BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
----------
TRẦN THỊ KIM CHUNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ NHU CẦU GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CHÂU KHÊ,
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
----------
TRẦN THỊ KIM CHUNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ NHU CẦU GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CHÂU KHÊ,
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH NĂM 2014
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 60720301
Trần Thị Kim Chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
---------***---------
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
Phòng Đào tạo sau Đại học –Trường Đại học Y Hà Nội
Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng - Trường Đại học Y
Hà Nội
Bộ môn Sức khỏe Môi trường - Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế
công cộng - Trường Đại học Y Hà Nội
Hội đồng chấm Luận văn Thạc sỹ - Viện Đào tạo Y học dự phòng và
Y tế công cộng - Trường Đại học Y Hà Nội
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm Luận văn một cách khoa
học và chính xác. Các số liệu, cách xử lý và phân tích số liệu là hoàn toàn
trung thực, khách quan.
Hà Nội, ngày 26 tháng 7 năm 2015
Học viên
Trần Thị Kim Chung
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLTQĐTD
Bệnh lây truyền qua đường tình dục
Nhân viên y tế
QHTD
Quan hệ tình dục
SKSS
Sức khỏe sinh sản
TD
Tình dục
THCS
Trung học cơ sở
UBDSGĐTE
Ủy ban Dân số Gia đình Trẻ em
UNFPA
United Nations Population Fund
(Quỹ dân số Liên Hợp Quốc)
VTN
3.1. Các đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu:.................................... 29
3.2. Kiến thức, thái độ và nhu cầu giáo dục giới tính của học sinh: ........... 30
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ của học sinh về chăm
sóc sức khỏe giới tính: ................................................................................ 45
Chương 4 BÀN LUẬN .................................................................................. 52
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ......................................... 52
4.2. Kiến thức, thái độ về chăm sóc sức khỏe giới tính và nhu cầu giáo dục
giới tính của học sinh trường trung học cơ sở Châu Khê: .......................... 53
4.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ của học sinh về chăm
sóc sức khỏe giới tính: ................................................................................ 66
4.4. Bàn luận về một số hạn chế của đề tài ................................................. 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
KHUYẾN NGHỊ ........................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo một số đặc tính chung ......... 29
Bảng 3.2: Tỷ lệ học sinh có kiến thức về các dấu hiệu dậy thì (n=410):
........................................................................................... ………..30
Bảng 3.3: Tỷ lệ cho sinh có kiến thức về vệ sinh cơ quan SD, vệ sinh kinh
nguyệt ..................................................................................... …….31
Bảng 3.4. Tỷ lệ cho sinh có kiến thức về tình bạn, tình bạn khác giới ......... 35
Bảng: 3.5. Tỷ lệ cho sinh có kiến thức về tình yêu ....................................... 36
Bảng 3.6: Tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng về chăm sóc sức khỏe giới tính39
Bảng 3.7: Thái độ của học sinh về QHTD ở tuổi VTN và hành vi thủ dâm 40
CSSK giới tính ............................................................................................ 45
Biểu đồ 3.14: Tỷ lệ các yếu tố cản trở học sinh tìm hiểu thông tin về chăm
sóc sức khỏe giới tính.................................................................................. 46
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vị thành niên là một giai đoạn hết sức quan trọng của con người đánh
dấu sự thay đổi toàn diện cả về thể chất, tinh thần, khả năng tư duy, phát
triển cảm xúc và giao tiếp xã hội ở mỗi con người. Là giai đoạn chuyển tiếp
từ trẻ em thành người lớn. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) tuổi Vị thành
niên (VTN) là lứa tuổi từ 10-19 tuổi [1]. Còn ở Việt Nam, VTN là lứa tuổi
từ 10-18 tuổi [2], [3]. Thay đổi rõ rệt nhất ở lứa tuổi VTN là các vấn đề về
sức khỏe sinh sản, bao gồm cả các biểu hiện về dậy thì. Bất cứ một vấn đề
về sức khỏe và tâm lý trong giai đoạn này đều có thể ảnh hưởng và để lại
hậu quả nặng nề cho cuộc sống về sau.
Cùng với tăng trưởng, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, phát triển
công nghiệp hóa, đô thị hóa thách thức lớn đối với công tác chăm sóc sức
khỏe nhân dân nói chung và sức khỏe vị thành niên, thanh niên nói riêng.
Một số vấn đề sức khỏe VTN (vị thành niên) quan trọng nhất hiện nay là:
tình trạng dậy thì sớm, quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thai ngoài ý
muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nhiều nghiên cứu gần đây
khẳng định: tuổi dậy thì ở VTN ở Việt Nam (năm 2010) sớm hơn 1 tuổi so
với 30 năm trước [4,6]. Tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên trung bình của
thanh thiếu niên Việt Nam giảm 1,5 theo báo cáo điều tra quốc gia về vị
thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2005 và báo cáo điều tra quốc gia
về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2010 [4,5]. Việt Nam là một
trong số các quốc gia có tỷ lệ VTN nạo phá thai cao ở Đông Nam Á [7]. Đây
Mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức, thái độ và nhu cầu giáo dục giới tính của học sinh
trường THCS Châu Khê, Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh năm 2014.
2. Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ về giới tính của học
sinh trường THCS Châu Khê, Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh năm 2014.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm tâm sinh lý ở lứa tuổi VTN
1.1.1. Khái niệm về VTN
Vị thành niên là một quá trình chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ thành người
trưởng thành. Tuổi từ 10 đến 19 là một khoảng thời gian thay đổi nhanh
chóng cả về thể chất, tâm lý cũng như bắt đầu phát triển các mối quan hệ xã
hội. Mặc dù không còn là trẻ con, song những người ở độ tuổi này cũng
chưa phải là người lớn, họ phải đối mặt với những thách thức về sự phát
triển thể chất và tâm lý cũng như sự nhìn nhận và hòa nhập với xã hội xung
quanh, họ có thể đặt mình vào những nguy cơ mà không suy xét đến hậu
quả. Về mặt sinh học, họ có thể trở thành những người làm cha mẹ chưa sẵn
sàng về bổn phận. Họ tự cảm thấy tính độc lập của bản thân rất cao, song
phần lớn các nhu cầu vật chất ở tuổi vị thành niên vẫn lệ thuộc vào người
lớn. Sự thay đổi cơ thể, nhận thức về dậy thì và trạng thái tâm lý ở tuổi VTN
có liên quan tới QHTD, có thai ở VTN và ảnh hưởng tới quá trình phát triển
bình thường của VTN [8],[ 2].
Thông thường, người ta chia tuổi VTN làm 3 giai đoạn[ 3], [9],[ 10]
- Giai đoạn VTN sớm (10–13 tuổi): Giai đoạn này đặc trưng bởi sự
phát triển nhanh chóng về thể chất và quá trình trưởng thành về tính dục. Ở
độ tuổi này có sự phát triển tư duy trừu tượng rất rõ rệt.
trưởng thành của bộ máy sinh sản ở nữ. Nam giới thường dậy thì muộn hơn
nữ khoảng hai năm, biểu hiện là sự hoạt động của tinh hoàn. Hiện tượng
cương dương vật và xuất tinh ban đêm (giấc mộng ướt hay còn gọi là mộng
tinh) cho thấy khả năng sinh sản của nam giới đã bắt đầu.
Từ tuổi vị thành niên đến tuổi hôn nhân còn trên dưới 10 năm, vì vậy
trẻ vị thành niên cần hiểu điều này mà tăng cường việc học tập, rèn luyện để
5
tránh những hành động sai lầm đáng tiếc làm tổn hại đến sức khoẻ và hạnh
phúc, tương lai như quan hệ tình dục sớm, có thai, tảo hôn…
1.1.2.3. Những biến đổi về tâm lý [12]
Ở tuổi này, các em bắt đầu phát triển ý thức tự trọng, tính độc lập
trong suy nghĩ và hành động. Các em đã có những xúc cảm giới tính, bắt đầu
quan tâm đến bạn khác giới. Tâm trạng cũng thay đổi rất nhanh và biến động
mạnh. Nhưng thời gian này, lý trí chưa đủ giúp các em làm chủ được bản
thân. Vì vậy, các em cần được rèn luyện những kỹ năng sống để giúp các em
xây dựng được các mối quan hệ bạn bè, giải quyết mâu thuẫn, biết cách
cùng hợp tác với người khác trong nhóm, hình thành lòng tự trọng cũng như
biết kìm chế trước sức ép từ bạn bè cùng lứa và người lớn khác để không
tham gia vào những hành vi nguy cơ có hại cho sức khoẻ, an toàn của bản
thân và của người khác.
Có sự mất cân bằng trong tâm lý và sinh lý, tuy rằng chỉ là tạm thời,
song một số hành vi và sự chọn lựa của tuổi vị thành niên có thể gây hậu quả
suốt đời nếu các em thiếu sự hướng dẫn và hỗ trợ của người lớn, đồng thời
thiếu kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ.
1.1.3. Kiến thức về vệ sinh cơ quan sinh dục, vệ sinh kinh nguyệt
Để có thể phát triển một cách tốt nhất, VTN cần chú ý tới vệ sinh cá
nhân, đặc biệt là vệ sinh cơ quan SD, vệ sinh kinh nguyệt. Đối với nam chỉ
sinh dục của họ để đạt được khoái cảm hay sự phóng tinh. Cả nam và nữ đều
có thể thủ dâm [15], [16]. Ở mỗi lứa tuổi đều có thể thủ dâm nhưng nó phổ
biến hơn ở những người trẻ tuổi và người chưa kết hôn [16]. Thủ dâm
không gây hại cho sức khỏe và khả năng tình dục [16]. Tuy nhiên, thủ dâm
liên tục nhiều ngày (nhiều ít do quan niệm từng người) tới lạm dụng có thể
dẫn tới rối loạn sinh lý [17]. Thủ dâm được coi như một biện pháp QHTD an
toàn. Nó mang đến khoái cảm mà không cần có bạn tình và không có nguy
7
cơ gây hại (như mang thai hay nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình
dục) [16], [18].
Thứ hai là quan hệ tình dục: Quan hệ tình dục, còn gọi là giao hợp
hay giao cấu, thường chỉ hành vi đưa bộ phận sinh dục nam/đực vào trong
bộ phận sinh dục nữ/cái [19]. QHTD sớm ngoài hôn nhân ở tuổi học sinh có
nguy cơ dẫn đến sự mang thai với những hậu quả tức khắc và lâu dài khác
nhau về sức khỏe thể chất và tinh thần [16]. Việc mang thai sớm ngoài ý
muốn là điều kinh hoàng cho bạn gái trẻ vì thiếu hiểu biết. Họ thường loại
bỏ thai bằng biện pháp nạo phá thai. Nạo thai không an toàn gây ra nhiều rủi
ro rất lớn cho phụ nữ (đặc biệt là phụ nữ trẻ). Một số người trẻ tin rằng dễ
dàng nạo phá thai hơn là sử dụng các biện pháp tránh thai [20]. Tuy nhiên,
ngoài những biến chứng tử vong và nhiều biến chứng khác do nạo phá thai
(như sót nhau, nhiễm khuẩn, chảy máu, thủng tử cung, thủng ruột, tổn
thương cơ quan sinh sản…), những biến chứng lâu dài về sau này còn là
nhiễm trùng mạn tính, vô sinh và còn có thể phá hủy cả đời sống tình dục
(nhất là ở tuổi thanh thiếu niên) [16]. Việc mang thai sớm và sinh đẻ ở tuổi
VTN còn gây nhiều căng thẳng về tâm lý, tình cảm, tài chính và sự phản đối
của cộng đồng. Việc mang thai sớm ở tuổi VTN sẽ là gánh nặng cho xã hội,
nghèo đói sẽ tăng lên, bảo hiểm xã hội và y tế kém nhiều, thiếu lực lượng
[22]. Những hậu quả về mặt cơ thể có thể thấy được ngay như rách âm đạotrực tràng gây chảy máu nặng nề, các tổn thương khác của bộ phận sinh dục,
nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Với trẻ đã xuất hiện kinh
nguyệt, nguy cơ có thai được phát hiện muộn không phải là hiếm gặp. Với
những trường hợp này, sức khỏe và tương lai của bà mẹ lẫn trẻ em thường ở
trong tình trạng rất mong manh, khó khăn. Những hậu quả xấu của lạm dụng
tình dục có thể để kéo dài nhiều năm sau này cũng như đến tuổi trưởng
thành. Những người này thường có biểu hiện trầm cảm. Nếu tình trạng lo
lắng ở mức độ cao có thể dẫn đến những hành vi tự hủy hoại cơ thể như
9
nghiện rượu, nghiện ma túy, có những cơn hốt hoảng, những rối loạn lo âu ở
một tình huống đặc trưng nào đó, mất ngủ. Và rất nhiều người gặp rất nhiều
khó khăn trong đời sống tình dục sau này. Vì vậy việc phòng chống xâm hại,
lạm dụng TD là vô cùng cần thiết. Để phòng chống xâm hại, lạm dụng tình
dục ở VTN cần chú ý: Không đi một mình nơi đường vắng; không để người
lạ vào nhà nhất là khi chỉ có một mình; Giữ khoảng cách khi giao tiếp với
người khác; Khi thấy có dấu hiệu bị xâm hại và lạm dụng TD cần báo ngay
với gia đình hoặc cơ quan chức năng [22].
1.1.6. Kiến thức về tình bạn, tình yêu
1.1.6.1.Tình bạn [24]
Tình bạn là một loại tình cảm gắn bó giữa hai hoặc một nhóm người
vì hợp nhau về tính tình, giống nhau về sở thích có chung một quan điểm
sống lý tưởng, ước mơ …Tình bạn có thể là với bạn cùng giới hoặc bạn khác
giới. Nó có vai trò lớn trong đời sống của mỗi người đặc biệt là với thanh
thiếu niên. Trong quan hệ bạn bè mỗi người có thể tự đánh giá, tự tìm hiểu
bản thân mình qua tương tác với những người bạn, đồng thời dựa vào sự góp
ý của bạn bè mà tự phấn đấu, giáo dục mình tiến bộ, tự hoàn thiện. Tình bạn
là một sức mạnh tinh thần to lớn động viên mỗi người trong tập thể cùng
giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia
đình hạnh phúc, xã hội phát triển” [22].
1.2.2. Ý nghĩa của GDGT [12]
Mục đích giáo dục của chúng ta hiện nay là đào tạo con người phát
triển toàn diện. GDGT góp phần quan trọng vào việc phát triển một nhân
cách toàn diện, làm con người có điều kiện xây dựng xã hội tốt đẹp lành
mạnh. GDGT có ý nghĩa to lớn đến việc phát triển toàn diện nhân cách con
người, đáp ứng những quy luật, phát triển về tâm lý, sinh lý cơ thể, đặc biệt
là sự trưởng thành của nhân cách trong xã hội. Nó còn có ý nghĩa to lớn đối
11
với giáo dục dân số và sự phát triển chung của toàn xã hội. Mặt khác giáo
dục giới tính có ý nghĩa to lớn đến sự phát triển tâm sinh lý của các em và
đời sống xã hội hiện nay, có tác dụng phòng ngừa và giảm tác hại của việc
quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Chương trình GDGT ở trường THCS nếu được giảng dạy một cách
thích hợp sẽ có tác dụng phòng ngừa quan trọng. Nó trang bị kiến thức cho
học sinh biết đưa ra những quyết định đúng đắn cho cuộc sống, những hành
vi tình dục lành mạnh đảm báo sức khỏe lâu dài và là công cụ hữu hiệu nhất,
kinh tế nhất để giảm bớt số ca NPT, những đứa con không cha và nhất là
ngăn chặn nguy cơ bị lây nhiễm HIV của nữ sinh khi họ quan hệ tình dục
trước hôn nhân. GDGT góp phần ngăn chặn và đẩy lùi HIV/AIDS thông qua
chậm kết hôn, kế hoạch hóa và sử dụng BPTT đúng cách. GDGT là khuyến
khích lối sống lành mạnh và các hành vi có trách nhiệm để phòng ngừa bệnh
tật.
Muốn vậy công tác GDGT phải được tiến hành sớm, phải tiến hành
trước khi các em có hành vi quan hệ tình dục hay bỏ học. Cung cấp kiến
thức, xác định thái độ, huấn luyện kỹ năng và khuyến khích thực hiện các
Liberia là 50-60%, Hàn Quốc, Philippin và Thái Lan là 50-70% [29]. Vấn đề
có thai và sinh con: tại các nước đang phát triển khoảng 40% số phụ nữ có
thai và sinh con dưới 20 tuổi, đặc biệt ở Tây Phi tỷ lệ này tới 56%. Vấn đề
nạo phá thai: mỗi năm trung bình có 4,4 triệu VTN ở các nước đang phát
triển phải nạo phá thai trong điều kiện không an toàn [26]. Hằng năm có
khoảng 14 triệu VTN nữ trên thế giới (15-19 tuổi) đã sinh đẻ [30].
Nghiên cứu tại một số nước đang phát triển cho thấy, hầu hết VTN
đều có kiến thức về phòng tránh thai [28]. Hai BPTT thường được biết đến
nhiều nhất ở các nước là BCS và thuốc tránh thai [28]. Các biện pháp tránh
13
thai truyền thống được biết đến với tỷ lệ thấp hơn: Indonesia 7,0% biết biện
pháp tính vòng kinh và 5,4% biết đến biện pháp xuất tinh ngoài. Tuy nhiên
thanh thiếu niên có QHTD ít sử dụng BPTT, hầu hết chờ cho đến khi có
QHTD trước khi sử dụng bất cứ BPTT nào và nhiều người chờ cho đến khi
có thai. Trung bình thanh thiếu niên giao hợp không bảo vệ trong một năm
hay hơn trước khi cô gái đòi hỏi tránh thai [28].
Hậu quả hay gặp của QHTD trước hôn nhân và không sử dụng các
BPTT là mang thai ngoài ý muốn, nạo hút thai, NKĐSS và mắc các
BLQĐTD.
Ở Jamaica, nghiên cứu trên 500 học sinh từ 11-14 tuổi cho thấy chỉ
có 27% nữ, 32% nam biết rằng có thể mang thai khi QHTD lần đầu. Ở Ấn
Độ, cứ 100 cô gái đến bệnh viện để phá thai thì có tới 80% không biết rằng
QHTD có thể mang thai hay nhiễm các BLTQĐTD và 90% không biết về
các BPTT. Khoảng 370 học sinh trung học Nga được khảo sát chỉ có 25%
nữ và 35% nam biết rằng BCS nên sử dụng một lần [31]. Nghiên cứu ở Ý
năm 2009 thấy khoảng 1/2 vị thành niên có quan hệ tình dục, tuổi trung
bình quan hệ tình dục lần đầu là 15,6 tuổi, biện pháp tránh thai được sử dụng
nhanh. Hiện nay tỷ lệ NPT ở Việt Nam đang ở mức báo động, chúng ta dẫn
đầu khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới. Trong đó VTN, TN
chiếm 22% số vụ NPT và đang có xu hướng tăng lên [5]. Nước ta có 10,9%
trẻ gái lứa tuổi 15-19 đã kết hôn [36] và ở trong nhóm tuổi VTN có 10% đã
có hoạt động tình dục [37]. Còn theo báo cáo ngày 14/3/2005 của Bộ Y Tế
thì tình hình nhiễm HIV ở nhóm tuổi trẻ tại thời điểm đó có 90844 người
nhiễm HIV, 14560 người bị AIDS và 8494 tử vong, trong đó có 0,84% dưới
13 tuổi, 8,36% từ 13 đến 19 tuổi và 55,76% từ 20 đến 29 tuổi [38]. Vậy
nhiễm HIV/AIDS tập trung rất lớn ở nhóm tuổi VTN và thanh niên (trên
60%).Tình hình xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói
riêng ở Việt Nam trong những năm vừa qua vẫn diễn biến hết sức phức tạp.
15
Theo số liệu của tòa án tối cao, số trường hợp hiếp dâm VTN từ 10-15 tuổi
từ 37 ca năm 1994 đã lên 86 ca năm 1996 [39].
Ngày nay, với nền kinh tế thị trường, môi trường xã hội ngày một
phức tạp, sự tiếp xúc các nguồn thông tin rất đa dạng, lối sống tự do, hệ
thống giá trị chuẩn mực xã hội thay đổi nhiều, đối tượng vị thành niên càng
dễ đi đến những hành vi không có lợi cho sức khỏe nếu không được trang bị
thông tin đầy đủ, đúng đắn.
Gần đây, từ đầu thời kỳ đổi mới, do nhận thức sâu sắc hơn tầm quan
trọng của tuổi VTN trong quá trình trưởng thành và phát triển của chu kỳ
đời người, cho nên các công trình nghiên cứu về vấn đề này xuất hiện ngày
càng nhiều. Ở Việt Nam, thống kê sơ bộ đã có trên 50 công trình nghiên cứu
gần, xa về vấn đề này [40] và còn có hàng trăm bài báo, tạp chí, báo cáo
khoa học được công bố rải rác trên nhiều ấn phẩm khác nhau. Những ấn
phẩm và công trình nghiên cứu này tuy chưa hệ thống hóa một cách toàn
diện, song ở nhiều góc độ khác nhau đã đề cập đến một số nội dung của sức