt đầu quan tâm,
muốn khám phá năng lực bản thân trong QHTD.
-

Giai đoạn VTN muộn (17-19 tuổi): Sự phát triển về thể chất và tâm lý

dần ổn định hơn. Các em ở độ tuổi này phát triển mạnh mẽ tư duy trừu tượng,
đưa ra nhiều ý tưởng hơn cũng như có xu hướng bảo vệ chính kiến của mình
mạnh mẽ hơn.


11
1.1.2. Những biến đổi về thể chất [6], [8].
Ở tuổi VTN, cơ thể biến đổi nhanh về vóc dáng, cơ quan sinh dục phát
triển, các đặc điểm giới tính khác như lông, râu, ngực trở nên rõ rệt, các em

giới. Tâm trạng cũng thay đổi rất nhanh và biến động mạnh. Nhưng thời gian
này, lý trí chưa đủ giúp các em làm chủ được bản thân. Vì vậy, các em cần
được rèn luyện những kỹ năng sống để giúp các em xây dựng được các mối
quan hệ bạn bè, giải quyết mâu thuẫn, biết cách cùng hợp tác với người khác
trong nhóm, hình thành lòng tự trọng cũng như biết kìm chế trước sức ép từ
bạn bè cùng lứa và người lớn khác để không tham gia vào những hành vi
nguy cơ có hại cho sức khoẻ và an toàn của bản thân và của người khác.
Có sự mất cân bằng trong tâm lý và sinh lý, tuy rằng chỉ là tạm thời,
song một số hành vi và sự chọn lựa của tuổi VTN có thể gây hậu quả suốt
đời nếu các em thiếu sự hướng dẫn và hỗ trợ của người lớn, đồng thời thiếu
kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ.
1.2. Khái niệm về sức khỏe sinh sản.
Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới WHO- Sức khỏe là tình trạng
phát triển hài hòa của mỗi người về thể lực, trí tuệ và khả năng hòa nhập cộng
đồng, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật, ốm đau hoặc không tàn phế.
Từ đó, sức khỏe sinh sản là một trạng thái hoàn hảo về mặt thể chất, tinh thần
chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật trong mọi vấn đề liên quan đến
hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản [10], [13], [14].
Như thế SKSS cũng có thể hiểu là mọi người có thể có cuộc sống TDAT, hài
lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định có sinh con hay không, sinh
con khi nào và sinh bao nhiêu con. Chương trình hành động của Hội nghị
Cairo cũng đã đề cập đến nội dung cơ bản của chăm sóc SKSS là:
- Tư vấn, giáo dục, truyền thông và dịch vụ KHHGĐ an toàn, hiệu quả
và chấp nhận tự do lựa chọn của khách hàng, kể cả nam giới.


13
- Chú trọng sức khỏe VTN ngay từ lúc bước vào tuổi hoạt động tình dục
và sinh sản.
- Giáo dục sức khỏe và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh, bao gồm

bệnh lây truyền qua QHTD kể cả HIV/AIDS, bởi họ thường không được ai
chỉ bảo cách tự bảo vệ mình như thế nào [4].
1.3. Những vấn đề liên quan đến giáo dục giới tính ở vị thành niên trên
thế giới.
Theo thống kê của WHO, hiện nay còn khoảng 120 triệu cặp vợ chồng
trẻ chưa được hưởng dịch vụ KHHGĐ và khoảng 60 - 80 triệu cặp vợ chồng
trẻ bị vô sinh, mà nếu biết được sớm từ khi VTN thì có thể khắc phục được.
Ngoài ra, hàng năm còn có 20 triệu trường hợp nạo hút thai (NHT) không an
toàn, trong đó có nhiều người mang thai ngoài ý muốn vì không có thông tin
từ thời VTN. Mỗi năm có khoảng 10% số trẻ được sinh ra từ các bà mẹ ở
tuổi VTN. Mỗi năm còn có 585.000 phụ nữ chết do thai nghén hoặc sinh đẻ
và 25 triệu trẻ em sinh ra thiếu cân vì mẹ thiếu dinh dưỡng và thiếu kiến thức
chăm sóc thai nghén [30].
Theo ước tính của Văn phòng thông tin dân số Mỹ về SKSS của lớp
người trẻ, thì có ít nhất 80% số người bước vào tuổi 20 ở vùng cận sa mạc
Sahara đã trải qua hoạt động tình dục. Đó là một trong những nguyên nhân xã
hội làm cho BLTQĐTD và nhất là HIV/AIDS phát triển rất nhanh ở vùng này.
Thống kê của Quỹ Liên hiệp quốc về phòng chống AIDS cho biết, số người bị
nhiễm HIV/AIDS ở khu vực này chiếm 2/3 tổng số người nhiễm HIV/AIDS
trên toàn thế giới [29].
Hiện nay, hàng năm có khoảng 15 triệu VTN nữ sinh con, chiếm 10%
số phụ nữ sinh con trên thế giới, trong đó, số mang thai trước khi cưới và
không có ý định cưới ngày một tăng. Một điều tra ở Kenia đưa ra tỷ lệ phụ
nữ 15-19 tuổi có thai ngoài ý muốn chiếm 47% phụ nữ có chồng và 74% phụ
nữ chưa chồng. Ở Peru, có tỷ lệ tương tự là 51% và 69%. Tổng hợp số liệu từ
các nước và các khu vực khác cho thấy [29]:


15
- Bắc Phi và Tây Á, 15% - 23% số VTN sinh con ngoài ý muốn.

Trần Thị Loan [24], Vương Thị Thu Thủy [34],... cho thấy trong những năm
gần đây có sự gia tăng so với số liệu nghiên cứu trước năm 1975 và trong
thập niên 80, điều này liên quan đến điều kiện sống ngày càng tốt hơn.
Về tuổi dậy thì chính thức ở VTN, một số nghiên cứu đã đưa ra kết quả
là tuổi dậy thì chính thức trung bình của VTN ở thành thị và nông thôn đồng
bằng có chiều hướng sớm hơn trước đây; tuổi dậy thì chính thức trung bình
của VTN ở một số dân tộc ít người: nữ là 14,29 ± 1,25, nam là 15,42 ± 1,08
(ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ) [20], muộn hơn so với thành thị, nhưng tương
đương so với vùng nông thôn; hoặc nữ là 14,38 tuổi, nam là 15,4 tuổi, muộn
hơn so với đồng bằng nhưng không khác biệt so với học sinh miền núi khác
(trường nội trú tỉnh Sơn La) [19].
Theo kết quả điều tra cơ bản của Quàn Lệ Nga và cộng sự tại Hà Nội,
Vĩnh Phú và Thái Bình mô tả khía cạnh liên quan đến kiến thức, thái độ và
hành vi của VTN về SKSS cho thấy, tỷ lệ hiểu biết của VTN về BPTT cũng
hạn chế, chỉ có khoảng một nửa biết về bao cao su (BCS) và 1/3 biết về dụng
cụ tử cung [22].
1.4.1. Kiến thức và thái độ của vị thành niên về các vấn đề giới tính và sức
khỏe sinh sản.
Theo báo cáo Savy (Bộ Y tế-2003) thì các vấn đề liên quan đến sức
khỏe thường gặp ở VTN bao gồm [33]:
- Còn thiếu kiến thức về SKSS: thiếu kiến thức về các biện pháp tránh thai,
đặc biệt là về các BLTQĐTD và thời điểm dễ thụ thai trong chu kỳ kinh
nguyệt của nữ thanh niên. Tỷ lệ phá thai ở độ tuổi VTN và vấn đề mang
thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn được coi là vấn đề sức khỏe
nghiêm trọng, ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, ảnh hưởng đến giống
nòi cũng như các quan niệm về giá trị trong xã hội.
- Thiếu tiếp cận với các nguồn thông tin chính xác: VTN phần nào được
cung cấp thông tin về SKSS, về các biện pháp tránh thai. Tuy nhiên,




18
sự kỳ thị với người nhiễm HIV cũng là một vấn đề khiến cho việc phòng
lây nhiễm HIV/AIDS trong nhóm VTN trở nên khó khăn hơn.
- Thiếu tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng: Tình hình tiếp cận các
dịch vụ y tế, nhất là các dịch vụ y tế công ở tất cả các nhóm VTN rất thấp,
đặc biệt ở những nhóm thiệt thòi như VTN đường phố, khuyết tật, VTN
dân tộc thiểu số…[6].
Theo một nghiên cứu của Lê Huỳnh Thị Cẩm Hồng và Trương Trọng
Hoàng năm 2008, những kiến thức về những thay đổi bình thường ở tuổi
dậy thì và kiến thức về điều kiện tiếp xúc giữa nam và nữ có thể có thai là
được biết đến nhiều nhất vì đây là những kiến thức phổ thông và tương đối
dễ tiếp cận hơn so với một số chủ đề tế nhị khác như thủ dâm, nạo phá thai
(NPT), các BPTT và các BLTQĐTD có ít học sinh có kiến thức đúng. Tỷ lệ
học sinh có kiến thức chung đúng về các vấn đề giới tính không cao (31,5%).
Điều này cho thấy việc cung cấp kiến thức cho các em học sinh hiện nay là
vô cùng cần thiết [17].
Nhìn chung phần lớn học sinh không chấp nhận việc QHTD trước hôn
nhân nhưng vẫn còn một tỷ lệ khá cao (20,3%) coi việc QHTD ở tuổi VTN
là bình thường trong tình yêu. Cuộc khảo sát cũng cho thấy những học sinh
nam có thái độ đồng ý việc QHTD ở tuổi VTN cao gấp 2,87 lần so với học
sinh nữ. Có đến gần phân nửa số học sinh tham gia nghiên cứu (48,3%) đồng
ý với ý kiến “nếu lỡ mang thai ở tuổi VTN (10-19 tuổi) thì nên phá thai”
[17]. Theo điều tra quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam, khi tìm hiểu
thái độ của thanh thiếu niên về vấn đề tình dục trước hôn nhân, cho thấy nam
thanh thiếu niên có thái độ chủ động và chấp nhận đối với vấn đề này hơn là
nữ thanh thiếu niên (32,5% nam và 14,7% nữ đồng ý) [5].
Hầu hết học sinh (97%) tham gia nghiên cứu đồng ý việc GDGT cho
học sinh. Tỷ lệ này ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Linh Đơn thực hiện năm




20
thông tin này từ bạn bè, nghiên cứu này nói rằng việc đưa thông tin GDGT
vào sách, báo sẽ là một giải pháp hiệu quả cho việc cung cấp những thông tin
tế nhị này [17].
Một điểm cần quan tâm là 49,6% cho rằng yếu tố cản trở họ tìm hiểu
thông tin về giới tính là sợ bị người khác hiểu lầm là tìm hiểu thông tin không
lành mạnh. Chính quan niệm về việc tìm hiểu thông tin về giới tính ở tuổi
VTN của các em là không tốt, làm cho các em e ngại không dám tiếp cận
với những thông tin trên hoặc tìm hiểu một cách lén lút. Điều này thật sự còn
nguy hiểm hơn là cung cấp cho các em những thông tin khoa học để biết tự
bảo vệ bản thân [17].
Trong một nghiên cứu tại huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, chỉ có
khoảng một nửa số trường hợp được hỏi (49,6%) đã từng nghe nói về các
BPTT. Trong đó biện pháp được biết đến nhiều nhất là BCS với hơn 4/5 số
VTN trả lời, tiếp theo là thuốc tránh thai với tỷ lệ 77,9% và dụng cụ tử cung
chiếm tỷ lệ 36,0%. Khi được hỏi về thời điểm dễ thụ thai nhất, chỉ có 12,8%
VTN trả lời đúng [16]. Một nghiên cứu khác về hiểu biết của các cô gái về
các BPTT cho thấy, có 91% nói là BCS, 77% nói về thuốc viên, 56,0% nói về
xuất tinh ngoài âm đạo và 54,0% nói về tính thời kỳ an toàn. Hầu hết được
trang bị những kiến thức về BPTT thường qua sách báo (61,0%), xem tivi
(47,0%). Chỉ có 10% được nghe BPTT ở trường học và 56,0% chưa bao giờ
nghe nói về BPTT, 24,0% nói rằng họ nhận được thông tin từ quảng cáo
nhưng các kiến thức này không được cụ thể. Trong thực tế 40% không sử
dụng BPTT nào, 36% xuất tinh ngoài âm đạo và 24,0% không trả lời, chỉ 15%
đã sử dụng BPTT hiện đại (14,0% dùng BCS, 1% dùng thuốc viên) [27].
1.4.3. Nhu cầu của vị thành niên về các thông tin liên quan đến
giáo dục giới tính.
Đa số các điều tra tại Việt Nam dù với quy mô lớn hay nhỏ đều cho thấy

triệu, trong đó có khoảng 22 triệu người thuộc nhóm VTN từ 10-19 tuổi.
Nhóm dân số này là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai


22
gần và cũng là đối tượng có nguy cơ cao về SKSS nhưng việc chăm sóc
SKSS cho VTN chưa làm được bao nhiêu. Tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn
đường sinh sản và BLTQĐTD khá cao, sự tăng nhanh HIV/AIDS, đặc biệt là
trong những thanh niên dưới 25 tuổi đang là điều đáng lo ngại. Trong khi đó
việc giáo dục tuyên truyền và cung cấp các dịch vụ phòng và chữa chưa
được phổ cập rộng rãi với sự phối hợp tham gia của mọi cơ sở trong và ngoài
ngành y tế, cơ sở y tế công lập cũng như tư nhân.”
Ở Việt Nam hiện nay, với nền kinh tế thị trường, môi trường xã hội
ngày một phức tạp, sự tiếp xúc các nguồn thông tin rất đa dạng, lối sống tự
do, hệ thống giá trị chuẩn mực xã hội thay đổi nhiều, đối tượng VTN càng dễ
đi đến những hành vi không có lợi cho sức khỏe nếu không được trang bị
thông tin đầy đủ, thành đúng đắn, đặc biệt với học sinh trung học phổ thông
là đối tượng trong độ tuổi VTN, độ tuổi mà họ có thể đã hình thành những
hành vi nguy cơ. Vì vậy, một cuộc nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ và
nhu cầu GDGT ở lứa tuổi phổ thông trung học là rất cần thiết.
1.6. Tình hình giáo dục giới tính và các vấn đề về sức khỏe sinh sản của
vị thành niên tại Thái Bình.
Việc triển khai công tác chăm sóc SKSS đã được quan tâm hưởng ứng
của các cấp chính quyền, các tổ chức quần chúng và cộng đồng người dân
nói chung và VTN nói riêng ngày càng được tiếp cận nhiều với thông tin và
dịch vụ SKSS, nhưng các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ chủ yếu phục vụ
các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ mà chưa có sự quan tâm đầy đủ đối
với lứa tuổi VTN. Công tác tuyên truyền, giáo dục về SKSS cho VTN vẫn
còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được với nhu cầu khách hàng. Các thông
tin đến với tuổi VTN vừa nghèo nàn cả nội dung và hình thức chuyển tải;

2.1.2. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh đang học tại Trường Trung học phổ thông từ 15 đến 18 tuổi.
* Tiêu chuẩn chọn mẫu: Đưa vào nghiên cứu các trường hợp sau:
− Học sinh đang học tại THPT Nguyễn Đức Cảnh và Trường
THPT Nguyễn Trãi.
− Không phân biệt tuổi, giới tính, tôn giáo và vùng miền sinh
sống.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 09/2015 đến tháng 06/2016.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp dịch tễ học mô tả qua
điều tra cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu.


25
 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính toán dựa vào công thức ước tính cho một tỷ lệ:
n= ×
Trong đó:
• α: Mức ý nghĩa thống kê (α = 0,05)
• Z(1-α/2): Giá trị Z thu được tứng với giá trị α (Z(1-α/2) = 1,96)
• p: là tỷ lệ ước tính học sinh trường PTTH có kiến thức về tình dục giới
tính. Do chưa có nghiên cứu trước đó nên chúng tôi chọn p= 0,5.
• d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ p thu được từ mẫu và tỷ lệ thực
từ quần thể. Do hạn chế về nguồn lực chúng tôi chọn d=0,06.
Thay vào công thức trên: n = 267. Gia tăng 10% trừ trường hợp không
hợp tác hoặc vắng đối tượng, cỡ mẫu nghiên cứu sẽ là 294 học sinh. Nghiên
cứu tiến hành tại hai trường, như vậy tổng số đối tượng điều tra của nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status