PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HIỆP HÒA
TRƯỜNG THCS DANH THẮNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ
MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
CHO HỌC SINH LỚP 9
HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ TÌNH
TỒ: KHOA HỌC XÃ HỘI
Danh Thắng, tháng 12 năm 2015
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lí do chọn đề tài:
1/ Cơ sở lý luận:
Sự nghiệp Giáo dục và đào tạo có vị trí đặc biệt trong toàn xã hội. Trong thời kỳ
đổi mới và phát triển mọi mặt về kinh tế, chính trị xã hội hiện nay Đảng và Nhà nước
ta luôn coi trọng vấn đề phát triển toàn diện đặc biệt là thế hệ trẻ. Vì vậy, thế hệ trẻ những mầm non tương lai của đất nước, phải có một nền tảng vững vàng. Nền tảng
vững chắc đó là gì? Đó chính là tri thức, kiến thức vững chắc. Tri thức đó chính là do
giáo dục mà ra. Vì lẽ đó, ngành giáo dục cũng không ngừng đổi mới - đổi mới SGK,
đổi mới phương pháp giảng dạy. Cụ thể là bộ môn Ngữ văn trước kia phân thành ba
phân môn rõ ràng với ba cuốn sách giáo khoa: Văn học, Tiếng việt, Tập làm văn.
Ngày nay với xu hướng phát triển toàn diện cho học sinh sách giáo khoa Ngữ văn có
sự đổi mới đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa ba phân môn: Văn học, Tiếng việt, Tập làm
văn. Với chương trình liền mạch, có sự lô gic hỗ trợ, bổ sung một cách rất toàn diện
từ khâu hiểu văn bản sử dụng ngôn từ thực hành (viết văn bản).
Cốt lõi của nhà biên soạn sách giáo khoa hiện nay là mong muốn cung cấp cho
học sinh kỹ năng tiếp thu, vận dụng và thực hành. Tức là "học phải đi đôi với hành"
nghĩa thực chất của vấn đề là từ một văn bản cụ thể trên lớp các em học, tiếp thu, hiểu
Nền kinh tế ấy đòi hỏi con người phải thực sự có hiểu biết mới đáp ứng được yêu cầu
của sự phát triển. Do đó, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu. Mặt khác, quá
trình hội nhập, sự giao lưu về kinh tế, văn hóa làm tăng thêm nhận thức ở mỗi người,
thúc đẩy quá trình đổi mới giáo dục sâu sắc. Đặc biệt, trong những năm vừa qua, Bộ
giáo dục và đào tạo có nhiều chương trình tập huấn và đi đến sự đổi mới đồng bộ từ
mục đích, nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy nên nền giáo dục nước
nhà có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới. Sự đổi
mới của nền giáo dục coi trọng tất cả các môn học để giáo dục học sinh một cách toàn
diện. Trong đó, môn Ngữ văn cũng đặc biệt được chú trọng bởi tính ứng dụng của nó.
Văn học là hình ảnh thu nhỏ của đời sống. Mỗi trang văn là một mảnh đời, một chi
tiết nhỏ có ý nghĩa giáo dục. Như Go-rơ-ki từng nói "Văn học là nhân học". Thầy cô
giáo như người nghệ sĩ tâm hồn. Qua mỗi giờ học,thầy cô giáo bồi đắp cho các em
bao tình cảm cao đẹp như tình yêu gia đình, yêu quê hương,đất nước, yêu Chủ nghĩa
xã hội và hình thành cho các em, hướng các em đến bao giá trị cao đẹp: lòng vị tha,
trọng sự công bằng, biết căm ghét cái xấu cái ác. Muốn đến cái đích ấy thì người thầy
phải không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy làm thế nào để học sinh có kỹ
năng viết bài dạng nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ một cách nhuần nhuyễn.
Bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy trực tiếp môn Ngữ văn ở trường THCS
Danh Thắng - Trường THCS Danh Thắng là một ngôi trường ở vùng nông thôn của
huyện Hiệp Hòa, nền kinh tế chung của xã chủ yếu là nông nghiệp, điều kiện kinh tế
còn hạn chế, đặc biệt cơ sở vật chất nhà trường còn nhiều thiếu thốn. Hơn thế, ý thức
của học sinh, phụ huynh còn lệch lạc muốn con em theo các môn khoa học tự nhiên,
thờ ơ với các môn khoa học xã hội đặc biệt là môn Ngữ văn. Mặt khác qua tìm hiểu
tôi thấy các em sợ môn Ngữ văn vì khó, vì ngại…Vậy nên học sinh chưa có niềm say
mê và thích học bộ môn này. Đây là điều rất đáng buồn với người đứng lớp giảng dạy
phân môn Ngữ văn như chúng tôi. Tuy nhiên, tôi không nản chí, không ngại khó trong
quá trình làm việc tại địa phương tôi đã không ngừng tìm hiểu để làm sao đánh thức
niềm say mê yêu môn Ngữ văn từ học sinh và làm thay đổi về cái nhìn lệch lạc của
phương pháp sau:
- Phương pháp tự nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp sưu tầm tài liệu
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phỏng vấn
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu:
-Nghiên cứu đối tượng học sinh lớp 9B Trường Trung học cơ sở Danh Thắng thông
qua dạy chương trình chính khóa và chương trình học ôn.
-Nghiên cứu cách thức đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực của
đồng nghiệp.
- Nghiên cứu đề tài qua việc các em thực hành tạo lập văn bản nghị luận văn
chương và nhất là thơ.
-Kết quả làm bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
2. Phạm vi nghiên cứu:
Nói đến văn nghị luận thì phạm vi rất rộng, trong nghị luận có thế sử dụng nhiều
phép lập luận như: Chứng minh, giải thích, phân tích tổng hợp...Đồng thời có nhiều
dạng nghị luận: Nghị luận xã hội, nghị luận văn học, nên cùng một lúc không thể đề
cập hết được. trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ xin nói đến một khía cạnh nhỏ đó là:
“Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ” trong chương trình lớp 9
IV-Giới hạn của đề tài
+ Giới hạn thời gian: Từ đầu năm học 2015 - 2016 đến nay
+ Giới hạn không gian: Trường THCS Danh Thắng.
+ Giới hạn đối tượng: Học sinh lớp 9B ( lớp đại trà)
+ Giới hạn kiến thức: Kiến thức về nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
tác phẩm thơ trữ tình. Quan niệm đó cho thấy việc hiểu về văn nghị luận cũng chưa
thật đầy đủ. Sách giáo khoa mới cho thấy, nghị luận văn học không chỉ đơn thuần là
phân tích mà còn là suy nghĩ, cảm nhận... về tác phẩm văn học. Tuy nhiên, đó không
phải là những dạng khác nhau của văn nghị luận văn học. Đối với dạng nghị luận về
một bài thơ, đoạn thơ trong chương trình Ngữ văn 9 cũng vậy, việc dạy cho học sinh
có kỹ năng nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ không chỉ đơn thuần là giúp các em
biết phân tích thơ mà còn giúp các em có phương pháp phân tích, cảm thụ, suy nghĩ,
đánh giá, nhận xét, bình luận...về bài thơ, đoạn thơ ấy. Đồng thời biết trình bày ý kiến
của mình một cách có hệ thống, có luận điểm rõ ràng, mạch lạc và trình bày có cảm
xúc bằng những tình cảm chân thành, bằng hình ảnh gợi cảm để bài viết có sức thuyết
phục, hấp dẫn người đọc.
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
1. Thuận lợi - khó khăn
+Thuận lợi:
Với sự phát triển của khoa học và kĩ thuật như hiện nay các em học sinh được
tiếp xúc với nhiều phương tiện và kĩ thuật hiện đại. Những yếu tố đó đã góp phần
giúp các em tiếp cận bài học nhanh hơn, tích cực hơn. Một số em rất yêu thích môn
học, thích tìm tòi khám phá những kiến thức mới qua mỗi bài học.
Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến công tác nâng cao chất lượng dạy
học đặc biệt là chất lượng đại trà. Cơ sở vật chất của nhà trường đã được nâng cao,
nhà trường trang bị thêm máy vi tính cho giáo viên sử dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy.
+Khó khăn:
Hiện nay, không chỉ riêng gì ở Trường THCS Danh Thắng , mà ở rất nhiều trường
trong địa bàn toàn huyện phần lớn học sinh thờ ơ với môn văn, không hứng thú học
môn Ngữ văn. Dẫn chứng là có những học sinh có năng khiếu, có chất văn nhưng
cũng không theo đội tuyển học sinh giỏi.Vậy đâu là nguyên nhân chủ yếu? Phải
chăng do tác động của xã hội? Trào lưu xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc học
phương pháp làm bài. Vì vậy, chất lượng làm bài chưa cao. Đây chính là vấn đề mà
người giáo viên dạy Ngữ văn như tôi cần phải suy nghĩ. Một điểm yếu nữa là thời
gian có hạn, ảnh hưởng không nhỏ đến việc kiểm tra, chữa bài cụ thể cho từng học
sinh.
4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
4.1.Các nguyên nhân:
Thực trạng dạy và học văn trong các trường Trung học cơ sở hiện nay đang đặt
ra nhiều vấn đề đáng để chúng ta phải quan tâm và suy nghĩ. Học sinh không thích
học văn. Chính vì lẽ đó mà làm cho giáo viên không còn hứng thú và tâm huyết trong
mỗi giờ lên lớp. Vì thế chất lượng các giờ học không cao.
Nhiều em học sinh còn lười học, ham chơi. Chưa tích cực trong các giờ học.
Các em chưa có những kĩ năng cần thiết khi làm một bài văn nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ.
4.2. Các yếu tố tác động:
Như chúng ta đã biết học sinh THCS là lứa tuổi dễ bị thay đổi về tâm lý, lứa tuổi
này rất dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, dễ bị sa vào các trò chơi vô bổ làm
cho các em lười học, không hứng thú trong các giờ học trên lớp. Chính vì vậy, để gây
được hứng thú cho học sinh trong mỗi giờ học là việc làm cần thiết đối mỗi người
giáo viên. Hiểu được đặc điểm đó, tôi luôn chú trọng đến việc rèn kỹ năng viết bài
cho học sinh để các em không ngại mỗi khi phải viết văn.
5. Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra.
Bộ môn Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong nhà trường phổ thông.
Không chỉ cung cấp và hình thành cho học sinh các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết mà
còn giúp các em học sinh hình thành các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống. Hình
thành cho các em năng lực cảm thụ, hướng tới các vẻ đẹp chân - thiện - mĩ. Bồi đắp
tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống. Chính vì vậy, việc
hình thành và rèn cho cho các em những cách tư duy sáng tạo trong học tập là vô cùng
cần thiết. Thông qua quá trình dạy học, người giáo viên phải có ý thức hình thành cho
+V hỡnh thc: vn bn phi cú b cc ba phn rừ rng: M bi, thõn bi, kt bi.
Trong vn bn, cỏc on phi c trỡnh by theo ỳng hỡnh thc ca nú v cú s liờn
kt cht ch bng cỏc t, t hp t thuc cỏc phộp liờn kt.
+V ni dung: vn bn phi trỡnh by trn vn c mt vn no ú do yờu cu
ca bi(ca vn ngh lun).
2. 2 Củng cố lý thuyết v văn nghị luận
.
Để củng cố lý thuyết về văn nghị luận một cách có hệ thống để
từ đó củng cố kiến thức về nghị luận một đoạn thơ, bài thơ. Tôi
đã tiến hành cho học sinh thực hnh mt s bi tp trc nghim, t ú giỳp
cỏc em nm chc hn v lý thuyt.
Bài tập 1: Nhận xét nào sau đây đúng nhất về văn nghị
luận ?
A. Nghị luận là văn đợc viết ra để bày tỏ cảm xúc tình cảm
của mình về những vấn đề trong cuộc sống.
B. Văn nghị luận là văn đợc viết ra nhằm xác lập cho ngời đọc,
ngời nghe một t tởng, quan điểm nào đó. T tởng, quan điểm
phải hớng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống thì
mới có ý nghĩa.
C. Văn nghị luận đợc hình thành dới dạng những bài viết, về
những vấn đề cuc sng cần giải quyết.
D. Cả ý A, B.
Bài tập 2: Luận điểm của bài văn nghị luận là gì?
A. Luận điểm là vấn đề cần nghị luận.
B. Luận điểm là t tởng, quan điểm, là linh hồn bài viết.
C. Luận điểm là ý kiến thể hiện t tởng quan điểm, là linh hồn
của bài viết. Nó thống nhất các đoạn văn thành một khối.
C. Là trình bày cảm xúc về bi thơ, on thơ.
D. Là nêu suy nghĩ về bi thơ, on thơ.
Bài tập 7. Bố cục bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ cần
đảm bảo yêu cầu gì?
A. Bố cục rõ ràng.
B. Bố cục rành mạch.
C. Cả A và B.
Bài tập 8: Lời văn của bài nghị luận về một đoạn thơ, bài
thơ cần nh thế nào ?
A. Lời văn gợi cảm.
B. Lời văn thể hiện sự rung động sâu sắc của ngời viết.
C. Lời văn gợi cảm, thể hiện sự rung động sâu sắc, chân thành
của ngời viết.
T cỏc bi tp trờn,tụi ó ụn tp cng c kin thc cho hc sinh v vn ngh
núi chung. T ú,cng c kin thc v vn ngh lun v mt bi th, on th, rốn
k nng vit bi mt cỏch thun li hn.
2.3.Tng hp cỏc bi th trong gii hn ụn thi lp 10 ca chng trỡnh lp 9
a/ Phn th Trung i:
-Ngh thut t ngi trong Truyn Kiu: on trớch Ch em Thỳy Kiu-t ngi
bng bỳt phỏp c l.
-Ngh thut t cnh trong Truyn Kiu: (chỳ ý NT t cnh ng tỡnh)
+ on trớch: Cnh ngy xuõn.
+ on trớch: Kiu lu Ngng Bớch
b/ Phn th hin i Vit Nam t 1945 n nay:
-Hỡnh nh anh b i c H trong vn hc: ng chớ; Bi th v tiu i xe khụng
kớnh, nh trng
-Tỡnh yờu thiờn nhiờn, yờu cuc sng: Mựa xuõn nho nh, Sang thu
-Tỡnh cm gia ỡnh: Bp la, Núi vi con.
Nga mt lờn nhỡn mt
quen ỏnh in, ca gng
cú cỏi gỡ rng rng
vng trng i qua ngừ
nh l ng l b
nh ngi dng qua ng
nh l sụng l rng
Thình lình đèn điện tắt
Trăng cứ tròn vành vạnh
phòng buyn-đinh tối om
kể chi người vô tình
vội bật tung cửa sổ
ánh trăng im phăng phắc
đột ngột vầng trăng tròn
đủ cho ta giật mình.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
Đề năm 2014-2015
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong “Truyện Kiều”của Nguyễn Du?
“Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.”
(Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD 2013 trang 84,85)
b.2.Một số đề bài đã thi học kỳ trong những năm gần đây.
+ Đề thi học kỳ II của sở GDĐT Bắc Giang ( Năm học 2011- 2012)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài “Nói với con” của Y Phương?
“ Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
“ Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm conn ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”
( Ngữ văn 9, tập 2, NXBGD 2011)
+ Đề thi học kỳ II của Phòng GDĐT Hiệp Hòa ( Năm học 2014- 2015)
Đọc đoạn thơ sau:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc...”
( Mùa xuân nho nhỏ- Thanh Hải)
Cảm nhận của em về đoạn thơ trên?
2.5.Các bước tạo lập văn bản nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.
a-Bước 1:Rèn kỹ năng tìm hiểu đề, tìm ý:
*Tìm hiểu đề:
-Xác định thể loại, kiểu bài nghị luận? (chú ý từ: suy nghĩ, phân tích, cảm nhận để
viết bằng hình thức chuyển ý để liên kết).
MÔ HÌNH BÀI VĂN
Mở bài
Tác giả. Tác phẩm
Thân bài
LĐ 1.
LĐ 2.
Kết bài
LĐ 3
LĐ 4… Khẳng định Liên hệ
giá trị bài thơ mở rộng
Thao tác: phân tích, bình luận, đánh giá nội dung, nghệ thuật từng đoạn thơ.
c-Bước 3: Viết bài.
-Khi thực hiện bước này, nhất thiết người viết phải bám sát vào dàn bài đã lập để
triển khai hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng.
-Về hình thức bài văn: bố cục của bài viết, các đoạn trong bài phải được trình
bày theo trình tự lô gic, có sự liên kết chặt chẽ cả nội dung lẫn hình thức, các câu
trong đoạn phải thống nhất với nội dung của đoạn. Các đoạn trong bài được trình bày
theo các cách lập luận (diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, song hành…)
-Về nội dung của bài văn: tùy từng yêu cầu của đề bài và phần dàn ý đã lập mà
chúng ta triển khai các luận điểm rõ ràng. Tránh tình trạng diễn nôm bài thơ.
d-Bước 4: Đọc và sửa lỗi.
nàng xuân luôn là một đề tài bất tận của những tâm hồn nghệ sĩ. Viết về đề tài này, có
biết bao bài thơ hay, bao lời thơ đẹp. Song bài thơ“ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh
Hải vẫn lấp lánh một vẻ đẹp riêng. Bài thơ là tiếng lòng tha thiết yêu mến gắn bó với
thiên nhiên, với đất nước, với cuộc đời. Thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ
được cống hiến cho đất nước, góp một mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân lớn
của dân tộc.
VD 2: Tác phẩm “ Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Mùa thu là đề tài quen thuộc trong thơ ca không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên
thế giới. Nhắc đến mùa thu, người ta nghĩ ngay đến nhành phong lan đỏ, đến rặng liễu
đìu hiu, đến lá vàng rơi, đến hương cốm nồng nàn... Nhưng với Hữu Thỉnh, mùa thu
của ông mới mẻ hơn và còn ẩn chứa cả chiều sâu triết lý. Tất cả điều đó thể hiện rõ
trong bài thơ “Sang thu”. Bài thơ thể hiện những cảm nhận tinh tề của nhà thơ trước
thời khắc giao mùa và suy ngẫm vễ đời người.
-Cách 3 : Đi từ phong cách sáng tác của nhà thơ
VD: Tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
Phạm Tiến Duật là nhà thơ của Trường Sơn, Là cây xăng lẻ của rừng già, Là con
chim lửa của Trường Sơn huyền thoại.Ông đã mang Trường Sơn sừng sững vào thơ.
Con đường Trường Sơn huyền thoại bao nhiêu sự tích, bao nhiêu anh hùng nhưng chỉ
có một Phạm Tiến Duật lấp lánh thơ ca. Ông đã đưa rất nhiều những chi tiết từ cuộc
sống kham khổ và đầy lạc quan của người lính vào thơ. Thơ ông có giọng điệu trẻ
trung, hồn nhiên, tinh nghịch và sâu sắc. tiêu biểu cho phong cách sáng tác ấy là tác
phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.Qua hình ảnh những chiếc xe không kính,
tác giả khắc họa khắc họa hình ảnh người chiến sĩ lái xe Trường Sơn trong kháng
chiến chống Mỹ với tư thế ung dung hiên ngang, tinh thần lạc quan dũng cảm, thái độ
bất chấp gian khổ hiểm nguy,tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó, ý chí quyết tâm
giải phong Miền Nam thân yêu.
- Cách 4: Dùng những câu thơ, câu văn , lời hát nói về tác giả, tác phẩm cần nghị
luận để giới thiệu về tác giả , tác phẩm ấy.
“ Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
( Đồng chí – Chính Hữu)
*Viết MB: Chính Hữu là nhà thơ của quân đội. Thơ ông hầu như chỉ viết về người
lính, tình đồng chí, đồng đội, sự gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương. Thơ ông viết
không nhiều nhưng có những bài đặc sắc, cảm xúc rồn nén, ngôn ngữ chọn lọc giàu
sức biểu cảm. Tiêu biểu cho phong cách sáng tác ấy là bài thơ “ Đồng chí”. Bài thơ là
vẻ đẹp chân thực, giản dị và tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó sâu sắc,cảm động
của anh bộ đội cụ Hồ trong thời kỳ kháng chiến chống pháp. Nhưng để lại ấn tượng
sâu sắc nhất trong em là đoạn thơ giữa của bài thơ. Đoạn thơ là biểu hiện và sức mạnh
của tình đồng chí , đồng đội:
“ Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.