ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Câu 4. Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương
I/ Mở bài
- Tú Xương là nhà thơ hiện thực trào phúng xuất sắc của nền văn học Việt Nam
cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đồng thời cũng là tác giả của những vần thơ trữ tình
đằm thắm , thiết tha .
- “Thương vợ” là một sáng tác tiêu biểu cho bút pháp trữ tình trong thơ Tú
Xương.
- Bài thơ đã khắc họa chân dung bà Tú vất vả đảm đang , giàu đức hi sinh và
bộc lộ sự cảm thông , lòng yêu thương trân trọng ngợi ca người vợ của nhà thơ .
II/ Thân bài
1/ Giới thiệu chung
- Trong thơ trung đại Việt Nam , các nhà thơ –nhà nho ít khi viết về cuộc sống
tình cảm đời tư của mình , càng hiếm khi viết về người vợ . Thơ văn xưa coi trọng
mục đích giáo huấn , dùng văn thơ để dạy đời , tỏ chí “văn dĩ tải đạo” , “thi dĩ ngôn
chí” , với những đề tài phổ biến như : chí làm trai , nợ công danh , chí kinh bang tế thế
hoặc những ưu tư về thời cuộc …
- Cũng trong xã hội xưa , vị thế cảu người phụ nữ ít được coi trọng , thậm chí
còn bị coi rẻ .
- Tú Xương thì khác . Ông có nhiều bài thơ viết về vợ với những câu đầy
thương mến , hóm hỉnh :
“Có một cô lái , nuôi một thầy đồ ,
Quần áo rách rưới , ăn uống xô bồ”
Đây là lời đáp của bà Tú khi được ông Tú hỏi về câu đối vừa mới viết :
“ Thưa rằng hay thực là hay ,
Không hay sao lại đỗ ngay tú tài ,
Xưa nay em vẫn chịu ngài”
- Trong một loạt bài thơ Tú Xương viết về vợ , Thương vợ được coi là tác
phẩm tiêu biểu hơn cả . Bài thơ thể hiện cả hai mặt trong thơ Tú Xương , vừa ân tình
niêm riêng khiến ông Tú rất kĩ tính , khó tính . Ấy vậy mà bà Tú vẫn “ nuôi đủ” .
Công lao to lớn của bà nằm ở hai chữ “nuôi đủ” này . Bà Tú thắt lưng buộc bụng , tần
tảo quanh năm không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất của một đại gia đình đông
đảo mà bà còn phải sống lựa , chăm lo cho nhu cầu tinh thần vốn cao sang , tài tử của
ông Tú . Sự đảm đang , khéo léo cảu bà thể hiện ở việc lựa ông Tú mà sống , khéo
chiều sự khó tính khó nết của ông sao cho trong ấm ngoài êm .
- Hai câu thơ đầu đã đặc tả sự nhẫn nại , đảm đang của bà Tú trước gánh nặng
gia đình . Qua đó nhà thơ gián tiếp bày tỏ sự biết ơn đối với người vợ tần tảo của
mình .
3/ Hai câu thực
Lăn lội thân cò khi quãng vắng ,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông .
- Hai câu thơ đã cụ thể hơn tính chất , đặc thù công việc cảu bà Tú . Cách đảo
ngữ “ lặn lội thân cò” , “ eo séo mặt nước” tô đậm chân dung cực nhọc , lam lũ , bươn
chải của bà .
- Nhà thơ mượn hình ảnh ẩn dụ “thân cò” trong ca dao để ví von với thân
phận , cuộc đời người vợ của mình . Con cò trong ca dao cực khổ , bất hạnh vô cùng :
“ Cái cò lặn lội bờ sông –Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”
“Cái cò đi đón cơn mưa – Tối tưm mù mịt ai đưa cò về”
“ Cái cò mà đi ăn đêm – Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”
- Nhà thơ đã đồng nhất thân phận bà Tú với thân phận của những người lao
động vất vả , lam lũ . Thân cò còn gợi dáng vẻ bé nhỏ , gầy gò , đáng thương tội
nghiệp của người vợ ông Tú .
- Bà Tú bé nhỏ yếu ớt thế mà phải một mình thân gái dặm trường , đi làm qua
những nơi “ quãng vắng” . Khi khỏe thì không sao nhưng khi trái gió rở trời , sảy chân
bất kì thì không biết bà Tú sẽ gặp nguy hiểm chừng nào . Thế mới thâm thía câu
‘Buôn có bạn , bán có phường” . Câu thơ mang sức nặng của tấm lòng thương cảm
mà ông Tú dành cho vợ .
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không
- Hai câu thơ vẫn là lời Tú Xương nhập thân vào bà Tú để chửi , để rủa chính
thói đời bạc bẽo , trách cứ sự vô tích sự của mình .
- Thói đời là những nếp cư xử ,hành động xấu chung mà người đời hay mắc
phải . Thói đời mà Tú Xương muốn nói đến ở đây là tư tưởng trọng nam khinh nữ , là
thói vô tâm cảu các ông chồng với vợ . Thói xấu ấy cũng đã thấm vào người ông Tú ,
khiến ông ăn ở bạc với vợ , sống thiếu trách nhiệm , đổ mọi gánh nặng lên đôi vai
người vợ . Như vậy , ông Tú không chỉ chửi chung thói đời mà còn chửi chính bản
thân mình .
- Đây là lời chửi mang đặc trưng riêng của Tú Xương . Nhà thơ dùng lời ăn
tiếng mói của dan gian “ cha mẹ” – một cách chửi có gọng điệu chanh chua nanh nọc ,
gay gắt , quyết liệt , lôi cả gốc rễ tông giống của vấn đề ra mà chửi . Đó chính là biểu
hiện của cá tính sắc sảo Tú Xương .
- Câu thơ cuối cùng là một lời rủa . Nhà thơ thay vợ mà rủa rằng có chồng mà
chồng hờ hững thì còn tệ hơn cả không có chồng . Có thể hiểu câu đó nghĩa là ông
chồng mà sống vô tích sự , vô trách nhiệm với gia đình thì ông ta sống cũng như chết
rồi .
- Hai câu thơ cuối là một cách chuộc lỗi đặc biệt của nhà thơ với vợ . Lời thơ
giản dị pha lẫn nụ cười trào phúng mà vẫn chân chất , thấm thía tấm lòng thương vợ
đáng quy trọng .
III/ Kết bài .
- Thương vợ là bài thơ ngắn gọn , súc tích , có ngôn ngữ giản dị , giọng thp ân
tình , hóm hỉnh đã khắc họa chân dung bà Tú – người vợ tảo tần đảm đang , chịu
thương chịu khó , giàu dức hi sinh vì chồng con , mang vẻ đẹp truyền thống cảu người
phụ nữ Việt Nam .
- Tác phẩm cũng bộc lộ sự cảm thông , trân trọng biết người vợ sâu sắc của nhà
thơ Tú Xương .
Câu phá đề nói lên thời điểm khi nữ sĩ vừa “bước tới” chân đèo. Đó là lúc
mặt trời đã gác núi, lúc “bóng xế tà”. Thời khắc ấy thường rất buồn, nhất là đối
với khách li hương. Chữ “tà” để gieo vần, là trầm bình thanh (thanh bằng có dấu
huyền) cũng tạo nên âm điệu trầm buồn như kéo dài mãi ra.
–
Câu thừa đề gợi tả cảnh quan con đèo. Cỏ, hoa, lá, đá “chen” nhau mà tồn
tại. Cảnh cằn cỗi hoang vu. Điệp ngữ “chen” tô đậm nét cằn cỗi, hoang vu ấy.
Chữ “lá” vần với chữ “đá” tạo nên một vần lưng đặc sắc, hòa điệu với vần chân:
“tà – hoa”, âm điệu thơ trầm bổng, du dương. Hoa được nói tới là hoa rừng, hoa
mua, hoa sim tím, một “màu hoang biền biệt” (thơ Hữu Loan).
Phần thực:
–
Cuộc sống và con người nơi Đèo Ngang hơn 150 năm về trước. Cành vật
đối nhau: có núi và sông, có mấy chú tiều phu “lom khom” gánh củi và mấy nhà
chợ “lác đác” thưa thớt. Chợ miền núi, chợ chiều nên trống trơ, hoang vắng.
– Cặp từ láy “lom khom” và “lác đác” đứng đầu câu thơ đảo ngữ vừa tạo nên
ấn tượng sâu sắc về cuộc sống hoang vắng, nghèo nàn nơi Đèo Ngang. Nữ sĩ
càng cảm thấy mình bơ vơ, trơ trọi và buồn khôn xiết kể.
Phần luận:
– Trời tối dần, chim rừng cất tiếng gọi đàn: con cuốc cuốc và cái gia gia. Khúc
nhạc rừng cất lên, lúc hoàng hôn rất buồn, gợi lên bao nỗi niềm đối với li khách
vừa “nhớ nước, đau lòng” vừa “thương nhà mỏi miệng”. Tiếng chim cũng là
tiếng lòng. Bút pháp tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc.
– Phép đối và đảo ngữ vừa tạo hình vừa tạo nhạc; vần thơ rung lên làm xúc
Câu 3. Phân tích bài thơ “ Thiên trường vãn vọng” của Trần Nhân tông.
Chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở (THCS) đã đưa vào thêm một số
tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, trong đó có bài Thiên Trường vãn vọng của
Trần Nhân Tông. Có lẽ người làm chương trình đã cân nhắc nhiều khi phải chọn
một trong ba tác phẩm: Xuân hiểu, Hạnh Thiên Trường hành cung và Thiên
trường vãn vọng. Hạnh Thiên Trường hành cunglà một tuyệt tác song hơi khó đối
với học sinh THCS. Xuân hiểu thật trong sáng, dễ hiểu, song lại không thể hiện
được nhiều phương diện tư tưởng và tình cảm của tác giả như Thiên Trường vãn
vọng.
Người viết phần này ở Sách giáo khoa đã chọn bản dịch của Ngô Tất Tố:
Trước xóm sau thôn tựa bóng lồng,
Bóng chiều man mác có dường không.
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng(1).
Bản dịch khá hay, tuy nhiên, khi có điều kiện, nên cân nhắc so sánh thêm với
bản dịch của Trần Lê Văn, ít nhất cũng nên cho học sinh đọc thêm bản dịch này:
Thôn trước thôn sau nhạt khói lồng,
Bóng chiều nửa có nửa hư không.
Đi trong tiếng sáo trâu về hết,
Cò trắng song song liệng xuống đồng(2).
Xin ghi phiên âm nguyên văn bài thơ để tiện so sánh hai bản dịch và làm cơ
sở cho việc phân tích:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Bản dịch của Trần Lê Văn không lưu giữ được bóng dáng những chú mục
thứ ba, đi trong tiếng sáo rõ ràng là sát nghĩa, nên thơ hơn là sáo vẳng. Ở câu
cuối,song song hay từng đôi đều ổn, tuy sắc thái biểu cảm và tác dụng gợi cảm cũng
có khác nhau chút ít. Cuối cùng là việc dịch tên đề thơ, một vấn đề thường không
đơn giản. Ít nhất đã có ba cách dịch khác nhau. Bản ở Hợp tuyển: Ngắm cảnh chiều
ở Thiên Trường (Sđd, tr.96), bản ở SGK Ngữ văn 7: Buổi chiều đứng ở phủ Thiên
Trường trông ra, bản ở Đến với thơ hay: Từ cung Thiên Trường ngắm cảnh đồng
quê buổi chiều. Điểm nhìn ở cách dịch thứ nhất không rõ; đối tượng nhìn ở cách
dịch thứ hai thiếu xác định, ở cách dịch thứ ba lại quá cụ thể!
Đưa ra vài nhận xét trên đây, chúng tôi chỉ muốn bày tỏ một ước vọng: làm
sao có được bản dịch hay nhất của các tác phẩm ưu tú viết bằng chữ Hán của tiền
nhân để con em chúng ta có thể tiếp thu được đầy đủ tinh hoa của truyền thống văn
hóa dân tộc?
GS. Lê Trí Viễn cho rằng, ở bài Thiên Trường vãn vọng, “nhà thơ là thiền sư,
con mắt thế tục nhưng tâm thiền”. Tuy nhiên, với đối tượng là học sinh phổ thông,
giáo sư chủ trương: “Tạm gác phía thiền cảm. Hãy dừng ở thế tục, ở cảm quan hiện
thực”.
SGK Ngữ văn 7 về cơ bản cũng chủ trương như vậy.
Bài thơ tả một cảnh thôn quê đơn sơ, đạm bạc như muôn vàn cảnh thôn quê
lúc chiều xuống song lại có sức chứa đựng lớn lao kỳ vĩ và có ý nghĩa hiện thực sâu
rộng.
Để làm rõ điều đó, GS. Lê Trí Viễn đã gắn việc phân tích mọi từ ngữ, chi tiết,
hình ảnh của bài thơ với hoàn cảnh sáng tác - “sau chiến thắng quân Nguyên Mông
lần thứ hai, lần thứ ba và sau một thời gian khôi phục lại cuộc sống yên lành cho đất
nước” - và với “tầm mắt và tầm nghĩ, điệu xúc động của một ông vua thi sĩ”, Trần
Nhân Tông, ông vua “đã tự thân lăn lộn trong dân, cùng nhân dân vào sinh ra tử gian
khổ biết chừng nào mới đánh đuổi được quân giặc, giành lại được cho đất nước, cho
dân cảnh sống thanh bình nảy”. Do đó, “bài thơ ngắn này không phải là một khắc
mà thơ của một thời đại, rất tiêu biểu cho một thời đại vẻ vang vào bậc nhất trong
chi”, tức dùng cái hư và cái thực làm nổi bật lẫn nhau. Ở Phạm Trọng Yêm, lâu đài,
cánh chim trắng, mặt trời sắp lặn là những yếu tố “thực” làm nổi bật cái mông lung
huyền ảo “chẳng phải khói cũng chẳng phải sương mù”; ở Trần Nhân Tông cũng
vậy: tác giả không tả bản thân cảnh mặt trời sắp lặn, xóm thôn mà là cái sau
thôn vàtrước thôn, cái bên mặt trời lặn, cái nhạt tựa khói và nửa không nửa có, tức
cái thần của khung cảnh. Bởi vậy, dịch “thôn hậu, thôn tiền” thành “thôn trước, thôn
sau” là chưa lột được cái thần đó. Cảnh sắc sau thôn và trước thôn đều giống nhau,
đều “nhạt tựa khói” lúc hoàng hôn, đó còn là dấu hiệu đặc trưng của cảnh ở đồng
bằng, nếu tả cảnh sau núi và trước núi thì không thể nói như thế. Như vậy là chỉ qua
2 câu thơ đầu, ta đã thấy Trần Nhân Tông có một cặp mắt quan sát rất tinh tế, vừa có
một tâm hồn thi sĩ, vừa có tài năng của một họa sĩ.
Về đặc điểm nghệ thuật của 2 câu sau, xin được kết hợp nói ở phần dưới.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự biểu hiện thiền cảm, thiền ý, thiền tâm... ở
những bài thơ miêu tả thiên nhiên của Trần Nhân Tông không rõ ràng bằng ở những
bài thơ viết về cùng đề tài của nhiều nhà sư thời Lý- Trần. Cần nói thêm: ngay so
sánh với những bài thơ khác miêu tả thiên nhiên của chính Trần Nhân Tông, sự biểu
hiện thiền ý ở bài Thiên Trường vãn vọng cũng kín đáo hơn, do đó, nói như Nguyễn
Kim Sơn và Trần Thị Mĩ Hà, “ngộ được thiền ý trong đó không phải là đơn giản”...
Hai tác giả này đã lý giải sự bộc lộ thiền ý ở bài thơ này một cách khá đầy đủ và thỏa
đáng: “Cả bài thơ không dùng một điển tích Phật giáo nào, cảnh vật cũng chỉ là một
làng quê hết sức bình thường. Nhưng trong cái tưởng như bình thường đó lại chứa
đựng cả một quan niệm về thế giới của tác giả. Thôn xóm như được bao phủ bởi
một lớp sương huyền ảo, trở nên “mờ mờ” không rõ ràng. Cảnh vật cũng ở trạng
thái không hề xác định “nửa như có” mà cũng “nửa như không” trong ánh chiều tà
của một ngày. Trên cánh đồng, trẻ mục đồng dắt trâu về trong tiếng sáo: cái có lại
chuyển dần thành cái không. Trên nền “không” của cánh đồng đó, lại xuất hiện một
cái “có”: đôi cò trắng song song đáp xuống đồng. Tất cả nằm giữa hai bờ hư thực,
vừa mờ ảo như được phủ trong khói, vừa rõ ràng đến mức trông thấy cả đôi cò đáp
động-tĩnh, đó là đặc điểm của cảnh hoàng hôn của làng quê thanh bình, đó cũng là
cảnh giới Phật. Một vấn đề khác cần đặt ra: có nên gọi Thiên Trường vãn
vọng là thơ thiền không? Theo tôi, không nên gọi tất cả các bài thơ do thiền sư sáng
tác ra là thơ thiền vì sự thể hiện thiền ý, thiền cảm... ở đó luôn có những mức độ
khác nhau. Ở Thiên Trường vãn vọng, sự thể hiện thiền ý rất sâu sắc song theo tôi
chỉ nên xem đây là một bài thơ nhuốm tư tưởng thiền mà không phải là một bài thơ
thiền vì ở đây cảm quan hiện thực cũng không kém phần sâu đậm, đặc biệt là ở câu
thứ tư. Trong thơ Đường, câu cuối bao giờ cũng để lại một dư âm vang vọng. Khó
có thể nói đây là một câu thơ mang thiền ý sâu đậm. Xin mượn lời bình câu thơ này
của giáo sư Lê Trí Viễn để bày tỏ ý kiến của mình: “Bạch lộ là cò trắng. Lúa đang
lên xanh, chân ruộng xắp nước, cò rủ nhau xuống ruộng kiếm ăn. Một nét vui đồng
ruộng nhưng được nhấn mạnh, tách riêng từng đôi. Dường như giấu trong đó một
niềm vui hạnh phúc tình yêu, hoặc cao hơn, một sự sinh sôi của sự sống. Từng đôi
có trống có mái chứ không tán loạn, tan tác như thời còn giặc. Cả một cảnh êm ả
như dàn ra, bao bọc cho những lứa đôi này: cò trắng, lúa xanh, cá tôm dưới gốc.
Chuẩn bị sẵn sàng, kín đáo cho no ấm và cho hạnh phúc sinh sôi”(7).
Với tất cả những điều phân tích trên, có thể khẳng định Thiên Trường vãn
vọng là một tuyệt tác, một trong những bài thơ tứ tuyệt Đường luật cô đọng nhất,
một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của văn học trung đại Việt Nam.