Tiến trình vận động của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX - từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác - Pdf 43

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do lựa chọn đề tài ...........................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .....................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu .........................................................................................22
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .....................................................................23
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................23
6. Đóng góp của luận án ........................................................................................24
7. Cấu trúc luận án .................................................................................................25
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG ...........................................................26
1.1. Ý thức nghệ thuật và sự vận động của ý thức nghệ thuật...............................26
1.1.1. Khái niệm ý thức nghệ thuật ....................................................................26
1.1.2. Những phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật ..............................31
1.1.2.1. Ý thức về chức năng nghệ thuật của văn học ...................................31
1.1.2.2. Ý thức về chất liệu nghệ thuật của văn học ......................................32
1.1.2.3. Ý thức về cấu trúc nghệ thuật của văn học .......................................33
1.1.3. Sự vận động của ý thức nghệ thuật và sự vận động của văn học ............33
1.2. Các tác nhân của sự vận động ý thức nghệ thuật
trong văn học thế kỷ XVIII – XIX .................................................................37
1.2.1. Bối cảnh lịch sử – xã hội .........................................................................37
1.2.2. Bối cảnh văn hoá .....................................................................................40
1.2.3. Bối cảnh tư tưởng ....................................................................................49
1.2.4. Sự ảnh hưởng của văn học Trung Quốc ..................................................58
1.3. Tính khả thủ và triển vọng của việc nghiên cứu đối tượng ............................63




3.3. Sự biến đổi về thể loại ..................................................................................153
3.3.1. Sự biến đổi của hệ thống thể loại...........................................................153
3.3.2. Hiện tượng phá vỡ quy phạm thể loại ...................................................160
3.3.2.1. Chủ thể phát ngôn trong những vai mới .........................................160
3.3.2.2. Sự mở rộng và biến đổi của kết cấu trần thuật................................170
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................179
KẾT LUẬN ............................................................................................................181
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN..............................................................................187
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................188
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Truyện thơ Việt Nam và tiểu thuyết Trung Hoa ......................................98
Bảng 3.1. Hệ thống thể loại.....................................................................................154
Bảng 3.2. Đào hoa mộng ký ....................................................................................177


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
1.1. Từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX, văn học trung đại Việt Nam
ghi nhận sự xuất hiện của nhiều hiện tượng đặc biệt. Trên phương diện sáng tác,
văn học dân tộc đã đạt đến trình độ cổ điển với thành tựu ở nhiều thể loại từ thơ,
phú, ngâm khúc, truyện thơ đến hát nói,v.v. Nhiều tác giả như Nguyễn Du, Hồ
Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ,... bộc lộ cá tính sáng tạo độc đáo.
Trên phương diện lý luận phê bình, những bàn luận, tranh luận về văn chương phản

học giai đoạn hậu kỳ. Được thúc đẩy bởi những lý do như trên, chúng tôi mạnh dạn
lựa chọn đề tài Tiến trình vận động của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII –
XIX: từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác. Qua luận án, chúng tôi mong
muốn khảo sát một cách hệ thống các phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật,
từ đó phân tích, giải thích những vấn đề cốt lõi, đồng thời chỉ ra quy luật vận động
của một giai đoạn văn học vừa sinh động vừa bề bộn. Thiết nghĩa đề tài này thật sự
cần thiết, có thể phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại
Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tranh luận về ''tính văn học'' là cuộc tranh luận phức tạp kéo dài trong
lịch sử. Từ phương Tây đến phương Đông, từ cổ đại đến hiện đại từng xuất hiện
nhiều quan niệm khác nhau về cái gọi là bản chất của văn học, về ranh giới phân
biệt giữa văn bản văn học và các loại văn bản khác. Mỗi cộng đồng tùy theo giai
đoạn, thời đại, hoàn cảnh sở hữu những định nghĩa bất đồng về khái niệm "văn học".
Như vậy, tiến trình văn học có thể hiểu là quá trình vận động của ý thức về bản chất,
chức năng của văn học, của ý thức sáng tạo và tiếp nhận. Và những khác biệt từ
trong ý thức tác giả sẽ được cụ thể hóa thành phương thức tổ chức tác phẩm. Đây
chính là định hướng mà chúng tôi sử dụng để nhìn lại văn học trung đại Việt Nam
từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối XIX.
Từ trước đến nay, giới nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách nhìn nhận về văn
học thế kỷ XVIII – XIX. Qua việc áp dụng những tiêu chí phân kỳ khác nhau, các
nhà nghiên cứu cho thấy quan niệm của mình về diễn tiến và đặc trưng của văn học
trung đại trong hai thế kỷ cuối cùng. Việt Nam văn học sử yếu (1943) của Dương


3

Quảng Hàm tách văn học thế kỷ XVIII – XIX thành hai giai đoạn. Ông gọi văn học
thế kỷ XVII – XVIII là văn học Nam Bắc phân tranh và văn học thế kỷ XIX là văn
học cận kim. Ông đã dùng các yếu tố như yếu tố tôn giáo – tư tưởng, yếu tố văn tự,

XVI – XIX). Lã Nhâm Thìn trong bài viết mở đầu sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 10
(Nxb Giáo dục, 2006) quan niệm văn học trung đại có hai giai đoạn lớn, trong đó
giai đoạn thứ nhất từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII và giai đoạn hai từ thế kỷ XVIII
đến hết thế kỷ XIX. Trần Nho Thìn trong giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ X
đến hết thế kỷ XIX (Nxb Giáo dục, 2012) cũng có cách phân kỳ tương tự nhằm chỉ
ra sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Đoàn Lê Giang trong Luận
án tiến sĩ Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam (2001) theo dõi sự phát triển của tư
tưởng văn học trung đại Việt Nam theo ba giai đoạn, trong đó văn học thế kỷ XVIII
– XIX là một giai đoạn (giai đoạn hậu kỳ).
Mỗi cách phân kỳ đều dựa trên tiêu chí riêng và có cơ sở khoa học. Việc lựa
chọn một cách phân chia nào đó tùy thuộc vào mục đích và đối tượng nghiên cứu
của người đứng ra phân kỳ. Trong luận án này, chúng tôi nhìn văn học thế kỷ XVIII
– XIX từ góc độ ý thức nghệ thuật, nghĩa là xem xét sự thay đổi về mặt ý thức của
tác giả đối với chức năng và đặc trưng văn học và tương ứng với nó là những thay
đổi về thi pháp, thể loại, ngôn ngữ kéo dài từ đầu thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX.
Vì lý do đó, chúng tôi lựa chọn khảo sát văn học của hai thế kỷ này như một tiến
trình.
2.2. Công tác sưu tầm và dịch thuật tài liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việc
nghiên cứu ý thức của tác giả trung đại về văn học, bao gồm văn học thế kỷ XVIII XIX. Năm 1963, trên Tạp chí Văn học số 12, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Vân đã
dịch và công bố Quan niệm văn học của một số nhà nho Việt Nam. Từ năm 1968
đến 1984, những bài dịch lời bạt, lời tựa, thư từ trao đổi giữa các nhà thơ, nhà văn
xuất hiện rải rác trên Tạp chí Văn học. Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh giới
thiệu về Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ; Hoàng Lê về Ninh Tốn, Phạm Thị Tú về
Nguyễn Văn Siêu, Ngô Thì Chí; Trần Lê Sáng về Lê Thúc Hoạch; Chương Thâu về
Cao Xuân Dực; Hồ Sĩ Hiệp về Miên Trinh, v.v. Công việc khó khăn ấy vẫn đang
được tiếp nối. Cuốn Từ trong di sản (những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến đầu
thế kỷ XX ở nước ta) do Nguyễn Minh Tấn chủ biên (Nxb. Thế giới mới, năm 1981)
và cuốn Người xưa bàn về văn chương (Tập 1) của Đỗ Văn Hỷ (Nxb. Khoa học xã



thẩm mỹ của Nguyễn Du. Nguyễn Lộc trong bộ sách Văn học Việt Nam nửa cuối


6

thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX gồm 2 tập do Nxb. Đại học Trung học chuyên
nghiệp xuất bản lần đầu năm 1976, 1978 (khi Nxb. Giáo dục xuất bản lại, được in
chung với bộ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX và lấy nhan đề Văn học Việt
Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX)) đã xác định rõ đặc trưng cơ bản của
văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX là “sự khám phá ra
con người và khẳng định những giá trị chân chính của con người” [122, tr.46]. Ông
nhấn mạnh:
“Đối với văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nói
đặc trưng cơ bản có tính lịch sử của nó là khám phá ra con người, khẳng định những
giá trị chân chính của con người, có nghĩa là nói đến giai đoạn này con người với tất
cả sự phong phú của nó mới trở thành đối tượng chủ yếu, hàng đầu trong nhận thức
của văn học, và điều đó đem lại cho văn học sự đổi mới về nhiều mặt” [122, tr.47].
Đây là một ý kiến quan trọng xác lập sự khác biệt về chất giữa văn học thế
kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX với văn học các giai đoạn khác. Cũng qua bộ sách
này, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc đã phân tích quan điểm sáng tác của nhiều tác giả
thuộc văn học thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX như Ngô Thì Vị, Lê Quý Đôn,
Cao Bá Quát, Bùi Dương Lịch. Ông viết:
“Nếu tìm hiểu kỹ quan điểm văn học của các tác giả đương thời cũng có thể
thấy được chừng mực nào sự chuyển biến trong quan niệm của họ. Khá nhiều nhà
thơ trong giai đoạn này hay nói đến quan niệm "người cùng thì thơ mới hay”” [122,
tr.85].
Nhà nghiên cứu chỉ ra đề cao tình cảm là một biểu hiện độc đáo trong quan
điểm sáng tác của nhiều nhà thơ:
“Một quan điểm nữa cũng được các nhà thơ giai đoạn này nói đến là thơ phải
biểu hiện tình cảm, phải có cảm xúc” [122, tr.86].

Thu hút gần 120 bài tham luận, hội thảo đánh dấu một bước tiến mới đối với việc
nghiên cứu hệ thống, toàn diện cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình
Chiểu. Trong hội nghị, Mai Cao Chương qua bài viết “Tìm hiểu quan điểm văn học
của Nguyễn Đình Chiểu và sự vận dụng quan điểm đó vào thực tiễn sáng tác của
ông” khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức của nhà thơ và thực tiễn


8

sáng tác, đồng thời đánh giá cao tính chiến đấu và tính nhân dân trong quan niệm
“Văn dĩ tải đạo” của Đồ Chiểu:
“Có thể kết luận rằng quan niệm “đạo” trong thơ văn yêu nước chống Pháp
của Nguyễn Đình Chiểu thực chất là yêu nước thương dân” [254, tr.312].
“Quan điểm “chở đạo” của Nguyễn Đình Chiểu gắn rất chặt với thực tiễn
sáng tác của ông, và được khái quát lên từ thực tiễn sáng tác ấy. Nhưng thực tiễn
sáng tác lại không phải là cái gì đó tồn tại độc lập. Trái lại, nó có quan hệ chặt chẽ
với nhà thơ, nó là sản phẩm tinh thần của người cầm bút” [254, tr.312].
Lê Trí Viễn trong chuyên luận Nguyễn Đình Chiểu: Ngôi sao càng nhìn càng
sáng (Nxb. TP Hồ Chí Minh, 1982) cũng đưa ra nhận định tương tự. Phương pháp
xã hội học đã giúp chỉ ra những khía cạnh tiến bộ về lịch sử và nhân sinh trong quan
niệm văn học, quan niệm thẩm mỹ thuộc giai đoạn văn học hậu kỳ. Các nhà nghiên
cứu theo phương pháp này thống nhất với nhau ở chỗ là đều sử dụng mô hình đồng
nhất diễn tiến văn học với diễn tiến của các hình thái xã hội, các cuộc đấu tranh giai
cấp. Trên tạp chí Nghiên cứu Văn – Sử – Địa số 11/1955, Nguyễn Đổng Chi, tác giả
cuốn Việt Nam cổ văn học sử (1942), đã viết:
“Văn học sử là những thiên lịch sử ghi lại những phong trào văn học phản
ánh quá trình đấu tranh của con người. Văn học sử là lịch sử của cả nhân loại hay
của riêng một dân tộc về phương diện văn học. Nó đòi hỏi người viết phải có một
quan điểm duy vật lịch sử và đứng trên lập trường giai cấp vô sản” [265, tr.403].
Quan điểm này chi phối cách đánh giá, phân loại mọi hiện tượng văn học và

học, quan niệm cái đẹp. Trong bài viết “Nho giáo và văn học nghệ thuật” (1981),
Trần Đình Hượu nhiều lần nhấn mạnh nghiên cứu quan niệm văn học, quan niệm
cái đẹp để chỉ ra sự vận động của văn học là một nhiệm vụ cấp thiết: “Văn nghệ
hiện đại gián đoạn với văn chương vì được viết theo quan niệm văn học khác, hệ
thống thể loại khác, tiêu chuẩn cái đẹp khác” [88, tr.40]. “...Chứng tích ảnh hưởng
của Nho giáo trong văn học không chỉ ở mô típ nội dung, hình ảnh, từ ngữ mà sâu
xa hơn là ở quan niệm văn học, quan niệm cái đẹp” [88, tr.40].
Qua các công trình của mình, Trần Đình Hượu đã đặt ra nhiều vấn đề có ý
nghĩa định hướng, làm thay đổi cách tiếp cận đối với văn học trung đại Việt Nam.
Từ sự phát triển của Trần Đình Hượu, “nhà nho tài tử” trở thành một khái niệm có
tính công cụ giúp giải thích sự vận động của văn học. Trước Trần Đình Hượu, nhà


10

nghiên cứu Nguyễn Bách Khoa – Trương Tửu trong công trình Tâm lí và tư tưởng
Nguyễn Công Trứ (Tạp chí Văn mới, Hà Nội, 1944) đã sớm dùng khái niệm “người
tài tử”, “nhà nho tài tử”. Ông viết:
“Quan niệm “cầm kỳ thi tửu” là một quan niệm tài tử. Bằng danh từ này
người ta thường chỉ thị hạng nho sĩ lơ đãng với công việc kinh bang tế thế (hành
đạo) mà thiên trọng về văn học, về sự vui sống cầu kỳ (hành lạc). Đỗ Phủ, Lý Bạch,
Lưu Linh… là những nhà nho tài tử vậy. Họ không sống cho Tổ quốc, không sống
vì đạo lý. Họ sống cho họ, sống vì nghệ thuật, sống vì đẹp. Suốt đời họ chỉ tìm cái
đẹp. Cái ý vị của cuộc sống, theo quan niệm tài tử, không phải ở chỗ phụng sự mà
là ở chỗ hưởng thụ, ở uống rượu, ở làm thơ, ở gẩy đàn, ở đánh cờ, ở giăng gió, ở
sông núi. Nếu không biết thưởng thức những trò chơi ấy một cách mỹ thuật thì dù
có sống đến nghìn tuổi cũng như là chết non mà thôi (thiên tuế diệc vi thương)”
[189, tr.621 - 622].
Đến lượt mình, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu phát triển và đưa ra những
nhận định sâu sắc, có tính “chiến lược” (chữ dùng của Trần Nho Thìn) về nhà nho

yếu ớt nhưng đã được hình thành và dần lớn mạnh” [273, tr.103]. Ông phân tích cặn
kẽ vấn đề này như sau:
“Chính sự khác biệt từ cơ sở kinh tế này đã tạo nên tính đặc thù của loại hình
nhà nho tài tử. Và theo Phan Ngọc, những con người tài tử lại là những người học
đạo thánh hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân. Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao
Bá Quát đều tự xưng là tài tử. Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đều tự
xưng là tài tử. Con người tài tử là điển hình của thời đại mới. Con người quân tử bị
chế giễu, đạo đức sống khắc kỉ phục lễ bị mạt sát. Một trào lưu tư tưởng mới manh
nha trong những chàng trai tài giỏi nhất thời đại” [273, tr.103].
Bên cạnh khái niệm “nhà nho tài tử”, Trần Đình Hượu trong Nho giáo và văn
học Việt Nam trung cận đại cũng đã phân tích một cách khoa học, thấu đáo về quan
niệm văn học và quan niệm cái đẹp của Nho giáo:
“Nho giáo ảnh hưởng tới văn học (kể cả văn học Việt Nam) với tư cách là
một học thuyết tức là một hệ thống các quan điểm về thế giới, về xã hội, về con
người, về lý tưởng,… cho nên cũng có một cách quan niệm văn học riêng. Với quan
niệm đó, người ta hiểu thực chất văn học là gì? Những cái gì được xếp vào văn học?
Thế nào là văn chương? Theo quan niệm văn học của Nho giáo, văn học có một


12

nguồn gốc linh thiêng, một chức năng xã hội cao cả, tổ chức, hoàn thiện con người,
hoàn thiện xã hội” [88, tr.36].
“Quan niệm cái đẹp, cái hay của Nho giáo cũng chi phối ngòi bút. Văn
chương phải để giáo hóa, có quan hệ đến thế đạo, nhân tâm, có tác dụng di dưỡng
tính tình nên phải có nội dung đạo lý. Không những về nội dung không được nói cái
vô đạo, cái thiếu trang nhã mà về hình thức biểu đạt cũng phải thấm nhuần tinh thần
khoan thứ, nhân nghĩa” [88, tr.38].
Tiếp thu những nhận định trên của Trần Đình Hượu và các thế hệ nhà nghiên
cứu học trò của Trần Đình Hượu, chúng tôi nhận thức được rằng sự biến đổi của

thành nên ở ông những nhận thức vô ngôn về một phương thức tư duy nghệ thuật
mới” [31, tr.1066].
Với Hình thức luận, sự tiến triển của văn học được quan niệm như là một
quá trình chống lại sự “tự động hóa”. Mỗi hệ thống được hợp thành bởi nhiều thể
loại văn học, vận động theo quy luật chuyển các thể loại từ ngoại vi vào trung tâm.
Chịu ảnh hưởng từ thi pháp thể loại của M.Bakhtin, Nguyễn Phạm Hùng trong
quyển Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX) (Nxb. ĐH Quốc gia Hà Nội,
1999) dùng mô hình thể loại để nghiên cứu tiến trình vận động của văn học:
“Những sự xuất hiện, biến đổi, phát triển của thể loại văn học, của các phương thức
nghệ thuật trong các thời kỳ lịch sử khác nhau chính là biểu hiện sự phát triển của
lịch sử văn học” [83, tr.6].
Từ góc độ văn hóa, trong công trình Văn học trung đại Việt Nam: dưới góc
nhìn văn hóa (Nxb. Giáo dục, 2013), ông cho rằng “miêu tả lịch sử biến chuyển,
vận động của văn học cần dựa vào khung hệ thống khái niệm hình thành trong giai
đoạn đầu tiên của chính nền văn học đã được viết chứ không phải là những khái
niệm do chúng ta ngày nay nghĩ ra” [213, tr.65]. Tiến trình văn học có tính hệ thống,
vì thế phải được xác lập thông qua một hệ thống khái niệm tương ứng. Nhiệm vụ
của nhà văn học sử phải là phân tích hệ thống khái niệm đó qua tác phẩm văn học
và “theo dõi chúng biến đổi qua thời gian như thế nào, đi tìm những căn cứ lịch sử
xã hội để giải thích sự biến đổi ấy” [213, tr.66]. Bộ sách này tập hợp các bài viết có
giá trị của nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn. Trong bài viết “Trường hợp Nguyễn Du:
Văn học trung đại từ chủ nghĩa dân bản đến chủ nghĩa nhân bản (Về ý nghĩa hiện


14

đại của Nguyễn Du)” (đã in trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12/2005, tr.36-44),
ông phân tích sự thay đổi trong ý thức của Nguyễn Du về con người:
“Nhận thức về con người là một vấn đề có tính lịch sử. Nhận thức này đã
diễn ra trong văn học trung đại như là một quá trình quan sát con người, lúc đầu từ

chứ không phải là cỏ cây, gỗ đá” [213, tr.543].
“Có thể mô tả trào lưu này từ nhiều góc độ khác nhau. Trên phương diện
quan niệm về con người (nhân vật), ta thấy mẫu nhân vật sống chủ tình, “việt danh
giáo nhiệm tự nhiên rất rõ nét” [213, tr.548].
“Về phương diện thể loại, những thể loại quan trọng của giai đoạn văn học
này như ngâm khúc, truyện thơ, hát nói đều chuyên chở nội dung đề cao tình cảm
con người tự nhiên, trần thế” [213, tr.548].
“Về phương diện quan niệm văn học, Lê Quý Đôn viết về vai trò của tình
trong thơ (theo ông, thơ có ba yếu tố căn bản: tình, cảnh, sự). Cao Bá Quát nhắc đến
“tính linh” (khái niệm của Viên Mai dùng trong Tùy Viên thi thoại) để chỉ về tình
cảm chân thật trong thơ” [213, tr.549].
Đi sâu hơn lý luận cổ điển là hướng nghiên cứu ngày càng được chú ý bởi
tính cấp thiết của nó. Một loạt bài viết, công trình ra đời. Nguyễn Ngọc Quận viết
“Quan niệm của Cao Bá Quát về văn học” (Tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, số 6/1999). Nguyễn Đăng Na viết
“Hoa Nguyên thi thảo và lời bình của thi hào Nguyễn Du” (Tạp chí Nghiên cứu văn
học, số 3/2005). Nguyễn Thanh Tùng viết “Nhìn lại quan niệm về thơ của học giả
Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ” (Tạp chí Khoa học ĐHSP Hà Nội, số 2/2006),
“Tìm hiểu quan niệm thi học của Cao Bá Quát” (Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Cán bộ
trẻ Trường ĐHSP Hà Nội, 2010), thực hiện thành công luận án tiến sĩ đề tài Sự phát
triển tư tưởng Thi học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2010). Nguyễn Đình Phức viết “Về bài Tự tự Tĩnh phố thi tập của
Miên Trinh” (Tạp chí Hán Nôm, số 3/2006), “Nguyễn Miên Thẩm dữ thần vận thi
học” (Ngoại vực Hán tịch nghiên cứu tập san, Đệ nhất tập, Trung Hoa thư cục, Bắc
Kinh, 2006), “Luận thi thi, một hình thức phê bình trong văn học Việt Nam cần
được chú ý khai thác” (Tạp chí Hán Nôm, số 5(96)/2009). Trần Đình Sử viết bài
“Đôi điều về quan niệm văn học của Cao Bá Quát” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số


16



17

- Quan niệm văn học yêu nước và tự hào dân tộc
- Quan niệm văn học truyền thụ đạo lý phong kiến (trong thời hưng thịnh và
trong giai đoạn trung suy)
- Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” của vua quan triều Nguyễn
- Quan niệm văn học hiện thực và nhân dân trong thời phong kiến suy thoái
Phần 2: Hệ thống quan niệm về các chỉnh thể chủ yếu của văn học:
- Về nhà văn
- Về tác phẩm văn học
- Về thể loại thơ ca
Công trình không đặt ra vấn đề phân kỳ giai đoạn văn học. Quan niệm văn
học yêu nước và tự hào dân tộc tồn tại xuyên suốt lịch sử trung đại. Quan niệm văn
học truyền thụ đạo lý phong kiến “giữ vai trò tiến bộ từ thế kỷ X đến thế kỷ XV”
(thời hưng thịnh) [125, tr.107] và trở nên tiêu cực vào giai đoạn trung suy (đầu thế
kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII). Vua quan triều Nguyễn thì “hoàn toàn rập khuôn
theo công thức “Văn dĩ tải đạo” của Tống Nho” [125, tr.141]. Quan niệm văn học
hiện thực và nhân dân hình thành rõ nét từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, “đối trọng lại với
quan niệm văn học phong kiến chính thống đương thời” [125, tr.182]. Cấu trúc trên,
như chính tác giả lý giải, tương ứng với hai phần của “khoa lý luận văn học ngày
nay”, phần một ứng với phần Nguyên lý tổng quát và phần hai là các chỉnh thể của
văn học như Nhà văn, Tác phẩm, Thể loại [125, tr.79]. Do đó, công trình của
Phương Lựu giúp người đọc có được cái nhìn khái quát về những vấn đề chung của
văn học trung đại hơn là sự vận động của từng giai đoạn. Ngoài ra, với văn học thế
kỷ XVIII – XIX, quan niệm “Văn dĩ tải đạo” và quan niệm văn học hiện thực và
nhân dân mà tác giả phân tích nghiêng về hướng xã hội học nên những vấn đề về mỹ
học, về lý luận văn học của giai đoạn này chưa thật sự được làm rõ.
Bổ sung cho những khoảng trống còn chưa được khai phá, luận án tiến sĩ Ý

“Rõ ràng là đến Hậu kỳ trung đại trên văn đàn đã xuất hiện một loại tác gia
văn chương mới – nhà nho tài tử. Họ đã đem đến văn chương trung đại một loại
chất khác, mới mẻ, mang đậm tính chất văn nghệ. Chính loại tác gia này đã tạo nên
những thành tựu rực rỡ nhất cho văn chương cổ Việt Nam” [60, tr.106].


19

Đây là hướng nghiên cứu hứa hẹn nhiều triển vọng vì nó chạm đến những
vấn đề thuộc về bản chất của văn học trung đại, đồng thời khơi dậy mối quan tâm
đối với việc nghiên cứu nền lý luận của cha ông.
Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn trong công trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ
X đến hết thế kỷ XIX (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012) dành hẳn một chương “Quan
niệm văn học Việt Nam thời trung đại” [tr.217 – 268] để phân tích về sự vận động
của quan niệm văn học trong tiến trình văn học trung đại. Ông quan sát sự thay đổi
của quan niệm “văn” trong hệ thống “đạo – thánh – văn” và quan niệm “văn” vượt
ra ngoài hệ thống “đạo – thánh – văn”. Với phần quan niệm “văn” trong hệ thống
“đạo – thánh – văn”, ông chỉ ra như sau:
“Nguyễn Trãi đã trình bày một quan niệm rất điển hình về bản chất, chức
năng của văn học chính thống qua đoạn thơ sau:
Văn chương chép lấy đòi câu thánh,
Sự nghiệp tua gìn giữ đạo trung.
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược,
Có nhân, có trí, có anh hùng.
(Bảo kính cảnh giới, bài 5)
Các khái niệm đáng chú ý trong đoạn thơ này là văn chương, thánh, đạo.
“Văn chương” ở đây được đặt trong thế liên hệ với lời dạy của thánh hiền về đạo,
tất nhiên thánh hiền nói đây là thánh hiền của đạo Nho và đạo đây cũng là đạo đức
của nho gia” [215, tr.221].
“Thế kỷ XV có nhiều luận văn bàn về thi nhạc thể hiện rõ tinh thần nhân

phải con người công lợi – mới làm nên giá trị lâu dài của văn học, đây chính là nét
mới nổi bật của văn luận giai đoạn thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX” [215, tr.245].
Ông phân tích phạm trù “tài tình”:
“Tất nhiên, nghĩa của phạm trù “tài tình” vốn là một triết lý sống, một quan
niệm giá trị nhân bản rộng hơn nghĩa chữ tình, chỉ cảm xúc. Tuy vậy, giữa hai khái
niệm cũng có điểm gặp gỡ. Đó là hàm nghĩa về sự chân thực của cảm xúc trong thi
ca, nghệ thuật như là một giá trị cần theo đuổi, cần khẳng định, đề cao. Chúng
hướng về tự do, cá tính, về giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của lý tính đạo
đức nho giáo khô khan, nhiều khi là giả dối” [215, tr.248].
Ông cũng lưu ý đến sự khác biệt giữa thi học Đàng Ngoài và Đàng Trong:


21

“Điều cần lưu ý là sự vận động không đồng bộ của thi học ở Đàng Trong và
Đàng Ngoài. Trên vùng đất mới phía Nam, tại vùng cai quản của chúa Nguyễn, nơi
Nho giáo đang bước đi những bước đầu tiên, nơi giới trí thức vẫn hy vọng vào vai
trò của Nho giáo trong sự nghiệp tổ chức, xây dựng xã hội, thiết lập quan hệ tốt đẹp
giữa người và người – một niềm hy vọng sẽ kéo dài mãi đến Nguyễn Đình Chiểu thì
thi luận kinh học vẫn có cơ sở vững chắc” [215, tr.249].
Sau khi phân tích, so sánh, đối chiếu tỉ mỉ quan niệm “văn” ở nhiều tác giả,
nhiều giai đoạn, từ lý luận phê bình đến thực tế sáng tác, nhà nghiên cứu đi đến kết
luận:
“Nhìn chung, văn luận Việt Nam thời trung đại một mặt hướng đến những tư
tưởng kinh điển, thể hiện lý tưởng xã hội và lý tưởng nhân cách của thánh nhân,
quân tử nên có những đặc trưng của kinh học, lấy chuẩn mực từ tư tưởng, đạo đức,
chính trị, thẩm mỹ của Tứ thư, Ngũ kinh. Mặt khác, do văn luận còn là sự phản ánh
và tổng kết thực tiễn văn học, còn văn học lại vận động, thay đổi theo sự vận động
của lịch sử dân tộc nên xu hướng đi ra ngoài văn luận kinh học cũng là một xu
hướng thực tế. Hai xu hướng đó – văn luận kinh học và văn luận phi kinh học – tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status