S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
A.Đặt vấn đề:
Sinh học là môn khoa học gắn liền đời sống sinh vật với thực tiễn sản
xuất. Để kích thích quá trình chuyển kiến thức thành nhận thức là một thử
thách lớn với giáo viên trong dạy và học môn sinh học. Người thầy phải có
nghệ thuật giúp học sinh yêu thích môn sinh, nhìn môn học dưới góc độ hiểu
biết khoa học chứ không phải một môn học bắt buộc khô khan; qua đó các
em có thể tự khám phá được nhiều điều thú vị trong thế giới sống quanh
mình.
Trong những năm qua, tiết thực hành ở các trường phổ thông dần được
quan tâm, chú ý giúp hình thành những đức tính tốt của người lao động:
ngăn nắp, trật tự, tỷ mĩ, gọn gàng…, phát triển tư duy, giáo dục thế giới
quan và củng cố niềm tin vào khoa học ở học sinh. Để dạy tốt một tiết thực
hành Giáo viên cần phải đầu tư rất nhiều, có những nội dung Giáo viên phải
làm qua và làm nhiều lần mới thành công, thậm chí có những bài phải thay
đổi hóa chất hay mẫu thử tương tự để có kết quả đẹp, chính xác hơn nhưng
vẫn đảm bảo kiến thức yêu cầu mỗi bài.
Với đối tượng là học sinh đầu cấp PTTH; thao tác, kỹ năng thí nghiệm
thực hành của các em còn quá yếu, đa số các em chưa được tiếp cận nhiều
với kính hiển vi, cách làm và quan sát một số thí nghiệm đơn giản, khả năng
tư duy phân tích tổng hợp so sánh chưa đạt yêu cầu nên các em khó mà nhớ
lâu, hiểu sâu rộng được các kiến thức đã học.
Nhằm khắc phục nhược điểm nêu trên, để kiến thức đạt được là cơ sở
cho những họat động có mục đích một cách có ý thức khi chọn nghề nghiệp
trong tương lai và khả năng hình thành phát triển toàn diện nhân cách học
sinh; ngoài việc học lý thuyết Giáo viên cần chú trọng đến những giờ thực
hành. Xuất phát từ trăn trở đó tôi xin nêu lên một số giải pháp có thể hổ trợ
cho việc giảng dạy hiệu quả tiết thực hành sinh học 10 nâng cao.
1
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
B.Giải quyết vấn đề:
hình dạng khác nhau dán trên các lọ nhằm gây sự chú ý đồng thời
phần nào giúp các em nhớ được thao tác thí nghiệm nhanh hơn.
Ví dụ khi dạy bài thực hành 12: Thí nghiệm nhận biết một số thành phần
hóa học của tế bào; bài 27: Một số thí nghiệm về enzim trong chương
trình sinh 10 nâng cao, thí nghiệm trong bài không khó nhưng sử dụng
quá nhiều loại hóa chất nên Hs không nắm kịp thao tác tiến hành, dẫn
đến kết quả thí nghiệm không chính xác lại mất nhiều thời gian, Gv dễ bị
cháy giáo án. Để khắc phục Tôi chuẩn bị trước các khay đựng hóa chất,
nguyên liệu với những nhãn dán màu sắc khác nhau cho Tôi và cả từng
nhóm Hs, trong lúc hướng dẫn thao tác thí nghiệm Tôi yêu cầu các em
cùng Tôi kiểm tra lại các loại hóa chất, nguyên liệu của mỗi nhóm đã
được phát.Với cách này các em tiến hành thí nghiệm rất nhanh gọn mà
kết quả lại chính xác.
- Chuẩn bị nguyên liệu hóa chất:
+ Thí nghiệm có thành công hay không tùy thuộc vào bước này, Giáo
viên phải tìm được những nguyên liệu sao cho thí nghiệm dễ thành công,
không nhất thiết phải giống hoàn toàn như nguyên liệu trong sgk yêu cầu
để thí nghiệm vừa đẹp, chính xác vừa nhanh có kết quả.
+ Có những nguyên liệu cần phải chuẩn bị trước vài ngày có thể cả tuần,
do đó giáo viên nên chủ động chuẩn bị trước hay yêu cầu học sinh chuẩn
bị là tùy thuộc vào từng bài thực hành.
- Ví dụ: *Khi dạy bài 27: “Một số thí nghiệm về enzim trong chương
trình sinh 10 nâng cao”, giáo viên phải tự chuẩn bị trước một số nguyên
liệu như sau:
3
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
+ Chuẩn bị dung dịch saccaraza nấm men:theo sgk là sử dụng men bia để
tạo dung dịch saccaraza nhưng bạn có thể thay bằng men rượu.
Cân 1g men rượu hòa với 10 ml nước cất để sau 24h -36h lọc bằng
giấy lọc thu dịch lọc
sao tất cả các thành viên đều quan sát và nghe thấy được sự hướng dẫn
của Giáo viên trong từng thí nghiệm.
- Giáo viên cần nêu được mục tiêu của tiết thực hành hay từng hoạt
động để học sinh đi đúng hướng; giới thiệu các loại dụng cụ, hóa chất,
nguyên liệu cần dùng cho thí nghiệm và một số lưu ý trong khi thí
nghiệm đối với những bài có sử dụng hóa chất, chất gây cháy
- Sắp xếp dụng cụ, nguyên liệu và hóa chất trong từng thí nghiệm vừa hợp
lý, khoa học, thẩm mĩ vừa dễ sử dụng. Với những bài thực hành yêu cầu
học sinh chuẩn bị nguyên liệu, GV nên kiểm tra lại xem có đạt tiêu chuẩn
không rồi cho các em tiến hành thí nghiệm
- Dung lượng kiến thức ở mỗi bài thực hành đôi khi quá nhiều so với thời
gian thực tế ở lớp, trình độ học sinh. Giáo viên nên linh hoạt ứng biến
tùy tình cụ thể; bài nào nội dung quá dài giáo viên có thể lượt bỏ miễn
sao đảm bảo yêu cầu thí nghiệm (như thí nghiệm về tính đặc hiệu của
enzim trong bài 27 sinh học 10 nâng cao, chỉ cần sử dụng 3 ống nghiệm
là đủ, bỏ ống nghiệm số 3 lấy 1,2 và 4) . Nội dung bài nào không thể
thực hiện đủ với thời gian tại lớp nhưng cần cho Hs, Gv điều Hs thực
hành trái buổi hay điều kiện cơ sở vật chất chưa đủ để thí nghiệm thành
công, Gv có thể mô hình hóa thí nghiệm bằng hình vẽ, sơ đồ động hoặc
băng hình.
- Đối với các nội dung thực hành khó, ngoài việc hướng dẫn giáo viên cần
thao tác mẫu cho học sinh quan sát trước, sau đó các nhóm mới tiến hành
theo yêu cầu đề ra.
5
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Sau khi đã nắm được các yêu cầu của tiết thực hành, giáo viên cho học
sinh tiến hành theo các nội dung của SGK. Giáo viên quan sát giúp đỡ
các cá nhân, các nhóm có kỹ năng còn yếu về thao tác, bắt kịp tiến độ thí
nghiệm, thực hành; giáo viên cần uốn nắn những sai sót và kịp thời chấn
chỉnh những cá nhân không tập trung vào thực hành hay gây ồn ào trong
• Bài 31: Quan sát các kỳ nguyên phân qua tiêu bản tạm thời
hay cố định
? Phân bào nguyên phân xảy ra gồm những kỳ nào?
? Đặc điểm cơ bản để phân biệt và nhận dạng các kỳ là gì?
- Đối với những bài có nội dung thực hành quan sát tiêu bản giáo viên cần
hướng dẫn chi tiết cho học sinh cách sử dụng và điều chỉnh kính hiển vi (
Bài thực hành 31, 42 sách sinh 10 nâng cao)
- Đối với bài thực hành thí nghiệm về các quá trình sinh lý, nhận biết
thành phần hóa học của tế bào đòi hỏi độ chính xác cao nên giáo viên cần
chuẩn bị chu đáo, thực hành trước cho thành thạo, đảm bảo mức độ thành
công của tiết thực hành đồng thời giáo viên phải làm mẫu để các nhóm
biết cách tiến hành theo.
- Đối với bài thực hành vận dụng thực tế là một trong những bài thực hành
rất có lợi cho học sinh
• Bài lên men lắctic không chỉ giới thiệu cho các em biết ích lợi của
các sản phẩm lên men đồng thời hướng dẫn được cho các em biết
cách làm cũng như bảo quản các sản phẩm đó
• Bài tìm hiểu tình hình một số bệnh truyền nhiễm ở địa
phương: rèn các kỹ năng tìm hiểu, so sánh đối chiếu kiến thức đã
học với thực tiễn, kỹ năng giao tiếp với người khác, từ đó có ý
thức và biện pháp phòng tránh bệnh truyền nhiễm cho bản thân,
gia đình và xã hội
7
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Trong phần tổng kết tiết thực hành, giáo viên cần cho học sinh một vài
nhóm báo cáo kết quả thực hành của mình, các nhóm khác bổ sung và
giáo viên đính chính những sai sót của học sinh đồng thời ghi điểm thực
hành cho các em hoặc có những tiết giáo viên yêu cầu các nhóm viết bản
thu hoạch sau tiết thực hành kết hợp với kỹ năng thực hành mà ghi điểm
thực hành cho các nhóm.
1. Kiến thức:
- HS làm được thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ, pH đối với enzim và thí
nghiệm tính đặc hiệu của enzim, qua đó củng cố kiến thức về enzim
2.Kỹ năng:
- Rèn kỹ năng thực hành, thao tác thí nghiệm và tư duy sáng tạo
3. Thái độ:
- Có ý thức làm việc khoa học, cẩn thận chính xác
II. Chuẩn bị
9
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
1.Giáo viên:
- Chia lớp học thành 10 nhóm, mỗi nhóm 5 học sinh
- Dụng cụ thí nghiệm:
ống nghiệm (9 ống trong đó một ống chia vạch) , giá đỡ ống nghiệm (2),
kẹp gỗ (3), nhiệt kế (1), ống nhỏ giọt (4), cốc thủy tinh (3 cốc), đèn cồn (2), đế
sắt (1), khay nhựa (2), khăn (2), mồi lửa (1), lưới Amiăng
- Hóa chất và một số vật liệu khác:
+ Dung dịch Iôt, HCl 5%, thuốc thử lugol, thuốc thử phêlinh
+ Dung dịch hồ tinh bột 1%, dung dịch saccarôzơ 4%,
+ Chuẩn bị dung dịch saccaraza nấm men:
Cân 1g men rượu hòa với 10 ml nước cất để sau 24h lọc bằng giấy lọc
thu dịch lọc
+ Chuẩn bị dung dịch amilaza:
Ngâm và ủ hạt đậu xanh sau 36h để hạt nảy mầm, nghiền 20 hạt đậu với
10 ml nước rồi lọc qua giấy lọc thu dịch lọc
+ Nước nóng, nước đá
+ Đồng hồ canh giờ
2. Học sinh:
- Đọc trước bài thực hành ở nhà
- Xem lại kiến thức về enzim và vai trò của enzim trong quá trình chuyển hóa vật
cồn
- Khi cho thuốc thử hay iôt vào ống
nghiệm thì cho từ từ từng giọt một đều các
ống nghiệm, cho đến khi thấy rõ hiện tượng
- Trong quá trình làm mỗi thí nghiệm,
mỗi thành viên sẽ chịu trách nhiệm theo dõi
một ống cho đến khi có kết quả và giải
thích, không mất trật tự, không để sách vở
tại vị trí thực hành, nếu muốn hỏi vấn đề gì
em chỉ cần giơ tay xin hỏi.
I/ Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ, độ
pH đối với hoạt tính của Enzim
1. Cách tiến hành:
12
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
-> HS theo dõi và nhận biết được các loại
dụng cụ và hóa chất sẽ dùng trong thí
nghiệm
*Hoạt động 2
? Gv hướng dẫn các bước tiến hành và thao
tác mẫu thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ,
pH tới hoạt tính của enzim
* Bước 1: Chuẩn bị các cốc nước 100˚C, nước
đá, nước 40˚C
* Bước 2: Lấy 4 ống nghiệm, cho vào mỗi ống
2 ml dung dịch tinh bột 1%
- Đặt ống 1 trong cốc nước thủy tinh đang
sôi
- Đặt ống 2 trong cốc nước thủy tinh 40˚C
- Đặt ống 3 trong cốc nước đá
-1ml
amilaza
trong
12
phút
- vài
giọt dd
iốt
- 2 ml
tinh bột
đặt trong
cốc nước
40˚C, 5
phút
-1ml
amilaza
trong 12
phút
- vài giọt
dd iốt
- 2 ml
tinh bột
đặt
trong
cốc
nước
đá, 5
phút
-1ml
amilaza
XANH
TÍM
Giải
thích
Nhiệt
độ cao,
Enzim
bị biến
tính
nên
không
Tinh bột
đã bị
enzim
amilaza
phân giải
hết nên
khi cho
Nhiệt
độ
thấp,
Enzim
tạm
ngừng
hoạt
Enzim
bị biến
tính bởi
axit
nên
xanh
động
nên
tinh bột
không
bị phân
giải
thành
đường
đã tác
dụng
với Iôt
tạo
màu
xanh
bị phân
giải đã
tác
dụng
với iôt
tạo
màu
xanh
II.Thí nghiệm về tính đặc hiệu của enzim:
1. Cách tiến hành:
* Bước 1: Chuẩn bị cốc nước 40˚C
* Bước 2: Lấy 3 ống nghiệm, ống 1 và 2 cho
vào mỗi ống 1ml dd hồ tinh bột, ống 3 cho vào
1ml dd saccarôzơ, tiếp đó cho vào ống 1: 1ml
amilaza, 2 và 3 mỗi ống 1ml saccaraza, để
o
C (10’)
-1ml dd
tinh bột +
1ml dd
saccaraza
- Đặt
trong cốc
nước 40
o
C
-1ml
Saccarôzơ
4% + 1ml
dd
saccaraza
- Đặt
trong cốc
16
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- cho vào2
giọt thuốc
thử lugol
- đun sôi
(10’)
- cho
vào2 giọt
thuốc thử
lugol
- đun sôi
tinh bột
nên khi
cho thuốc
thử vào
không có
màu
Enzim và
cơ chất
không
phù hợp
nên cho
thuốc thử
vào xuất
hiện màu
xanh tím
Enzim đã
tác dụng
phân huỷ
Saccarôzơ
thành
glucôzơ
nên khi
cho thuốc
thử vào và
17
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
đun lên có
kết tủa đỏ
gạch
V.Củng cố:
iốt
- 2 ml tinh bột
đặt trong cốc
nước đá, 5
phút
-1ml amilaza
trong 12 phút
- vài giọt dd
iốt
- 2 ml tinh bột
- 1ml HCl, 5
phút
-1ml amilaza
trong 12 phút
- vài giọt dd
iốt
Kết quả
Giải
thích
II/ Thí nghiệm về tính đặc hiệu của enzim:
Ống 1 Ống 2 Ống 3
Điều kiện
(tiến hành
TN)
-1ml dd tinh bột +
1ml amilaza
- Đặt trong cốc
nước 40
o
C (10’)
hiệu quả của tiết dạy tham gia hội thi giáo viên dạy giỏi, Tôi đã phần nào tích lũy
được một số bài học kinh nghiệm sau:
- Thí nghiệm thành công hay công phụ thuộc rất lớn vào khâu Giáo viên chuẩn
bị
- Khâu tổ chức cũng quan trọng không kém, giáo viên phải bao quát, theo dõi
và chủ động điều khiển được tiết thực hành trong mọi tình huống
20
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Giáo viên phải giới thiệu được công dụng các loại nguyên vật liệu, hóa chất,
dụng cụ cần cho thí nghiệm, hướng dẫn cụ thể và thao tác mẫu cùng lúc với trình bày
các bước tiến hành thí nghiệm.
C. Kết luận- kiến nghị:
Người xưa có câu:” Tôi nghe thì tôi quên, tôi nhìn thì tôi nhớ, tôi làm thì tôi
hiểu”. Kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại cũng đã chứng minh: Hs chỉ có thể nhớ
5% nội dung kiến thức thông qua việc đọc, nếu nghe giảng thì nhớ được 15%, thêm
quan sát thì nhớ 20%, kết hợp nghe và nhìn thì nhớ 25%, thông qua trao đổi thì nhớ
55%, nếu được trực tiếp tham gia vào các hoạt động để qua đó tiếp thu kiến thức thì
tăng lên 75% và khi có cơ hội giảng lại cho người khác thì có thể nhớ tới 90%. Minh
chứng ấy cho thấy tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy
học. Tăng tiết và chú trọng giờ thực hành trong trường phổ thông là một trong những
phương pháp giúp học sinh hoạt động một cách tích cực, rèn luyện các thao tác, kỹ
năng thực hành, giúp các em chủ động tìm lấy kiến thức hay trực tiếp kiểm nghiệm
các kiến thức đã học, hình thành trong các em niềm hứng thú say mê khoa học, yêu
thích bộ môn, qua đó tạo điều kiện cho người Gv không ngừng học tập, nghiên cứu để
nâng cao tay nghề đáp ứng được nhu cầu đổi mới của nghành cùa xã hội.
Trong quá trình dạy học. Gv phải linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp
dạy học bộ môn. Để thực hiện thành công SKKN này theo tôi:
+ Đối với giáo viên:
- Cần đầu tư nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy
- Thí nghiệm phải thành công, an toàn, Gv phải biết cách hướng Hs khai thác,
23