TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO
HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VĂN KHÊ,
HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
Sinh viên thực tập
: Lê Thị Ngân
Mã sinh viên
: DH00301127
Lớp
: DH3QD3
Giảng viên hướng dẫn
: ThS. Trần Thị Oanh
Hà Nội, năm 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đồ án tốt
nghiệp em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá
nhân
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng
cho con người. Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh
tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không
thể thay thế đươc, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Đất là cơ sở của
sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả
sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra
lương thực thực phẩm nuôi sống con người. Việc sử dụng đất có hiệu quả và
bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức
sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng
tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã
hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những
nhu cầu ngày càng tăng đó. Vậy là đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn
về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên
và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến
sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra
mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc
đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản suất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại
hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và
phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được
các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có nền nông
nghiệp chủ yếu như Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Xã Văn Khê là một xã đồng bằng nằm ở phía Đông Nam huyện Mê
Linh, cách trung tâm huyện 3 km, nằm cách trung tâm Hà Nội 20 km về phía
Tây Nam, với tổng diện tích tự nhiên 1327,08 ha, trong đó diện tích đất nông
nghiệp của xã là 946,45 ha. Là một xã thuần nông, sản phẩm nông nghiệp chủ
yếu là các cây lúa, ngô, đậu tương và các cây rau màu, cụ thể: Bí xanh, cà
chua, hành tây; các loại: Hoa hồng , hoa cúc. Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp
Định hướng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
2.
-
-
4
Chữ viết tắt
5
Chữ viết đầy đủ
GTSX
Giá trị sản xuất
CPTG
Chi phí trung gian
GTGT
Giá trị gia tăng
HQĐV
Hiệu quả đồng vốn
Nuôi trồng thủy sản
UBND
Ủy ban nhân dân
UNPD
Chương trình phát triển liên hợp
quốc
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Cơ sở lý luận
1.1.1. Đất đai và vai trò của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1.1.
Khái niệm về đất đai
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau:
"đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu
thành của môi trường sinh thái ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu,
bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước ( hồ, sông, suối, đầm lầy,...).
Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng
đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những
kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước
hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa. ..)" [21].
Theo nguồn gốc phát sinh, nhà khoa học Đocutraiep (1864-1903) người
Đối với nông nghiệp đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là
điều kiện sản xuất đồng thời là đối tượng lao động ( luôn chịu tác động trong
quá trình sản xuất như: cày bừa, xới,…) và là tư liệu sản xuất hay công cụ lao
động ( sử dụng đất để trồng trọt, chăn nuôi,…).
Ngoài vai trò là cơ sở không gian đất còn có 2 chức năng đặc biệt quan
trọng:
- Là đối tượng chịu tác động trực tiếp của con người trong quá
trình sản xuất.
Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng muối
khoáng, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Như vậy,
đất trở thành công cụ sản xuất. Năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm
phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất. Trong tất cả các tư liệu sản xuất dung
trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này. Vì vậy có thể nói đất là tư
liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong nông nghiệp.
1.1.2. Sử dụng đất nông nghiệp bền vững
1.1.2.1 .
Khái quát về sử dụng đất bền vững
1.1.1.2.
-
Sử dụng đất bền vững là nhu cầu cấp bách của nhà nước ta cũng như
nhiều nước trên thế giới. Nhưng hiện tại lũ lụt, sa mạc hóa, diện tích đất trống
đồi núi trọc ngày càng tăng là nguyên nhân cảu việc sử dụng đất kém bền
vững làm cho môi trường tự nhiên ngày càng suy thoái.
Khái niệm bền vững được nhiều nha khoa học trên thế giới và trong
nước nêu ra và hướng vào 3 yêu cầu sau:
-
Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường
lý góp phần bảo vệ độ phì đất.
- Sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là tiền đề để sử dụng có
hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông
dân.
- Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị
trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông
nghiệp bền vững [18].
1.1.2.3 .
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Theo FAO, nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý hiệu quả tài
nguyên cho nông nghiệp ( đất đai, lao động... ) để đáp ứng nhu cầu cuộc sống
của con người đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên, môi
trường và bảo vệ tài nguyên. Hệ thống nông nghiệp bền vững phải có hiệu
quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đông thời giữ gìn
và cải thiện môi trường tài nguyên cho đời sau.
Bền vững thường có ba thành phần cơ bản:
Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông
nghiệp phù hợp điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường.
Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan
hệ con người hiện tại và cả cho đời sau.
Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý.
Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” được dựa trên các quan điểm sau:
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất.
- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất.
- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất và nước.
- Có hiệu quả lâu bền.
8
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người càng được nâng cao thì
nhu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng về cả
số lượng, chất lượng và chủng loại. Sự gia tăng này do hai yếu tố:
- Do sự tăng lên không ngừng của dân số.
- Do sự tăng lên của nhu cầu bản thân từng con người.
Chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới có hy vọng
đáp ứng được những nhu cầu tăng lên thường xuyên đó.
Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu
vào cho ngành công nghiệp. Đây cũng là xu hướng có tính quy luật của mọi
quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nhưng ngược
lại nông nghiệp và nông thôn lại là thị trường tiêu thụ rộng lớn của công
9
nghiệp. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm
tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, chủ yếu dựa vào thị trường trong nước
mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong
khu vực nông nghiệp và nông thôn sẽ có tác động trực tiếp tới sản xuất ở khu
vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp cũng như tại các khu
dân cư nông thôn là điều kiện hết sức quan trọng làm tăng nhu cầu đối với các
sản phẩm công nghiệp - tạo điều kiện nhanh cho ngành công nghiệp phát triển
giúp cho đất nước phát triển toàn diện [6].
Sản xuất nông nghiệp là một hoạt động kinh tế không thể thiếu của mỗi
quốc gia trên thế giới, dù ít hay nhiều là nước phát triển hay đang phát triển
thì nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
1.1.3.2.
Vai trò của nghành nông nghiệp trong nền kinh tế thị
trường
* Nền kinh tế nông nghiệp theo định hướng XHCN
Từ Đại hội lần thứ VI (12/1986), Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước
hướng XHCN
Ngoài những ý nghĩa to lớn của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế
thì đối với nền kinh tế như nước ta (nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN) ngành nông nghiệp còn có những vài trò
quan trọng như:
Việc phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng quan hệ hàng hóa - tiền tệ
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa to lớn về kinh tế xã hội:
Thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao động xã hội trong nông
nghiệp, nông thôn góp phần chuyển nền nông nghiệp từ độc canh lương thực
sang phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa kết hợp với kinh doanh
tổng hợp, tạo ra những vùng chuyên môn hóa tập trung, góp phần chuyển dịch
kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý.
Thúc đẩy việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và lợi
thế của từng vùng, từng điạ phương, từng chủ thể kinh doanh để tạo ra nhiều
nông sản trao đổi trên thị trường, thu lợi nhuận cao.
Kích thích các đơn vị sản xuất kinh doanh áp dụng tiến khoa học kỹ
thuật, đổi mới công nghệ, đầu tư vốn và lao động hợp lý, tiết kiệm để đạt
được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, nhất là trong việc sản xuất
các loại nông sản hàng hóa.
Thông qua quan hệ canh tranh và hợp tác, quan hệ trao đổi bình đẳng
giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh, giữa các ngành, các vùng trong nước và
nước ngoài làm cho trình độ xã hội hóa ngày càng được mở rộng.
Việc phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn tạo ra
nhiều tiền đề vật chất khách quan và cơ sở kinh tế cho nông nghiệp đáp ứng
được nhu cầu nhiều mặt của xã hội [6].
Đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong nông nghiệp (sở hữu nhà
nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân) thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển
theo hướng cạnh tranh giúp cho số lượng cũng như chất lượng sản phẩm nông
nghiệp không ngừng được tăng lên. Điều này rất có lợi khi nông sản nước ta
có thể cạnh tranh với nông sản các nước trên thương trường quốc tế.
hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất các cây trồng
hàng năm, lâu năm, lúa . đồng cỏ, rừng [23].
Tuy nhiên trong đánh giá đất (LE), nếu chỉ xem xét việc sử dụng đất
qua các loại hình sử dụng đất chính thì chưa đủ, vì chúng chưa phản ánh
được:
-
Những loại cây trồng hay giống loài cây gì được trồng? Điều này rất quan
trọng vì mỗi loài, giống cây khác nhau sẽ đòi hỏi điều kiện đất đai khác nhau.
Các loại phân bón được dung đã đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cảu các loại cây
trồng chưa? Đôi khi việc sử dụng phân bón không hợp lý còn làm giảm độ phì
đất hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất đó.
Để trả lời được những vấn đề trên, cần phải có những mô tả chi tiết hơn
trong việc sử dụng đất, vì vậy một khái niệm “Loại hình sử dụng đất” (LUT)
được đề cập đến trong LE.
∗
-
Loại hình sử dụng đất (Land use type – LUT): Là loại hình đặc biệt của sử
dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định [23]. Theo H.Hulzing
(1993) các thuộc tính đó bao gồm:
- Thuộc tính sinh học: Các sản phẩm và lợi ích khác.
Thuộc tính kinh tế - xã hội: Định hướng thị trường, khả năng vốn, khả năng
lao động, kỹ thuật, kiến thức và quan điểm.
12
[18].
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử
dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong
hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng
tiền. Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong
quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất. Riêng đối với ngành
nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng
lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là
sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý
nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định
về kinh tế - xã hội đất nước.
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện
pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi
1.1.4.2.
13
thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những
hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền
kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế [2].
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết
các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa
học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn
là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông
nghiệp [18].
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử
dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó
mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối
lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao
động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội".
∗ Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã
hội và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ
mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất. Theo Nguyễn Duy Tính,
hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định
bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu
nhập của nhân dân... Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển,
phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân.
Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc
sử dụng đất bền vững hơn.
∗ Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải
bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ
môi trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái
(>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [18].
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và
theo chiều hướng khác nhau. Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc
tính, tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của
các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây
trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường.
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm:
hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh
giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp. Đó là việc
sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông
nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối
ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu. [15].
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học [20].
và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Mối
quan hệ này có thể là quan hệ hiệu số hoặc quan hệ thương số nên dạng tổng
quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả:
-
-
-
H=K–C
H= (K-C)/C
H = K/C
H = (K1-K0)/(C1-C0)
Trong đó:
H: hiệu quả; K: Kết quả; C: Chi phí; 1 và 0 là chỉ số về thời gian(năm)
Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp.
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một năm).
∗
Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân.
Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng.
Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân.
Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật...
Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất khẩu.
Các chỉ tiêu hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải, chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong
quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
- Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
Đánh giá quản lý đất đai;
- Đánh giá hệ thống cây trồng;
Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ
cây trồng;
- Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
- Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất.
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất
nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu,
phân tích trong thời gian dài. Vì vậy, đề tài của em chỉ dừng lại ở việc đánh
giá:
Mức độ thích hợp của hệ thống cây trồng đối với đất ( tỷ lệ các loại cây trồng
có khả năng cải tạo đất và bảo vệ đất )
- Mức đầu tư phân bón ( đánh giá mức đầu tư phân bón vô cơ và
hữu cơ)
Mức đầu tư TBVTV ( đánh giá mức đầu tư TBVTV có nguồn gốc hoá học và
TBVTV có nguồn gốc sinh học).
17
1.1.5. Sử
cứu sâu về hệ thống nông nghiệp trên thế giới thì chỉ có tiến lên hệ thống canh
tác thâm canh cơ giới hóa vốn đầu tư lớn, khả năng đảm nhận diện tích lớn thì
mới có năng suất lao động và thu nhập cao, sản phẩm hàng hóa tạo ra nhiều.
Điều đó chứng tỏ rằng chỉ khi nào thực hiện công nghiệp hóa, sản xuất trên
một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tư liệu sản xuất bằng máy móc mới đưa
lại năng suất lao động cao, có lượng hàng hóa lớn để bán, khi đó mới thúc đẩy
nền sản xuất phát triển [10].
Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản phẩm được sản xuất ra không phải để
thỏa mãn nhu cầu cá nhân cuả người sản xuất mà là để trao đổi trên thị trường
thì được gọi là sản phẩm hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa là một tất yếu khách quan, một thuộc tính bên trong
lâu dài của chính sự phát triển nông nghiệp nước ta theo định hướng XHCN.
18
Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa có những ưu thế đặc biệt.
Nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động
xã hội. Trong kinh tế hàng hóa có sự tác động của quy luật giá trị, sự nghiệt
ngã của cạnh tranh, sự khắt khe của thị trường và quy luật cung cầu buộc
người nông dân phải năng động và biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm,
nâng cao chất lượng các sản phẩm nông nghiệp cho phù hợp với nhu cầu xã
hội. Khi có sản xuất hàng hóa, quá trình xã hội hóa sản xuất nhanh chóng
được thúc đẩy làm cho sự phân công chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu
sắc, hợp tác hóa chặt chẽ, hình thành các mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau,
hình thành thị trường trong nước và thế giới, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ
và tập trung sản xuất, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, bình đẳng và tiến bộ xã
hội. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá mang lại rất nhiều lợi
ích.
Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là sự tiến hóa hợp
quy luật. Đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, manh mún,
nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật tự nhiên. Cho nên
chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc vào điề kiện tự nhiên. Các yếu tố tự nhiên
như: đất, nước, thời tiết khí hậu, địa hình, vị trí địa lý, các hệ sinh thái rừng,
biển,… có tác động rất lớn. Nó có thể thúc đẩy hay ức chế sự phát triển sinh
trưởng của cây trồng vật nuôi [10].
Sản xuất hàng hóa thực sự chỉ có hiệu quả khi nó thích ứng với điều
kiện tự nhiên. Điều kiện tự nhiên là cơ sở tự nhiên phân công lao động xã hội
trong nông nghiệp. Điều này đòi hỏi phải lựa chọn một tập đoàn vật nuôi, cây
trồng thích ứng với điều kiện tự nhiên của từng vùng và phải khai thác lợi thế
so sánh của từng nơi để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Phải nâng cao trình
độ chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, gắn với sản xuất chế biến [23].
∗ Yếu tố khí hậu
Nhìn chung khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới ẩm nhứng có tính
chất phân hóa mạnh mẽ, đặc biệt là miền núi do hình thể các khối núi chia cắt
dịa hình và các dòng lưu khí hậu. Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam có 7 tiểu
vùng khí hậu khác nhau nên chúng ta có thể đa dạng hoá các loại cây trồng,
vật nuôi.
Sự chênh lệch về vĩ độ, độ cao đã tạo nên những nét đặc trưng của
từng tiểu vùng sinh thái khác nhau, miền Bắc có mùa đông lạnh, nhiệt độ
trung bình 22,2-23,50C, lượng mưa trung bình 1.500-2.400mm,tổng số giờ
nắng từ 1.650-1.750 giờ/năm là ưu thế để phát triển các loại cây rau vụ đông
như các loại đỗ, bắp cải, xúp lơ…, các cây ăn quả có nguồn gốc ôn đới có thể
trồng được ở đây như táo, đào,… Đối với miền Nam khí hậu mang tính xích
đạo, nhiệt độ trung bình 22,6-27,50C, lượng mưa trung bình 1.400-2.400mm,
giờ nắng trên 2.000 giờ/năm thì lại phù hợp với các loại cây trồng có nguồn
gốc nhiệt đới như xoài, mãng cầu,…Ở các vùng núi cao có khí hậu mát thích
hợp cho các loại cây nhiệt đới còn có các loại cây ôn đới, á nhiệt đới hay phù
hợp với những loại cây trồng khó tính hơn như các loại hoa. Chính vì thế Khí
hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây
trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp.
trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất
hiện ngày càng nhiều. Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc
tăng hệ số sử dụng đất. Vì vậy, những tiến bộ trong công tác giống cây trồng
đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá.
Đánh giá đúng đắn các đặc điểm tự nhiên, xác định được đúng cây
trồng vật nuôi có lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối để lựa chọn phát triển
thích hợp với từng tiểu vùng là vấn đề có ý nghĩa kinh tế sinh thái to lớn.
b.
Nhóm yếu tố kỹ thuật và công nghệ
Đây là nhóm yếu tố trực tiếp làm thay đổi trạng thái sản xuất. Kỹ thuật
công nghệ quyết định phương pháp sản xuất bằng thủ công hay bằng máy
móc cơ khí, máy móc tự động hóa… Ngày nay cách mạng khoa học kỹ thuật
– công nghệ của thế giới bước vào giai đoạn ba - giai đoạn phát triển
cao.Trong nông nghiệp đã có nhiều công nghệ cao thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp, phát triển nhanh tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có
tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì
cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất. Do đó trong quá trình
phát triển ngành nông nghiệp nước ta đã tiếp thu được nhiều giống cây trồng,
vật nuôi có năng suất cao hơn. Các giống lúa lai đã được đưa vào trồng và đã
có bước nhảy vọt về năng suất và thay đỏi cơ cấu mùa vụ, luân canh cây
trồng. Từ chỗ phải nhập hoàn toàn các giống lúa lai thì giờ đấy các nhà khoa
học trong nước đã tạo ra được các giống lúa lai mới đã chủ động rất nhiều
21
c.
∗
∗
∗
Thị trường hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất sản phẩm gì, sản xuất như thế
nào để đạt hiệu quả cao đều do nền thị trường quyết định. Cầu thị trường là
căn cứ thúc đẩy người sản xuất lựa chọn cho mình khả năng tham gia cụ thể
vào thị trường sao có lợi nhất về từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể ở mỗi
vùng, mỗi địa phương. Theo Nguyễn Duy Tính (1995), 3 yếu tố chủ yếu ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là:
-
Năng suất cây trồng,
Hệ số quay vòng đất
Thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra.
22
Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng
hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh,
liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần
với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Muốn mở rộng
thị trường trước hết phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin,
dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn..., quy hoạch các vùng trọng điểm sản
xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì, bán ở đâu, mua tư
liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì. Sản phẩm hàng hoá của Việt
Nam cũng sẽ rất đa dạng, phong phú về chủng loại chất lượng cao và giá rẻ và
đang được lưu thông trên thị trường, thương mại đang trong quá trình hội
nhập là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá có hiệu quả.
Lao động
Với tư cách là người tạo ra của cải vật chất bao gồm cả số lượng và
chất lượng lao động, trình độ phân công và hợp tác lao động. Trong nền kinh
tế hàng hóa còn đòi hỏi con người lao động có khả năng tiếp thị, có phương
pháp, nghệ thuật ứng sử một cách khôn ngoan với thị trường để bán được
nhiều hàng và thu được lợi nhuận lớn. Khi lực lượng lao động có đầy đủ năng
lực sẽ tác động tích cực thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển.
∗
Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng
Muốn mở rộng thị trường trước hết phải phát triển hệ thống cơ sở hạ
tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn..., quy hoạch các
vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì,
bán ở đâu, mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì. Đây là nền
tảng cho hoạt động sản xuất lưu thông, nó phản ánh trình độ phát triẻn của lực
lượng sản xuất, thể hiện trình độ kỹ thuật và khả năng cải tạo nền sản xuất.
e.
Nhóm yếu tố quản lý nhà nước
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình thông qua việc
sử dụng các giải pháp kinh tế. Đây là nhân tố ảnh hưởng hưởng rất lớn tới quá
trình sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp. Sản xuất hàng hóa luôn gắn với thị
trường. Thị trường với bản chất của nó mang tính tự phát. Vì thế không có sự
can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường thì quá trình sản xuất
hàng hóa tự phát khó tránh những rủi ro dẫn tới lãng phí cho nền kinh tế, gây
thiệt hại đối với người sản xuất cũng như người tiêu dùng [6].
Ngày nay, hầu hết các nước đều thực hiện quản lý kinh tế theo cơ chế
hỗn hợp. Đó là cơ chế kinh tế kết hợp giữa bàn tay vô hình điều tiết kinh tế thị
cho đất nông nghiệp giảm về cả số lượng. Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở
thành sa mạc không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhậy
cảm với việc khai thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý. Nghèo đói, mất
ổn định chính trị, phá rừng chăn thả quá múc và các hoạt động tưới tiêu nghèo
nàn đều đóng góp vào sa mạc hóa. Tại Châu Phi, phía nam Sahara, với 66%
đất đai là sa mạc khô cằn đây là vùng đất đang gặp rất nhiều nguy cơ. Khoảng
1,2 tỷ người của hơn 110 nước đang bị đe dọa bởi vấn đề này[8].
Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá, nhiều nhất ở vùng
Châu Mỹ Latinh và Châu Á. Braxin hang năm mất 1,7 triệu ha rừng, Ấn Độ
1,5 triệu ha rừng, Inđônêxia 900.000 ha và Thái Lan gần 400.000 ha. Đối với
các nước có dân số đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh... sự
suy thoái hóa đất ở, đất rừng đã tác động đáng kể tới nông nghiệp. Đối với các
nước như Campuchia, Lào... nạn phá rừng làm củi đun, làm nương rẫy, xuất
khẩu gỗ, chế biến các sản phẩm từ gỗ phục vụ cho cuộc sống của cư dân đã
làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng vốn phong phú.
Việc tàn phá rừng kéo theo sự hủy diệt của nhiều loài động vật, thực vật
và làm mất tính đa dạng sinh học tự nhiên. Cân bằng sinh thái bị phá vỡ làm
hàng triệu ha đất bị hoang mạc hóa[10].
Việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp không bền vững sẽ làm trầm
trọng vòng luẩn quẩn: suy thoái dất - mất đa dạng sinh học - biến đổi khí hậu.
Suy thoái hóa đất làm nghèo dinh dưỡng, phá hủy cân bằng chu trình nước và
góp phần làm mất an ninh lương thực, tỷ lệ nghèo đói gia tăng, cùng với mức
tăng dân số và hàng loạt các nhu cầu của con người về các sản phẩm nông
nghiệp ngày càng tăng thì cách tiếp cận quản lý đất đai không bền vững rõ
ràng là đã thất bại.
25