1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
"DẠY NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG PHÂN MÔN LÀM VĂN Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG"
2
I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN :
Ngữ văn là một trong những môn học trọng tâm của nhà trường THPT ở tất cả các ban.
Từ trước đến nay, Ngữ Văn là môn bắt buộc trong thi tốt nghiệp THPT. Theo dự kiến, từ
2016 trở đi sẽ là môn thi bắt buộc trong các kì thi Đại học. Vì vậy, GV giảng dạy bộ môn
Ngữ Văn có một vai trò vô cùng quan trọng gắn với trách nhiệm nặng nề hơn trong việc
hướng dẫn học sinh đi đến đích cuối cùng của bậc học.
Hơn nữa, theo xu hướng đổi mới hiện nay, văn học phải gắn liền với cuộc sống. Tức là,
học Văn phải giúp các em ứng dụng trực tiếp vào cuộc sống hiện tại và lâu dài. Và điều
đó phân môn Làm văn đảm nhiệm một phần không nhỏ trong việc hướng các em đến với
những vấn đề xã hội, tìm tòi, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề ấy.
Thật vậy, trong hệ thống môn học Ngữ Văn, phân môn Làm văn có mối quan hệ chặt
chẽ với Văn học và Tiếng Việt để tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh nhằm đạt được
mục tiêu cuối cùng của bộ môn Ngữ văn ở nhà trường THPT. Trong nhà trường, ở tất cả
các cấp học phân môn Làm văn luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc rèn luyện, bồi
dưỡng các kĩ năng sản sinh văn bản, kĩ năng giao tiếp cho học sinh – một trong những
mục tiêu cơ bản của môn Ngữ Văn. Theo yêu cầu kiểm tra, thi cử hiện nay, phân môn
Làm văn có tác dụng đặc biệt quan trọng đối với kết quả học tập của học sinh do chiếm tỉ
viết học kì I và học kì II, đặc biệt là với cấu trúc đề thi tốt nghiệp 2-3-5 ( Câu 1 lí thuyết
2điểm, câu 2 làm văn nghị luận xã hội 3điểm, câu 3 làm văn nghị luận văn học 5điểm) thì
NLXH là câu 3 điểm dành cho cả hai ban.
Bài luận 3điểm trong thi tốt nghiệp là số điểm không nhỏ và với dung lượng kiến thức
khá nhiều, giáo viên và học sinh phải đầu tư thật công phu, nghiêm túc và đúng qui trình
thì kết quả mới đạt được như mong muốn.
- Nghị luận xã hội ở nhà trường THPT hiện nay tập trung hai vấn đề chính : nghị luận về
một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống. Cả hai vấn đề này đều gần
gũi và thiết thực đối với các em. Đó là những hiện tượng diễn ra hàng ngày, các vấn đề
HS thường tiếp xúc; cũng như những vấn đề về phẩm chất đạo đức và quan niệm sống
mà mỗi cá nhân đều quan tâm. Được học, tìm tòi nghiên cứu những vấn đề có ý nghĩa
thiết thực này HS sẽ hứng thú hơn, say mê hơn và chắc chắn sẽ dành nhiều thời gian hơn
cho môn học này.
2. Dạy nghị luận xã hội – Cách giải quyết :
Dạy Làm văn nói chung và dạy NLXH nói riêng cần tiến hành song song và toàn diện
hai thao tác hướng dẫn lí thuyết và áp dụng thực hành, từ đó mới mang lại kết quả như
mong muốn.
2.1 Về lí thuyết :
Trong những tiết học Làm văn, giáo viên cần hướng dẫn HS nắm vững lí thuyết. Phần
này, SGK thường soạn không cụ thể, chưa rõ ràng nên HS khó nắm. Vì thế, để hướng dẫn
HS làm tốt kiểu bài này, GV cần khái quát những vấn đề then chốt nhất về lí thuyết giúp
4
HS nắm, từ đó áp dụng vào bài viết của mình hợp lí để đạt hiệu quả cao. Cụ thể là hướng
dẫn HS các phần sau :
- Nắm vững bố cục 3 phần :
Mở bài
Thân bài
Kết bài
- Nắm được hai dạng bài cơ bản của NLXH gồm nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị
luận về một hiện tượng đời sống.
+ Giải thích từ ngữ, khái niệm (Nếu cần thiết)
+ Nêu thực trạng vấn đề (Biểu hiện cụ thể của vấn đề) : có thể đi từ khái quát đến cụ thể
hoặc ngược lại
+ Chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng trên
+ Hậu quả (đối với hiện tượng xấu), lợi ích (đối với hiện tượng tốt)
+ Giải pháp : cá nhân, gia đình, xã hội
- Kết bài :
+ Khẳng định lại vấn đề
+ Bài học rút ra
Chú ý những yêu cầu cơ bản về mặt kĩ năng :
- Cần xác định hiện tượng được nêu trong đề bài là hiện tượng tích cực hay tiêu cực. Nếu
là hiện tượng tích cực thì ta biểu dương. Nếu là hiện tượng tiêu cực thì ta phê phán, lên
án.
- Người viết cần nhìn nhận, phân tích hiện tượng đó từ nhiều phía để có cách nhìn toàn
diện, tránh phiến, cực đoan. Phê phán hay ca ngợi đều phải có lí lẽ xác đáng, có cơ sở
khoa học, có cái nhìn nhân ái, bao dung, tránh suy diễn, áp đặt.
- Trong khi viết bài cần phối hợp nhiều thao tác lập luận : phân tích, so sánh, bác bỏ, bình
luận.
- Bài viết phải đảm bảo bố cục ba phần chung ; chia đoạn theo từng luận điểm rõ ràng.
- Cần diễn đạt ngắn gọn, trong sáng, không mắc lỗi về chính tả, dùng từ và lỗi ngữ pháp,
nhất là cần nêu bật cảm nghĩ riêng của bản thân.
6
2.2. Áp dụng thực hành :
- Song song với việc nắm lí thuyết, HS cần được thực hành thường xuyên để quen dần
với dạng đề này. HS biết áp dụng lí thuyết vào bài làm một cách đúng đắn và hợp lí sẽ
mang lại kết quả tốt nhất.
- Khi nhận đề bài, HS cần đọc kĩ để xác định :
+ Dạng đề : đề cho thuộc dạng nào?Nghị luận về một tư tưởng đạo lí hay nghị luận về
một hiện tượng đời sống?
+ Cách làm bài
* Dạy “ Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi có thể hướng HS đến đề về : Từ
nhân vật Việt trong tác phẩm, anh/ chị suy nghĩ gì về quan niệm sống của thanh niên.
* Dạy “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS” có thể cho HS làm quen với
dạng đề: HIV/AIDS hiểm họa của nhân loại. Anh/ chị suy nghĩ gì về vấn đề này.
* Dạy “Nhật kí trong tù” và những sáng tác khác của Bác, cần ra đề có tính giáo dục HS
về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
2.4. Một số đề bài và gợi ý :
Đề 1. Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về bệnh thành tích – một căn bệnh gây tác hại
không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay.
Mở bài
Giới thiệu : Xã hội càng phát triển, con người càng chạy đua nhau quyết liệt về
danh lợi, địa vị. Không ít người vì hám lợi hám danh mà vươn lên bằng con đường bất
chính, tạo hư danh cho bản thân. Đó là bệnh thành tích – một căn bệnh gây tác hại không
nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay.
Thân bài
(1) Nêu rõ hiện tượng
- Bệnh thành tích là gì ? – Bệnh thành tích là hành vi chạy theo những thành tích ảo,
chạy theo hư danh mà không nghĩ đến hậu quả, thậm chí bất chấp thủ đoạn.
- Biểu hiện của bệnh thành tích : tình trạng chạy điểm, chạy trường, gian lận trong thi
cử, ngồi nhầm lớp, văn bằng giả ; tình trạng “mua chức”, đút lót, tham nhũng,…
(2) Phân tích – chứng minh mặt tác động của hiện tượng
- Chất lượng công việc có nhiều con số ảo, nhân lực đào tạo không đáp ứng được nhu
cầu phát triển của xã hội. Tốn kém, mức đầu tư cao nhưng hiệu quả thì rất thấp.
8
- Gây ra nhiều sai phạm, thiếu công bằng xã hội, từ đó làm mất đi lòng tin của nhân
dân, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước nhà, dần đánh mất những giá trị truyền thống.
- Con người dễ bị tha hóa : mắc các thói kiêu ngạo, thích phô trương, hám lợi hám
danh nhưng thực chất “có tiếng mà không có miếng”.
(3) Chỉ ra nguyên nhân, đề xuất biện pháp
- Nguyên nhân của bệnh thành tích : Sự thiếu ý thức và thiếu lòng tự trọng ; Tâm lí
phim ảnh và các trò giải trí bạo lực trên game online.
+ Thiếu sự quan tâm, quản lí chặt chẽ của gia đình. Một số trường hợp được cha mẹ quá
nuông chiều, quen bắt nạt người khác, thích ra lệnh, thích dùng vũ lực…
+ Nhà trường thiếu các hoạt động vui chơi giải trí nhằm lôi cuốn, thu hút các em.
+ Ảnh hưởng từ phim ảnh, trò chơi bạo lực trên game online…
- Hậu quả: Tổn thương về thể xác lẫn tinh thần, mất đi vẻ đẹp nhân cách của người học
sinh, làm mất uy tín của gia đình, nhà trường, làm hoang mang không ít phụ huynh và
HS, gây xôn xao dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục trong xã hội.
- Biện pháp:
+ Cá nhân học sinh: Biết nhận ra đây là hành vi sai trái, gây ảnh hưởng nghiêm trọng.
Biết kiềm chế bản thân, sống lành mạnh, quan hệ trong sáng. Nghiêm khắc ngăn chặn các
hành vi bạo lực, tuyên truyền giúp mọi người hiểu và có hành động đúng.
+ Gia đình: Cần quan tâm đến con cái, có biện pháp giáo dục đúng đắn, hợp lí.
+ Nhà trường: Cần chú trọng giáo dục đạo đức cho HS, thường xuyên tổ chức những buổi
tuyên truyền nâng cao tính giáo dục, tổ chức một số hoạt động vui chơi lành mạnh thu hút
HS tham gia, xử lí nghiêm trường hợp HS dùng vũ lực giải quyết mâu thuẫn.
+ Xã hội: Phải có những chế tài đặc biệt với những trường hợp vi phạm pháp luật: thành
lập băng nhóm xã hội đen, game, phim ảnh bạo lực…
Kết bài : Đánh giá lại vấn đề, rút ra bài học cho bản thân.
Đề 3. Nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn đã từng viết : “ Ước mơ không phải là cái gì sẵn có,
cũng không phải là cái gì không thể có”. Hãy viết một bài văn ngắn bàn luận về vấn đề
trên.
Mở bài :
Giới thiệu : Con người sinh ra, dù lớn hay nhỏ ai cũng có một ước mơ. Tuy nhiên,
ước mơ không phải tự dưng nó đến, cũng không phải là ta không thể định ra và đạt được
ước mơ. Văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn cũng đã từng có câu “Ước mơ không phải là cái gì
sẵn có, cũng không phải là cái gì không thể có”.
Thân bài :
10
(1) Giải thích : Ước mơ là sự mong mỏi của con người về một tương lai tốt đẹp, là
Tìm ra lời giải cho những câu hỏi đó thì lần sau ta có thể làm việc được tốt hơn.
11
- Con người thường có tính kiêu hãnh, không chịu thất bại, luôn muốn chinh phục
và luôn muốn thành công. Nên khi thất bại, tính kiêu hãnh của chúng ta trổi dậy và mạnh
lên. Từ đó, ta quyết tâm thành công lần sau.
- Tuy nhiên, có khi chúng ta thất bại nhiều lần mà vẫn chưa thành công nhưng
không vì thế mà chúng ta trở nên bi quan. Phải tỉnh táo, tự an ủi động viên bản thân, suy
ngẫm thật kĩ vì sao mình thất bại và tìm ra phương cách tốt cho lần sau.
- Phê phán và nghiêm khắc với hành động bi quan, dễ nhục chí, không có tinh thần
cầu tiến.
Kết bài
Câu nói trên đúng với nhiều trường hợp và là bài học hữu ích, có ý nghĩa động
viên tinh thần mỗi khi ta thất bại. Bài học nhận thức : Biết đứng lên khi vấp ngả, luôn lạc
quan trong cuộc sống và nhất là buộc thất bại “sinh ra” thành công cho mình. Bài học
hành động : Trong học tập, ta cố gắng hình thành cho mình niềm tin vững chắc và không
ngừng vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
IV. KẾT QUẢ, HIỆU QUẢ MANG LẠI :
Làm văn là một bộ phận cơ bản của bộ môn Ngữ văn, giữ một vai trò trọng yếu trong
việc rèn luyện kĩ năng cho HS và giáo dục các em trở thành người có đời sống tinh thần
tốt đẹp. Đặc biệt, dạy NLXH không chỉ giúp các em rèn luyện kĩ năng viết văn mà quan
trọng hơn còn là hướng các em đến những vấn đề diễn ra xung quanh mình và tìm hướng
giải quyết. Đặc biệt, đối với nghị luận về một tư tưởng đạo lí, tiếp xúc với kiểu bài này
HS có cơ hội đưa ra ý kiến của mình nhằm bàn bạc, đánh giá đúng/sai, hay/dở, tốt/xấu
…Từ đó ý thức được việc cần làm, việc nên tránh và có nhận thức đúng đắn hơn về vấn
đề tư tưởng đạo lí. Từ đó các em tự rút ra cho mình bài học bổ ích và nhận rõ giá trị về
Chân – Thiện – Mĩ trong cuộc đời.
Qua quá trình áp dụng, tôi đã thu nhận được nhiều thành công đáng khích lệ :
- HS thích thú hơn trong giờ học văn.
- Các em mạnh dạn hơn. Trong tiết học các em nhiệt tình, hăng hái tham gia phát biểu
ý kiến, thảo luận sôi nổi xung quanh vấn đề về đạo đức, phẩm chất, lối sống quan niệm
- Đề tài được áp dụng cho chương trình Ngữ văn THPT ở cả hai ban nâng cao và cơ bản.
- Đã thông qua tổ Văn trường trung học phổ thông Hồ Thị Kỷ và áp dụng được cho học
sinh THPT toàn trường
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT :
Năm học
2009-2010
Khối
Tỉ lệ trên
trung bình
12 75%
11 78%
13
+ Đối với bài viết: Ở lớp nào cũng vậy: 10, 11, 12 các em đều có bài viết về nhà. Theo
tôi bài viết không nên cho về nhà. Vì HS làm bài không chỉ để lấy điểm mà qua đó GV
còn kiểm tra trình độ năng lực HS, kiểm tra kiến thức và đặc biệt là kĩ năng viết của các
em. Ra đề về nhà thời gian không xác định (không phải 90 phút), kiến thức có khi không
phải là của các em, kĩ năng cũng không phải của HS. Vì thực tế, nhiều em không tự làm
bài, nhờ người khác làm, sao chép tài liệu một cách rập khuôn không chọn lọc, sao chép
không hiểu, không nắm. GV chấm điểm nhưng không thể đánh giá đúng thực chất vấn
đề, không phản ánh đúng trình độ các em. Không kịp thời phát hiện những chỗ hỏng của
các em, để bổ sung dẫn đến kết quả giảng dạy không cao.