Dạy văn nghị luận xã hội ở trường THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"DẠY NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG PHÂN MÔN LÀM VĂN Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG"
1
I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN :
Ngữ văn là một trong những môn học trọng tâm của nhà trường THPT ở tất cả các ban.
Từ trước đến nay, Ngữ Văn là môn bắt buộc trong thi tốt nghiệp THPT. Theo dự kiến, từ
2016 trở đi sẽ là môn thi bắt buộc trong các kì thi Đại học. Vì vậy, GV giảng dạy bộ môn
Ngữ Văn có một vai trò vô cùng quan trọng gắn với trách nhiệm nặng nề hơn trong việc
hướng dẫn học sinh đi đến đích cuối cùng của bậc học.
Hơn nữa, theo xu hướng đổi mới hiện nay, văn học phải gắn liền với cuộc sống. Tức là,
học Văn phải giúp các em ứng dụng trực tiếp vào cuộc sống hiện tại và lâu dài. Và điều
đó phân môn Làm văn đảm nhiệm một phần không nhỏ trong việc hướng các em đến với
những vấn đề xã hội, tìm tòi, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề ấy.
Thật vậy, trong hệ thống môn học Ngữ Văn, phân môn Làm văn có mối quan hệ chặt
chẽ với Văn học và Tiếng Việt để tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh nhằm đạt được
mục tiêu cuối cùng của bộ môn Ngữ văn ở nhà trường THPT. Trong nhà trường, ở tất cả
các cấp học phân môn Làm văn luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc rèn luyện, bồi
dưỡng các kĩ năng sản sinh văn bản, kĩ năng giao tiếp cho học sinh – một trong những
mục tiêu cơ bản của môn Ngữ Văn. Theo yêu cầu kiểm tra, thi cử hiện nay, phân môn
Làm văn có tác dụng đặc biệt quan trọng đối với kết quả học tập của học sinh do chiếm tỉ
lệ khá lớn trong các đề thi, từ 7 đến 8 / 10 điểm (đối với lớp 10, 11) và 8/10 điểm đối với
lớp 12 thi tốt nghiệp. Trong đó, phần Nghị luận xã hội chiếm số lượng không nhỏ. Vì
vậy, trong bài viết này, tôi xin trình bày những suy nghĩ của bản thân về Dạy nghị luận
xã hội trong phân môn Làm Văn ở trường THPT.
II. PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN :
Đề tài được áp dụng cho chương trình Ngữ văn THPT ở cả hai ban nâng cao và cơ bản.
2
Đã thông qua tổ Văn trường trung học phổ thông Hồ Thị Kỷ năm học 2009 - 2010.
III. MÔ TẢ SÁNG KIẾN :

gũi và thiết thực đối với các em. Đó là những hiện tượng diễn ra hàng ngày, các vấn đề
HS thường tiếp xúc; cũng như những vấn đề về phẩm chất đạo đức và quan niệm sống
mà mỗi cá nhân đều quan tâm. Được học, tìm tòi nghiên cứu những vấn đề có ý nghĩa
thiết thực này HS sẽ hứng thú hơn, say mê hơn và chắc chắn sẽ dành nhiều thời gian hơn
cho môn học này.
2. Dạy nghị luận xã hội – Cách giải quyết :
Dạy Làm văn nói chung và dạy NLXH nói riêng cần tiến hành song song và toàn diện
hai thao tác hướng dẫn lí thuyết và áp dụng thực hành, từ đó mới mang lại kết quả như
mong muốn.
2.1 Về lí thuyết :
Trong những tiết học Làm văn, giáo viên cần hướng dẫn HS nắm vững lí thuyết. Phần
này, SGK thường soạn không cụ thể, chưa rõ ràng nên HS khó nắm. Vì thế, để hướng dẫn
HS làm tốt kiểu bài này, GV cần khái quát những vấn đề then chốt nhất về lí thuyết giúp
HS nắm, từ đó áp dụng vào bài viết của mình hợp lí để đạt hiệu quả cao. Cụ thể là hướng
dẫn HS các phần sau :
- Nắm vững bố cục 3 phần :
4
Mở bài
Thân bài
Kết bài
- Nắm được hai dạng bài cơ bản của NLXH gồm nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị
luận về một hiện tượng đời sống.
* Đối với kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí :
- Mở bài :
+ Giới thiệu tư tưởng đạo lí mà đề đặt ra (Cần ngắn gọn, súc tích)
+ Trích dẫn ý kiến (nếu có)
- Thân bài : giải quyết vấn đề mà đề đặt ra. Gồm :
+ Giải thích rõ nội dung tư tưởng đạo lí (giải thích từ ngữ, khái niệm …)
+ Chứng minh khía cạnh đúng; dùng dẫn chứng và lí lẽ để minh họa.
+ bình luận :

6
+ Bài học rút ra
Chú ý những yêu cầu cơ bản về mặt kĩ năng :
- Cần xác định hiện tượng được nêu trong đề bài là hiện tượng tích cực hay tiêu cực. Nếu
là hiện tượng tích cực thì ta biểu dương. Nếu là hiện tượng tiêu cực thì ta phê phán, lên
án.
- Người viết cần nhìn nhận, phân tích hiện tượng đó từ nhiều phía để có cách nhìn toàn
diện, tránh phiến, cực đoan. Phê phán hay ca ngợi đều phải có lí lẽ xác đáng, có cơ sở
khoa học, có cái nhìn nhân ái, bao dung, tránh suy diễn, áp đặt.
- Trong khi viết bài cần phối hợp nhiều thao tác lập luận : phân tích, so sánh, bác bỏ, bình
luận.
- Bài viết phải đảm bảo bố cục ba phần chung ; chia đoạn theo từng luận điểm rõ ràng.
- Cần diễn đạt ngắn gọn, trong sáng, không mắc lỗi về chính tả, dùng từ và lỗi ngữ pháp,
nhất là cần nêu bật cảm nghĩ riêng của bản thân.
2.2. Áp dụng thực hành :
- Song song với việc nắm lí thuyết, HS cần được thực hành thường xuyên để quen dần
với dạng đề này. HS biết áp dụng lí thuyết vào bài làm một cách đúng đắn và hợp lí sẽ
mang lại kết quả tốt nhất.
- Khi nhận đề bài, HS cần đọc kĩ để xác định :
+ Dạng đề : đề cho thuộc dạng nào?Nghị luận về một tư tưởng đạo lí hay nghị luận về
một hiện tượng đời sống?
+ Cách làm bài
+ Phân bố thời gian, giới hạn đề ( 400 từ chẳng hạn)
7
+ Chọn lọc lí lẽ, dẫn chứng (đặc biệt dẫn chứng phải tiêu biểu, thuyết phục – cần cập nhật
tin tức mới để có tính thuyết phục cao)
+ Liên hệ bản thân, rút ra bài học
* Những dạng đề thường gặp :
(1) Hiện tượng đời sống gồm : những vần đề về môi trường, giao thông, tệ nạn xã hôi,
tiêu cực trong thi và kiểm tra …

Đề 1. Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về bệnh thành tích – một căn bệnh gây tác hại
không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay.
Mở bài
Giới thiệu : Xã hội càng phát triển, con người càng chạy đua nhau quyết liệt về
danh lợi, địa vị. Không ít người vì hám lợi hám danh mà vươn lên bằng con đường bất
chính, tạo hư danh cho bản thân. Đó là bệnh thành tích – một căn bệnh gây tác hại không
nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay.
Thân bài
(1) Nêu rõ hiện tượng
9
- Bệnh thành tích là gì ? – Bệnh thành tích là hành vi chạy theo những thành tích ảo,
chạy theo hư danh mà không nghĩ đến hậu quả, thậm chí bất chấp thủ đoạn.
- Biểu hiện của bệnh thành tích : tình trạng chạy điểm, chạy trường, gian lận trong thi
cử, ngồi nhầm lớp, văn bằng giả ; tình trạng “mua chức”, đút lót, tham nhũng,…
(2) Phân tích – chứng minh mặt tác động của hiện tượng
- Chất lượng công việc có nhiều con số ảo, nhân lực đào tạo không đáp ứng được nhu
cầu phát triển của xã hội. Tốn kém, mức đầu tư cao nhưng hiệu quả thì rất thấp.
- Gây ra nhiều sai phạm, thiếu công bằng xã hội, từ đó làm mất đi lòng tin của nhân
dân, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước nhà, dần đánh mất những giá trị truyền thống.
- Con người dễ bị tha hóa : mắc các thói kiêu ngạo, thích phô trương, hám lợi hám
danh nhưng thực chất “có tiếng mà không có miếng”.
(3) Chỉ ra nguyên nhân, đề xuất biện pháp
- Nguyên nhân của bệnh thành tích : Sự thiếu ý thức và thiếu lòng tự trọng ; Tâm lí
hám danh, hám lợi và chạy theo vật chất.
- Đề xuất quan điểm và biện pháp : Để giảm thiểu căn bệnh này, điều kiện tiên quyết
là sự ý thức của mỗi cá nhân. Cần đổi mới cách dạy và học ; đổi mới kiểm tra và đánh giá
; tài liệu giáo trình, sách giáo khoa phải luôn được cải đổi mới theo tình hình thực tiễn…
Kết bài
Bệnh thành tích đã trở thành quốc nạn mà nạn nhân chủ yếu là ngành giáo dục.
Đất nước thực sự phát triển, lớn mạnh và văn minh khi căn bệnh này bị khống chế. Bản

sinh, làm mất uy tín của gia đình, nhà trường, làm hoang mang không ít phụ huynh và
HS, gây xôn xao dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục trong xã hội.
- Biện pháp:
+ Cá nhân học sinh: Biết nhận ra đây là hành vi sai trái, gây ảnh hưởng nghiêm trọng.
Biết kiềm chế bản thân, sống lành mạnh, quan hệ trong sáng. Nghiêm khắc ngăn chặn các
hành vi bạo lực, tuyên truyền giúp mọi người hiểu và có hành động đúng.
+ Gia đình: Cần quan tâm đến con cái, có biện pháp giáo dục đúng đắn, hợp lí.
+ Nhà trường: Cần chú trọng giáo dục đạo đức cho HS, thường xuyên tổ chức những buổi
tuyên truyền nâng cao tính giáo dục, tổ chức một số hoạt động vui chơi lành mạnh thu hút
HS tham gia, xử lí nghiêm trường hợp HS dùng vũ lực giải quyết mâu thuẫn.
+ Xã hội: Phải có những chế tài đặc biệt với những trường hợp vi phạm pháp luật: thành
lập băng nhóm xã hội đen, game, phim ảnh bạo lực…
Kết bài : Đánh giá lại vấn đề, rút ra bài học cho bản thân.
Đề 3. Nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn đã từng viết : “ Ước mơ không phải là cái gì sẵn có,
cũng không phải là cái gì không thể có”. Hãy viết một bài văn ngắn bàn luận về vấn đề
trên.
Mở bài :
12
Giới thiệu : Con người sinh ra, dù lớn hay nhỏ ai cũng có một ước mơ. Tuy nhiên,
ước mơ không phải tự dưng nó đến, cũng không phải là ta không thể định ra và đạt được
ước mơ. Văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn cũng đã từng có câu “Ước mơ không phải là cái gì
sẵn có, cũng không phải là cái gì không thể có”.
Thân bài :
(1) Giải thích : Ước mơ là sự mong mỏi của con người về một tương lai tốt đẹp, là
nguồn động viên tinh thần để ta vượt khó khăn đi đến những thành quả tốt đẹp trong cuộc
sống. Ước mơ không có sẵn. Ta có thể đặt ra cho mình những ước mơ và có thể đạt được
những ước mơ đó.
(2) Luận bàn về “ước mơ” :
- Ước mơ là một khái niệm trừu tượng cho nên nó không phải là thứ gì luôn có sẵn
trong cuộc sống của con người. Muốn có ước mơ, ta cần phải biết tự tạo cho mình một

không vì thế mà chúng ta trở nên bi quan. Phải tỉnh táo, tự an ủi động viên bản thân, suy
ngẫm thật kĩ vì sao mình thất bại và tìm ra phương cách tốt cho lần sau.
14
- Phê phán và nghiêm khắc với hành động bi quan, dễ nhục chí, không có tinh thần
cầu tiến.
Kết bài
Câu nói trên đúng với nhiều trường hợp và là bài học hữu ích, có ý nghĩa động
viên tinh thần mỗi khi ta thất bại. Bài học nhận thức : Biết đứng lên khi vấp ngả, luôn lạc
quan trong cuộc sống và nhất là buộc thất bại “sinh ra” thành công cho mình. Bài học
hành động : Trong học tập, ta cố gắng hình thành cho mình niềm tin vững chắc và không
ngừng vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
IV. KẾT QUẢ, HIỆU QUẢ MANG LẠI :
Làm văn là một bộ phận cơ bản của bộ môn Ngữ văn, giữ một vai trò trọng yếu trong
việc rèn luyện kĩ năng cho HS và giáo dục các em trở thành người có đời sống tinh thần
tốt đẹp. Đặc biệt, dạy NLXH không chỉ giúp các em rèn luyện kĩ năng viết văn mà quan
trọng hơn còn là hướng các em đến những vấn đề diễn ra xung quanh mình và tìm hướng
giải quyết. Đặc biệt, đối với nghị luận về một tư tưởng đạo lí, tiếp xúc với kiểu bài này
HS có cơ hội đưa ra ý kiến của mình nhằm bàn bạc, đánh giá đúng/sai, hay/dở, tốt/xấu …
Từ đó ý thức được việc cần làm, việc nên tránh và có nhận thức đúng đắn hơn về vấn đề
tư tưởng đạo lí. Từ đó các em tự rút ra cho mình bài học bổ ích và nhận rõ giá trị về Chân
– Thiện – Mĩ trong cuộc đời.
Qua quá trình áp dụng, tôi đã thu nhận được nhiều thành công đáng khích lệ :
- HS thích thú hơn trong giờ học văn.
- Các em mạnh dạn hơn. Trong tiết học các em nhiệt tình, hăng hái tham gia phát biểu
ý kiến, thảo luận sôi nổi xung quanh vấn đề về đạo đức, phẩm chất, lối sống quan niệm
sống. Đặc biệt, các em tham gia tranh luận rất sôi nổi ở khâu củng cố bài, phần “bài học
15
rút ra”. Nhất là giờ đây các em không còn bàng quan với những hiện tượng đời sống
xung quanh mình mà biết quan sát, chú ý lắng nghe và đề xuất nhiều giải pháp rất thiết
thực cũng như ý thức tốt hơn về vấn đề hàng ngày xảy ra xung quanh mình, không còn

bộ môn nhằm nâng cao kết quả chung cho nhà trường.
V. ĐÁNH GIÁ VỀ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA SÁNG KIẾN :
- Đề tài được áp dụng cho chương trình Ngữ văn THPT ở cả hai ban nâng cao và cơ bản.
- Đã thông qua tổ Văn trường trung học phổ thông Hồ Thị Kỷ và áp dụng được cho học
sinh THPT toàn trường
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT :
+ Đối với bài viết: Ở lớp nào cũng vậy: 10, 11, 12 các em đều có bài viết về nhà. Theo
tôi bài viết không nên cho về nhà. Vì HS làm bài không chỉ để lấy điểm mà qua đó GV
còn kiểm tra trình độ năng lực HS, kiểm tra kiến thức và đặc biệt là kĩ năng viết của các
em. Ra đề về nhà thời gian không xác định (không phải 90 phút), kiến thức có khi không
phải là của các em, kĩ năng cũng không phải của HS. Vì thực tế, nhiều em không tự làm
bài, nhờ người khác làm, sao chép tài liệu một cách rập khuôn không chọn lọc, sao chép
không hiểu, không nắm. GV chấm điểm nhưng không thể đánh giá đúng thực chất vấn
đề, không phản ánh đúng trình độ các em. Không kịp thời phát hiện những chỗ hỏng của
các em, để bổ sung dẫn đến kết quả giảng dạy không cao.
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status