A. PHẦN MỞ ĐẦU
ơ
Thế kỷ XX đã để lại trong lịch sử loài người những dấu ấn cực kỳ
đậm nét. Đó là thế kỷ kinh tế phát triển mạnh mẽ xen lẫn những cuộc
khủng hoảng của thế giới tư bản. Một thế kỷ vượt trội về khoa học-công
nghệ tạo ra giá trị sản xuất vật chất tăng gấp 15 lần thế kỷ trước và hơn hẳn
giá trị của 2000 năm trước cộng lại. Nhưng đó cũng là thế kỷ diễn ra 2 cuộc
chiến tranh thế giới và hàng trăm cuộc xung đột vũ trang cướp đi sinh
mạng của hàng chục triệu người. Đó cũng là thế kỷ chứng kiến phong trào
cách mạng sâu rộng- cách mạng Tháng Mười Nga- mở ra kỷ nguyên của
thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH.
Đối với nước ta, thế kỷ XX là thế kỉ biến đổi to lớn sâu sắc. Từ
khủng hoảng đường lối đến cuộc đấu tranh thắng lợi vĩ đại: Một là, thắng
lợi của cách mạng Tháng Tám và việc lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ
cộng hoà đã đánh sập chế độ thuộc địa gần trăm năm, xoá bỏ chế độ phong
kiến hàng nghìn năm mở ra một kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.
Hai là, thắng lợi của 2 cuộc chiến tranh oanh liệt chống đế quốc sừng sỏ là
Pháp và Mỹ để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và làm tròn
nghĩa vụ quốc tế, thực hiện thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH,
góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới yêu chuộng hoà
bình. Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, từng bước đưa đất nước quá độ
lên CNXH.
Tất cả những gì chúng ta đạt được là do vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Càng tự hào hơn khi chúng ta nhìn lại chặng đường
thế kỷ XX và vữn tin bước vào thế kỷ XXI. Một thế kỷ mà khoa học công
nghệ sẽ có bước nhảy vọt chưa từng thấy, kinh tế tri thức chiếm vị trí ngày
càng quan trọng. Toàn cầu hoá là xu thế khách quan là “sân chơi” chung
1
củng cố sự vững mạnh của chính quyền đó giai cấp công nhân và nhân dân
lao động mới có thể tiến hành sự nghiệp cách mạng rộng lớn và căn bản là
cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới- xã hội xã hội chủ nghĩa. Đó là thời
kỳ cải biến cách mạng lâu dài, khó khăn và phức tạp.
Năm 1875, trong tác phẩm phê phán cương lĩnh Gôta, C.Mác đã đề
cập quan điểm và thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH. “Giữa XHTB và
xã hội CSCN là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nỳ sang xã hội
kia”. Đó là thời kỳ quá độ cả về chính trị và kinh tế. “Cái xã hội mà chúng
tă mới ở đây không phải là một xã hội CSCN đã phát triển trên cơ sở của
chính nó, mà thái độ là một xã hội CSCN vừa thoái thác từ xã hội TBCN
do đó là một xã hội, về phương tiện- kinh tế, đạo đức, tinh thần, còn mang
những dấu vết của xã hội cũ, mà đã lọt lòng ra”.
2. Quan điểm của Lênin
Tháng 5/1918, Lênin viết tác phẩm: Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và
tính tiểu tư sản. Năm 1921, Người viết tác phẩm Bàn về thuế lương thực.
3
Cùng với nhiều tác phẩm, bài nói và bài viết khác hai tác phẩm quan trọng
trên đây của Lênin đã trang bị cho các Đảng Cộng sản những nhận thức
đúng đắn về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH.
Những luận điểm của Lênin đã cho chúng ta hình dung rõ những nét
đặc trưng rất cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH.
II. CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1. Khái niệm
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là qua trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế-xã
hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ và sự tiến bộ khoa học-công nghệ,
khả năng cạnh tranh của sản phẳm. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự
nghiệp của toàn xã hội. Toàn Đảng, toàn dân phải đồng tâm nhất trí, đoàn
kết một lòng, một dạ, nêu cao tinh thần tự lực tự cường, ra sức làm ăn có
hiệu quả, đặc biệt là phải đề cao ý thức cần kiệm để CNH, HĐH đất nước.
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG THỜI KỲ
CNH, HĐH
1. Nền kinh tế thị trường phải cần đến vai trò lãnh đạo của Đảng
Đảng chủ trương phát triển kinh tế thị trường, nhưng đó không phải
là nền kinh tế thị trường bất kỳ mà là nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng XHCN, tức là một nền kinh tế thị trường
thật sự vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Thực tế
chứng minh rằng kinh tế thỉtường không hoàn toàn đồng nhất với CNXH;
không phải là cứ chuyển sang kinh tế thị trường là đi theo con đường TBN.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH cần phát triển kinh tế hàng hoá, áp dụng
cơ chế thị trường. Tuy nhiên, kinh tế thị trường với chúng ta không phải là
tất cả mà chỉ là phương pháp , phương thức để phát triển lực lượng sản
xuất.
5
Chúng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường nhưng không để nó
vận động một cách tự phát, mù quáng mà phải lãnh đạo hướng dẫn, điều
tiết, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực. Vì lợi ích
của đại đa số dân tộc, vì mội xã hội phồn thịnh văn minh. Người có khả
năng làm được điều đó không thể ai khác ngoài Đảng Cộng sản – là Đảng
phấn đấu cho lý tưởng XHCN và CSCN, thật sự đại diện và bảo vệ lợi ích
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vai trò lãnh đạo của Đảng là
nhân tố quyết định nhất đảm bảo nền kinh tế thị trường hoạt động và phát
quyền lãnh thổ ở quần đào Trường Sa và Hoàng Sa. Các chiêu bài nụ dân
của Tôn giáo (đạo Tin Lành). Và bọn phản động trong nước như Hoàng
Minh Chính, Trần Thị Lý, Thích Quảng Độ.. đã bôi nhọ chủ nghĩa Mác, tư
tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ làm sai sự thật về Đảng và Nhà nước trong
các hoạt động. Để giữ vững tình hình chính trị ổn định Đảng ta không
cứng nhắc nguyên tắc mà rất mềm dẻo và cương quyết đối với những vấn
đề mang tính nhạy cảm này.
2.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi
trong quá trình CNH, HĐH đất nước
Đảng ta đề xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới trên toàn bộ cả
nước. Đổi mới là yêu cầu khách quan, CNH, HĐH là điều tất yếu, một đòi
hỏi nghiêm ngặt của thực tiễn đối với nước ta cũng như các nước anh em
khác. Nhằm nhận thức đúng đắn hơn về CNXh, khắc phục những mặt trị
trệ, đẩy nhanh quá trình xây dựng CNXH. Đó là một cuộc vận động cách
mạng lớn lao, sâu sắc nhưng rất phức tạp khó khăn đòi hỏi phải có sự lãnh
đạo chặt chẽ, khoa học, có mục tiêu cụ thể và bước đi vững chắc. Nừu
không có sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng và khoa học, đoàn kết
thống nhất chặt có đầy đủ bản lĩnh và trì trệ thì không thể đưa quá trình
CNH, HĐH đến thành công được.
- CNH, HĐH ngày càng được đẩy mạnh thì ngày càng có nhiều diễn
biến phức tạp. Do đó vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng tăng lên. Trong
7
lúc đất nước khó khăn thì Đảng phải chăm lo củng cố Đảng, đổi mới và
nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Đó là biện chứng của sự phát triển
và là quy luật đã được rút ra trong thực tiễn xây dựng CNXH trên phạm vi
thế giới.
- Vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình CNH, HĐH và đổi mới
sự lãnh đạo là phù hợp yêu cầu của giai đoạn mới, là hai mặt vấn đề có tính
chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Nắm vững những
quy luật khách quan, phân tích khoa học và tình hình thực tế để xây dựng
cương lĩnh, đường lối chiến lược hay những mục tiêu cơ bản của cách
mạng
- Đảng lãnh đạo thực hiện có kết quả những nghị quyết đã đề ra bằng
cách nêu cao và phát huy vai trò của Nhà nước, của các đoàn thể quần
chúng, thông qua hoạt động của Đảng viên, thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân lao động.
- Đảng lãnh đạo các cơ quan Nhà nước và đoàn thể quần chúng làm
tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đồng thời trực tiếp làm công tác tư
tưởng giáo dục, thuyết phục vận động quần chúng. Chăm lo xây dựng và
phát triển chiến lược con người, đảm bảo xây dựng được những con người
mới, những đội ngũ tri thức trẻ cho sự nghiệp đổi mới đất nước.
-Đảng định ra đường lối cán bộ, chuẩn bị và đào tạo cán bộ, đề ra
phương hướng, nguyên tắc, phương châm, yêu cầu về sắp xếp tổ chức,
kiện toàn đội ngũ cán bộ.
- Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo và kiểm tra thông qua hệ thống
tổ chức của Đảng, thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên, bằng công tác
thuyết phục, giáo dục bằng sự gương mẫu chấp hành pháp luật của cán bộ,
đảng viên. Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, mọi cán bộ đảng
viên đều bình đẳng trước pháp luật.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định đảm bảo cho
kinh tế thị trường đi đúng hướng XHCN. Không có sự lãnh đạo của Đảng
thì không thể xây dựng được CNXH.
9
2. Đề ra nghị quyết và tổ chức thực hiện Nghị quyết
2.1. Vai trò đề ra Nghị quyết
Trách nhiệm cao quý và nặng nề trước hết của Đảng là vạch ra
rất xúc tích, ngắn gọn, để hiểu, dễ đọc, dễ thực hiện. Các vấn đề lý luận và
thực tiễn đặt ra đòi hỏi phải làm sáng tỏ và có câu trả lời chính xác. Vì thế
khi thật cần thiết thì Đảng mới ra Nghị quyết. Nghị quyết chỉ được coi là
đúng đắn, cách mạng và khoa học khi các thông tin xây dựng Nghị quyết
phải phản ánh đúng hiện thực khách quan, không được bóp méo sự thật. Vì
thế, các cấp uỷ Đảng, trước hết là Trung ương Đảng có nhiệm vụ tập trung
thời gian và sức lực vào lãnh đạo và nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn,
nắm bắt những vấn đề mới nảy sinh, bám sát vào các sự kiện đang vận
động, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của nhân dân, dự báo chiều hướng phát
triển của tình hình để rút ra những kết luận cần thiết, khẳng định những
quan điểm định hướng cho sự tiến lên.
2.2. Vai trò tổ chức thực hiện Nghị quyết
Nghị quyết phản ánh hiện thực khách quan nhưng chỉ gần đúng.
Nghị quyết là sản phẩm của tư duy mà tư duy bao giờ cũng phản ánh gần
đúng. Nghị quyết là tư duy chính trị và cũng là sản phẩm của tư tưởng. Tổ
chức thực hiện Nghị quyết là biến lý thuyết màu xám thành cây đời mãi
mãi xanh tươi, biến lời nói thành hành động. Như Bác đã nói: “Chủ trương
một biện pháp lời nói thành hành động. Như Bác đã nói: “Chủ trương một
biện pháp mười, quyết tâm phải hai mươi”. Tức là sự thống nhất ba mặt
xây dựng Đảng là sự thống nhất hai quá trình xây dựng và tổ chức: “Dù lý
tưởng có cao cả đến mấy cũng không bằng một xu nếu không gắn bó với
cuộc sống”.
Đề ra được cương lĩnh, đường lối đúng Đảng lại phải lãnh đạo đưa
cương lĩnh, đường lối đó vào nội dung hoạt động của Nhà nước, thể chế
hoá tư tưởng, quan điểm của Đảng thành chính sách, luật pháp của Nhà
nước. Đó là điều mà Đảng cầm quyền nào cũng phải làm. Vì đây là lý do
11
đấu, Đảng xông pha nơi khó khăn. Đảng gắn gó với nhân dân bằng những
gì Đảng đã làm cho sự nghiệp giải phóng đất nước”*.
Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân
dân, cấp uỷ Đảng cần trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” phải trở thành khẩu hiệu hành đọng,
thành phương châm công tác vận động quần chúng. Phải thực hiện đúng
nguyên tắc: chính sách của Đảng phải xúât phát từ lợi ích, nguyện vọng của
nhân dân. Ngay cả trường hợp chính sách đúng mà dân chưa hiểu chưa
thuận lòng thì phải ra sức giáo dục giải thích cho dân hiểu, thậm chí phản
điều chỉnh lại cho phù hợp. Lênin nhấn mạnh : một chính sách không phù
hợp với trình độ quần chúng “là một chính sách phiêu lưu”( V.I.Lênin: toàn
tập, Sđd, T25. Tr 225).
Mặt khác, cấp uỷ Đảng và cơ quan chính quyền phải giáo dục cán
bộ, Đảng viên, nhân viên nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, có ý thức
thái đọ đúng với nhân dân, yêu thương gần gũi, tôn trọng, kính nể nhân
dân. Các đoàn thể quần chúng nhất là hội phụ nữ, đoàn thanh niên đổi mới
nội dung và phương thức hoạt động của mình để đi sâu giáo dục, động viên
và phát huy quyền làm chủ tập thể, tích cực tham gia hoạt động chính trịxã hội với đày đủ ý thức trách nhiệm của người làm chủ.
4. Đảng thường xuyên đổi mới tự phê bình và phê bình
Đảng Cộng sản là một tổ chức bao gồm những người ưu tú tiêu
biểu nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, trí thức và các tầng
lớp khác. Giữa họ bao giờ cũng có sự chênh lệch nhất định về trình độ và
nhận thức. Vì vậy, trước một vấn đề nào đó sẽ có những ý kiến, cách thức,
giải pháp khác nhau. Tự phê bình và phê bình, trí tuệ sáng tạo của từng
đảng viên được khơi dậy và phát huy, tìm ra cái đúng và dần dần tiếp cận
*
ĐCSVN: Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi điều lệ Đảng, tại ĐHĐ
hoà thành kiến pháp và pháp luật.
14
- Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng Bộ máy Nhà nước trong sạch
vững mạnh đủ năng lực và hoạt động có hiệu quả, thực sự là Nhà nước của
dân, do dân và vì dân. Sự lãnh đạo của Đảng ở lĩnh vực là đề ra các quan
điểm, nguyên tắc chỉ đạo xây dựng và hoạt động của tổ chức.
- Đảng đề ra quan điểm, chủ trương về công tác cán bộ kiêm tất cả
các khâu đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ.
- Đảng tiến hành kiểm tra đối với Nhà nước và các tô chức trong hệ
thống chính trị. Đảng vừa trực tiếp kiểm tra vừa tổ chức sự phối hợp hoạt
động kiểm tra của cả hệ thống kiểm tra đảng, thanh tra Nhà nước. Thông
qua kiểm tra phát hiện những việc làm đúng, những sai sót qua đó Đảng sơ
kết, tổng kết rút kinh nghiệm, bổ sung và hoàn thiện đường lối, chủ trương
và nâng cao chất lượng lãnh đạo chỉ đạo thực hiện.
2. Phương pháp lãnh đạo của Đảng
- Phương pháp phát huy dân chủ rộng rãi: sức mạnh của CNXH là
ở tính tổ chức, tính kế hoạch, tính tự giác với quy mô toàn xã hội. Sự
lãnh đạo của Đảng là phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng tạo điều kiện cho tất cả mọi
người tự do tư tưởng.
- Phương pháp nêu cao tấm gương của cán bộ, đảng viên và tổ chức
Đảng: là lực lượng lãnh đạo xã hội, đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật, Đảng đòi hỏi các tổ chức Đảng và cán bộ đảng viên phải nghiêm
chỉnh chấp hành pháp luật. Ở bất cứ nơi đâu, trên cương vị nào Đảng viên
cũng phải hoàn thành tốt công việc được giao, gương mẫu trong lao động
sản xuất và công tác giữ gìn phẩm chất đạo đức lối sống.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn. Là biện pháp tiếp tục làm rõ hơn
cô lập, tham gia tích cực vào đời sống của cộng đồng quốc tế với phương
châm “Việt Nam sẵn sàng là đối tác tin cậy của tất cả cả nước” trên cơ sở
lập trường “hoà nhập nhưng không hoà tan”.
2. Những khuyết điểm
16
- Một là, nước ta còn nghèo, nhưng chưa thực hiện tốt cần kiệm
trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng; tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn
thấp.
- Hai là, trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, việc lãnh đạo
xây dựng quan hệ sản xuất mới vừa lúng túng, vừa có tình trạng buông
lỏng, chưa phát huy tốt nhiều tiềm năng, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất.
- Ba là, cơ chế thị trường còn sơ khai, vai trò quản lý vĩ mô của Nhf
nước đối với nền kinh tế còn yếu.
- Bốn là, tình hình xã hội còn nhiều mặt tiêu cực, tệ nạn tham nhũng,
buôn lậu, lãng phí của công chưa được ngăn chặn, thậm chí còn tiếp tục gia
tăng.
- Năm là, hệ thống chính trị có đổi mới nhưng còn nhiều nhược
điểm
3. Những bài học kinh nghiệm
- Thứ nhất, trong quá trình đổi mới phải luôn giữ vững mục tiêu độc
lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Thứ hai, xử ý đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới hệ thống chính
trị và đổi mới kinh tế.
- Thứ ba, đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, phải đi đôi với việc tăng cường vai trò
quản lý của Nhà nước.
- Thứ tư, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của
quyết hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến thật sự trên các mặt, ngăn
chặn và đẩy lùi một bước quan trọng tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên
định về mục tiêu, lýu tưởng cách mạng, thống nhất ý chí và hành động,
tăng cường mối liên hệ với nhân dân, nâng cao năng lực và sức chiến đấu
của Đảng. Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
18
- Trước hết, phải nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của
Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh , mục tiêu
độc lập dân tộc và CNXH.
- Hai là, kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng,
nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.
- Ba là, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong
Đảng, tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; nâng cao chất
lượng và hiệu quả công tác kiểm tra.
- Bốn là, đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ.
- Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó tập
trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước.
Để xây dựng, phát triển và củng cố Đảng đạt mục tiêu đề ra thì cần
phải bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng trên 3 vấn đề lớn: theo tiêu chí Đại hội
X.
- Bổ sung cách diễn đạt về Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai
cấp công nhân lao động và của dân tộc”.
- Bổ sung điều khoản “Bầu uỷ viên Trung ương dự khuyết” nhằm cả
hai mục đích là bồi dưỡng, đào tạo, tạo nguồn cán bộ cho Trung ương và
thay thế Uỷ viên Trung ương chính thức khi khuyết.
- Thứ ba, củng cố Đảng về tổ chức đoàn kết, có sức chiến đấu cao.
- Thứ tư, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân.
- Thứ năm, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảm bảo sự phát triển
liên tục của cách mạng và sự bền vững của chế độ của đất nước.
C. KẾT LUẬN
20
Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi trong
thời kỳ CNH, HĐH và chính trong quá trình này mà Đảng ngày càng phát
triển và trưởng thành. Giờ đây, quá trình CNH, HĐH mới đang ở những
chặng đầu, nhiệm vụ của chúng ta sẽ ngày càng nặng nề và phức tạp hơn.
Vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng phải được đề cao hơn. Chúng tă hội
nhập kinh tế quốc tế mà thời cơ thuận lợi cũng nhiều, thách thức cũng
không nhỏ. Mặt trái của cơ chế thị trường đang là nỗi nhức nhối của toàn
xã hội. Trong khi đó các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang ráo riết
thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình” tiêubiểu là bọn tổ chức ngoại quốc
Việt Tân đang chống đối hòng xoá bỏ chế độcủa ta và phủ nhận vai trò lãnh
đạo của Đảng.
Để tiếp tục đưa đất nước tiến lên CNXH, thực hiện dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh thì toàn Đảng, toàn dân ta cần
phát huy tinh thần và khí phách của cách mạng Tháng Tám, đoàn kết một
lòng thực hiện mục tiêu đó. Chúng ta luôn luôn nắm vững định hướng
XHCN.
Chúng ta đang từng bước chứng kiến sự thay đổi của đất nước. Với
những thành công hết sức khả quan mà chúng ta đạt được là do vai trò lãnh
đạo của Đang Cộng sản Việt Nam- Một Đảng cực kỳ nhạy bén trươc tình
hình thời cuộc đang từng bước vững chắc trên con đường cách mạng
7. Xây dựng Đảng về chính trị, Nxb CTQG, H, 2004.
8. Xây dựng Đảng về tổ chức, Nxb CTQG, H, 2004.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Sự Thật, H, 1977.
10. TS. Bùi Đình Phong- TS. Phạm Ngọc Anh: Công tác xây dựng
Đảng, trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Nxb Lao
Động.
11. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới. PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc. Nxb CTQG,.
12.Các ĐHĐB toàn quốc và hội nghị BCH TW ĐCSVN (19302006)- PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc. Nxb CTQG,
23
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................
B. NỘI DUNG................................................................................................................
CHƯƠNG 1: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VAI TRÒ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ.............
I. Quan điểm của Mác và Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH.........................
1. Quan điểm của Mác-Ănghen.....................................................................
2. Quan điểm của Lênin................................................................................
II. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá........................................................................
1. Khái niệm..................................................................................................
2. Yêu cầu đặt ra đối với quá trình CNH, HĐH............................................
II. Sự cần thiết của Đảng cộng sản trong thời kỳ CNH, HĐH..........................
1. Nền kinh tế thị trường phải cần đến vai trò lãnh đạo của Đảng................
2. Vai trò lãnh đạo của Đảng là tính tất yếu khách quan, là điều kiện
quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ..................................................
1.Xây dựng, phát triển và củng cố Đảng.......................................................
2. Giữ vững vai trò bản chất giai cấp công nhân...........................................
C. KẾT LUẬN................................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................
25