Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học bách khoa hà nội
Luận văn thạc sỹ khoa học
Ngành: Quản trị kinh doanh
Một số giải pháp
nâng cao chất lợng nhân lực
của Kiểm toán nhà nớc việt nam
Vơng Văn Quang
Hà Nội 2006
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học bách khoa hà nội
Luận văn thạc sỹ khoa học
Một số giải pháp
nâng cao chất lợng nhân lực
của Kiểm toán nhà nớc việt nam
Ngành: quản trị kinh doanh
Vơng Văn Quang
Ngời hớng dẫn khoa học: GS, TS. Đỗ Văn Phức
Hà Nội 2006
04
Nội dung, tính chất và đặc điểm hoạt động của Kiểm toán
Nhà nớc
04
Bản chất, vai trò và các phơng pháp đánh giá chất lợng nhân
lực của tổ chức
12
Các yếu tố quyết định, ảnh hởng đến chất lợng nhân lực của
tổ chức
28
Kinh nghiệm xây dựng, quản lý nhân lực của một số cơ quan
Kiểm toán tối cao trên thế giới và khuyến cáo của INTOSAI
34
Chơng 2. Thực trạng chất lợng nhân lực của
kiểm toán nhà nớc việt nam
46
2.1
Đặc điểm hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc Việt Nam
Nhà nớc Việt Nam
94
Kết luận
106
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Danh mục các bảng
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1.1
Đánh giá chất lợng nhân lực theo cơ cấu chức danh công chức
19
1.2
Đánh giá chất lợng nhân lực theo cơ cấu ngạch công chức
23
1.8
Đánh giá chất lợng nhân lực l nh đạo, quản lý
24
1.9
Phiếu điều tra mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của các loại
nhân lực
26
1.10
Lợng hoá các tiêu chuẩn đánh giá chất lợng nhân lực
27
1.11
Xếp loại chất lợng nhân lực của Kiểm toán Nhà nớc
28
2.1
Thực trạng nhân lực theo cơ cấu về giới tính
67
2.7
Thực trạng nhân lực theo thời gian làm việc theo chuyên môn
đợc đào tạo
68
2.8
Thực trạng cán bộ l nh đạo, quản lý
68
2.9
Tổng hợp kết quả điều tra mức độ đáp ứng yêu cầu công việc
2.10
Lợng hoá kết quả đánh giá chất lợng nhân lực
71
3.1
Tổng hợp biên chế của Kiểm toán Nhà nớc đến năm 2010
Danh mục CHữ viết tắt
ADB
Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển Châu á.
ASOSAI
Asian Organization of Superme Audit Institutions - Tổ chức
Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán Tối cao Châu á.
CNAO
National Audit Office of China - Cơ quan Kiểm toán Quốc vụ
viện Trung Quốc.
COA
Commission on Audit - Uỷ ban Kiểm toán Philippines.
GAO
General - Accounrability Offce - Cơ quan giải toả trách nhiệm
Hoa Kỳ.
GTZ
Deutsche Gesellschaft fur Technische Zusammenarbeit (GTZ)
quốc gia trên trờng quốc tế.
Kiểm toán Nhà nớc là cơ quan chuyên môn trong hệ thống thiết chế nhà
nớc, thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát độc lập đối với các hoạt động
tài chính công, tiền và tài sản nhà nớc. Là cơ quan lần đầu tiên đợc thành
lập ở Việt Nam trong, sau 10 năm xây dựng và phát triển, cùng với việc xây
dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và phát
triển các loại hình hoạt động kiểm toán, xây dựng và hoàn thiện các phơng
pháp chuyên môn nghiệp vụ, Kiểm toán Nhà nớc đ xây dựng và phát triển
nhân lực bớc đầu đáp ứng đợc yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị theo
luật định.
Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu cải cách nền hành chính Nhà nớc,
triển khai thực hiện Luật Kiểm toán nhà nớc, Luật Chống tham nhũng đ
đợc Quốc Hội thông qua, đáp ứng kỳ vọng của Đảng, Nhà nớc và nhân dân
đối với cơ quan Kiểm toán Nhà nớc là phòng, chống, ngăn chặn các hành vi
tham nhũng, l ng phí trong các lĩnh vực công, góp phần lành mạnh hoá các
quan hệ tài chính - tiền tệ, tăng cờng hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài
sản nhà nớc, tăng cờng hiệu lực hoạt động của bộ máy nhà nớc, đòi hỏi
Kiểm toán Nhà nớc phải có bớc phát triển mang tính đột phá về mọi mặt Trong đó một trong những vấn đề mang tính quyết định là nâng cao chất
lợng nhân lực cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức công vụ. Đây là vấn
đề mang tính thời sự đối với tất cả các cơ quan trong hệ thống thiết chế nhà
2
nớc và nó càng có ý nghĩa quan trọng đối với kiểm toán nhà nớc - Công cụ
kiểm tra, kiểm soát vĩ mô của nhà nớc trong các lĩnh vực công.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với công tác phát triển nhân lực
của Kiểm toán Nhà nớc và những kiến thức đ đợc học về quản lý, quản trị
nhân lực, tôi chọn đề tài "Một số giải pháp nâng cao chất lợng nhân lực của
Kiểm toán Nhà nớc" để thực hiện Luận văn thạc sỹ. Nội dung nghiên cứu đề
Luận văn đợc thực hiện trên cơ sử dụng đồng thời phơng pháp:
- Sử dụng các phơng pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hoá và suy
luận logic đề nghiên cứu cơ sở lý luận về nhân lực và chất lợng nhân lực;
- Sử dụng các phơng pháp khảo sát thực tiễn, thống kê, tổng hợp, phân
tích và suy luận logic để tổng kết, đánh giá thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế và
rút ra những bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lợng nhân lực;
- Sử dụng các phơng pháp dự đoán, mô hình hoá, phân tích hệ thống và
suy luận logic để xây dựng các giải pháp nâng cao chất lợng nhân lực của
Kiểm toán Nhà nớc.
6. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn đợc bố cục theo kết cấu 3 chơng
Chơng 1. Cơ sở lý luận về chất lợng nhân lực của Kiểm toán Nhà nớc;
Chơng 2. Thực trạng chất lợng nhân lực của Kiểm toán Nhà nớc
Việt Nam;
Chơng 3. Một số giải pháp nâng cao chất lợng nhân lực của Kiểm toán
Nhà nớc Việt Nam.
4
Chơng 1
Cơ sở lý luận về chất lợng
nhân lực của kiểm toán nhà nớc
1.1. Nội dung, tính chất và đặc điểm hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc
1.1.1. Bản chất và nội dung hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc
Sự hình thành và phát triển của Kiểm toán Nhà nớc trên thế giới gắn
liền với sự hình thành, ra đời và phát triển của tài chính nhà nớc mà chủ yếu
là ngân sách nhà nớc; xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của việc kiểm tra, kiểm
soát việc chi tiêu ngân sách và công quỹ quốc gia từ phía nhà nớc. Kiểm toán
Nhà nớc trên thế giới đ có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay ở các nớc
quyết về hoạt động của các Cơ quan Kiểm toán nhà nớc (Supreme Audit
Istitutions - SAI) và các chuẩn mực kiểm tra tài chính công (gọi tắt là Tuyên
bố Lima) với 100% số phiếu thông qua.
Về sự cần thiết của hoạt động kiểm toán nhà nớc theo Tuyên bố Lima:
Việc sử dụng hợp lệ và hợp lý các nguồn kinh phí công hữu là một
trong những tiền đến cơ bản đối với việc sử dụng đúng đắn các nguồn tài
chính công hữu hiệu và hiệu lực của các quyết định do các cơ quan có thẩm
quyền ban hành. Để đạt mục tiêu này nhất thiết mỗi quốc gia phải có một Cơ
quan Kiểm toán tối cao mà tính độc lập của nó phải đợc quy định trong luật
pháp; sự tồn tại của một cơ quan nh vậy càng cần thiết hơn, vì các các hoạt
động của nhà nớc ngày càng mở rộng hơn sang lĩnh vực x hội và kinh tế và
do vậy sẽ vợt ra khỏi những giới hạn của nền tài chính thông thờng. (Tuyên
bố Lima 1988)
Về nội dung hoạt động kiểm toán, theo tinh thần của Tuyên bố Lima, với
tính chất là cơ quan kiểm tra, kiểm soát tài chính công cao nhất của nhà nớc,
dù thuộc thể chế chính trị nào, mô hình tổ chức nhà nớc nào, các cơ quan
Kiểm toán Nhà nớc trên thế giới đều có chung những nội dung hoạt động
kiểm toán chủ yếu sau:
- Kiểm toán cơ quan nhà nớc và cơ quan khác ở nớc ngoài: Nội dung
này bao gồm việc kiểm toán tình hình quản lý và sử dụng kinh phí đợc cấp từ
6
ngân sách nhà nớc; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật trong quá trình hoạt
động theo chức năng, nhiệm vụ đợc quy định; kiểm toán tính kinh tế, tính
hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nớc, các
đơn vị sự nghiệp công hoạt động cả ở trong và ngoài nớc.
- Kiểm toán thuế: Thuế là nguồn thu chủ yếu của các quốc gia, cơ quan
Kiểm toán Nhà nớc có quyền kiểm toán việc thu thuế không chỉ dừng lại ở
đóng góp cổ phần. Cơ quan Kiểm toán Nhà nớc của các quốc gia thực hiện
kiểm toán hàng năm đối với các doanh nghiệp này về tình hình quản lý và sử
dụng vốn của nhà nớc, của khu vực công trong doanh nghiệp; về những vấn
đề liên quan đến tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực hoạt động của các
doanh nghiệp.
- Kiểm toán tổ chức đợc trợ cấp: Các tổ chức trong x hội đợc trợ cấp
từ ngân sách nhà nớc, từ các quỹ tiền tệ tập trung không thuộc ngân sách nhà
nớc là một nội dung kiểm toán của các cơ quan Kiểm toán Nhà nớc trên thế
giới. Mục tiêu kiểm toán các tổ chức này là kiểm toán việc sử dụng các khoản
trợ cấp lấy từ công quỹ của nhà nớc; khi khoản trợ cấp đó là đặc biệt cao, do
tự bản thân nó hay trong tơng quan với lợng thu chi cơ bản của tổ chức đợc
trợ cấp, thì cuộc kiểm toán, nếu thấy cần, có thể đợc mở rộng ra để bao gồm
toàn bộ công tác quản lý tài chính của tổ chức đó; kiểm toán và thu hồi các
khoản trợ cấp chi sai mục đích giải trình.
- Kiểm toán tổ chức quốc tế và siêu quốc gia: Tổ chức quốc tế và siêu
quốc gia có các khoản chi tiêu lấy từ đóng góp của quốc gia thành viên phải
chịu sự kiểm toán độc lập, từ bên ngoài, giống nh đối với từng quốc gia. Tuy
nhiên, những cuộc kiểm toán này phải tính đến mức độ sử dụng nguồn lực và
nhiệm vụ của tổ chức đó, cuộc kiểm toán phải tuân theo nguyên tắc tơng tự
nh nguyên tắc điều tiết cuộc kiểm toán do cơ quan Kiểm toán Nhà nớc thực
hiện tại quốc gia mình và để đảm bảo tính độc lập của cuộc kiểm toán, thành
viên nhóm kiểm toán từ bên ngoài đó phải đợc bổ nhiệm chủ yếu từ các cơ
quan Kiểm toán Nhà nớc của các quốc gia thành viên.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kiểm toán nhà nớc
Với mục đích hoạt động kiểm tra của các cơ quan Kiểm toán Nhà nớc
đợc xác định là:
8
9
nớc không bị giới hạn, không có vùng cấm. Tuy nhiên, do phạm vi của các
hoạt động đó rất rộng lớn và đa dạng, mặt khác do một số yếu tố đặc thù về
chính trị - x hội, pháp luật, ở nhiều nớc phạm vi đối tợng của Kiểm toán
Nhà nớc có những giới hạn nhất định, đặc biệt là ở các lĩnh vực nhạy cảm và
lĩnh vực tối mật quốc gia (an ninh, quốc phòng).
Thứ hai, Đặc điểm về mô hình tổ chức và tính độc lập trong hoạt động
kiểm toán nhà nớc: Tại 180 quốc gia thành viên của Tổ chức Quốc tế các cơ
quan Kiểm toán Tối cao INTOSAI mô hình tổ chức Kiểm toán Nhà nớc rất
đa dạng và có thể phân chia thành 3 mô hình cơ bản sau: mô hình Kiểm toán
Nhà nớc trực thuộc cơ quan lập pháp, mô hình Kiểm toán Nhà nớc trực
thuộc cơ quan hành pháp và mô hình Kiểm toán Nhà nớc đứng độc lập với cơ
quan lập pháp và cơ quan hành pháp. Hệ thống tổ chức có thể là một cấp (đơn
tuyến) tập trung thống nhất bao gồm Kiểm toán Nhà nớc ở trung ơng và
Kiểm toán Nhà nớc khu vực trực thuộc Kiểm toán Nhà nớc trung ơng,
không lập Kiểm toán Nhà nớc ở chính quyền địa phơng, hoặc có thể là tổ
chức đa cấp, ở mỗi cấp chính quyền đều lập cơ quan Kiểm toán Nhà nớc của
cấp mình, cơ quan kiểm toán các cấp hoàn toàn độc lập với nhau. Tuy nhiên,
dù thuộc mô hình tổ chức nào, tổ chức bộ máy theo theo hệ thống nào, các cơ
quan Kiểm toán Nhà nớc trên thế giới đều tuân thủ một nguyên tắc hoạt
động chung là độc lập, khách quan, chỉ tuân theo pháp luật.
Thứ hai, Đặc điểm về cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc: Cơ
chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc các nớc trên thế giới cũng chia ra
làm 2 dạng: cơ chế thủ trởng và cơ chế hội đồng (đồng sự). Với cơ chế thủ
trởng mọi hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc đều do ngời đứng đầu (thủ
trởng) cơ quan Kiểm toán Nhà nớc quyết định và chịu trách nhiệm trớc
pháp luật. Với cơ chế hội đồng, mọi hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc đều
do các uỷ viên Hội đồng quyết định tập thể theo đa số. Các uỷ viên hội đồng
là ngời có vị trí pháp lý độc lập nh một thẩm phán. Mỗi cơ chế hoạt động
doanh cũng nh việc quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí ngân sách nhà
nớc của chính phủ và các tổ chức đòi hỏi phải có hiệu quả hơn. Do đó chức
11
năng t vấn về pháp luật kinh tế, tài chính để tổ chức thực hiện luật và các cơ
chế chính sách về quản lý kinh tế, tài chính cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức,
cá nhân có quản lý và sử dụng ngân sách nhà nớc và sản xuất kinh doanh là
một nhu cầu không thể thiếu đợc nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời
đa hoạt động kinh tế vào khuôn khổ pháp luật.
Ngoài hai chức năng cơ bản trên, ở một số quốc gia, cơ quan Kiểm toán
Nhà nớc còn thực hiện chức năng kiểm toán điều tra trong lĩnh vực kinh tế ngân sách (Uỷ ban Kiểm toán Philippines - COA), chức năng điều tra tội
phạm kinh tế (Cơ quan quan Giải toả trách nhiệm Hoa Kỳ - GAO), chức năng
phán xử đối với các sai phạm đợc phát hiện trong quá trình kiểm toán (Toà
thẩm kế Cộng hoà Pháp), chức năng xây dựng và ban hành chế độ kế toán nhà
nớc áp dụng trong các cơ quan Chính phủ (COA và GAO).
Thứ t, Đặc điểm về nhân lực và hoạt động đào tạo, bồi dỡng của các
cơ quan Kiểm toán Nhà nớc: Nhân sự của các cơ quan Kiểm toán Nhà nớc
trên thế giới là công chức trong nền công vụ. Một trong những chức danh
công chức chiếm tỷ trọng chủ yếu của các cơ quan Kiểm toán Nhà nớc là
Kiểm toán viên, chức danh này có tiêu chuẩn quy định riêng cao hơn các chức
danh công chức khác trong nền công vụ. Công tác đào tạo, bồi dỡng của các
cơ quan Kiểm toán Nhà nớc là hoạt động thờng xuyên do yêu cầu nghề
nghiệp, phần lớn các cơ quan Kiểm toán Nhà nớc trên thế giới đều thành lập
các cơ quan chuyên trách hoạt động này dới hình thức các Học viện, Trung
tâm Phát triển nhân lực hoặc các trờng đào tạo Kiểm toán viên Nhà nớc.
Thứ năm, Tính chất hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc: Tính chất hoạt
động của các cơ quan Kiểm toán Nhà nớc là hoạt động kiểm tra, kiểm soát
thờng xuyên của Nhà nớc trong lĩnh vực tài chính công; là hoạt động kiểm
thành từ khả năng lao động của từng con ngời. Khả năng này đợc hợp thành
bởi các nhóm yếu tố về sức khoẻ, trình độ, tâm lý và sự cố gắng trong lao
động, công tác.
Kiểm toán Nhà nớc là cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nớc, là một
tổ chức trong x hội, nhân lực của Kiểm toán Nhà nớc cũng có bản chất nh
13
nhân lực thuộc các tổ chức kinh tế - x hội khác. Tuy nhiên, do tính chất và
đặc điểm hoạt động khác biệt của hoạt động kiểm toán nhà nớc, nên nhân lực
của Kiểm toán Nhà nớc có những điểm khác biệt về cơ cấu, về yêu cầu chất
lợng nhân lực cũng nh công tác quản trị nhân lực.
Nhân lực của nhà nớc Kiểm toán Nhà nớc là toàn bộ khả năng lao
động mà Kiểm toán Nhà nớc cần và huy động đợc cho việc thực hiện và
hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trớc mắt cũng nh lâu dài theo luật định.
Là cơ quan chuyên môn của nhà nớc, nhân lực là yếu tố đầu vào chủ yếu, sức
mạnh của nhân lực là nhân tố quyết định sức mạnh, quyết định khả năng và
mức độ hoàn thành những nhiệm vụ chuyên môn của Kiểm toán Nhà nớc
theo quy định của pháp luật là kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính
công. Sức mạnh nhân lực của Kiểm toán Nhà nớc đợc hợp thành từ khả
năng lao động của từng cá nhân, từng con ngời cụ thể. Khả năng lao động
của từng con ngời chính là khả năng đảm nhận, thực hiện và hoàn thành công
việc do các yếu tố về thể chất, trình độ chuyên môn, các yếu tố về tâm lý và
mức độ cố gắng trong công việc.
Nhân lực của Kiểm toán Nhà nớc đợc phản ánh thông qua các chỉ tiêu
về quy mô nhân lực, cơ cấu nhân lực và chất lợng nhân lực.
Quy mô nhân lực là chỉ tiêu phản ánh về mặt số lợng nhân lực có thể huy
động cho việc thực hiện các hoạt động của Kiểm toán Nhà nớc trong giai đoạn
trớc mắt và lâu dài. Quy mô nhân lực chỉ phản ánh về mặt lợng, về tổng số
viên, Kiểm toán viên chính và Kiểm toán viên cao cấp theo trình độ chuyên
môn, kỹ năng nghề nghiệp, thời gian công tác thực tế trong ngành. Một số cơ
quan Kiểm toán tối cao trên thế giới còn có thêm ngạch Kiểm toán viên dự bị,
ngạch này thực hiện nhiệm vụ giúp việc cho Kiểm toán viên nhà nớc trong
quá trình thực thi nhiệm vụ kiểm toán; công chức bổ nhiệm ngạch này gồm
những ngời mới đợc tuyển dụng hoặc cha đủ tiêu chuẩn để bổ nhiệm
ngạch Kiểm toán viên nhà nớc.
- Chức danh chuyên viên: Chức danh chuyên viên là chức danh bổ nhiệm
cho bộ phận nhân lực làm việc tại các cơ quan tham mu, chức năng của Kiểm
15
toán Nhà nớc, tại các đơn vị Kiểm toán Nhà nớc chuyên ngành, Kiểm toán
Nhà nớc khu vực và các đơn vị tham mu, chức năng của Kiểm toán Nhà
nớc. Cơ cấu chức danh này gồm các ngạch công chức theo quy định của pháp
luật về cán bộ công chức trong nền công vụ gồm các ngạch: Chuyên viên,
Chuyên viên chính và Chuyên viên cao cấp.
- Chức danh Kỹ thuật viên kiểm toán: Chức danh Kỹ thuật viên kiểm
toán là chức danh chuyên môn đợc bổ nhiệm cho bộ phận nhân lực tuyển
dụng từ các chuyên ngành đào tạo kỹ thuật (Xây dựng, giao thông, thuỷ lợi,
công nghệ, môi trờng, v.v). Công chức thuộc chức danh này không thực hiện
nhiệm vụ kiểm toán mà chỉ t vấn chuyên môn theo chuyên ngành kỹ thuật
đợc đào tạo cho các Kiểm toán viên nhà nớc khi kiểm toán các lĩnh vực liên
quan đến chuyên ngành do họ đợc phân công t vấn. Cơ cấu chức danh Kỹ
thuật viên kiểm toán gồm các ngạch công chức hoặc bậc kỹ s tuỳ theo quy
định về công chức, công vụ của từng nớc.
- Chức danh nghiên cứu viên, giảng viên: Các chức danh nghiên cứu viên
và giảng viên là chức danh công chức thuộc các đơn vị sự nghiệp công trực
thuộc cơ quan Kiểm toán Nhà nớc, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu
của Kiểm toán Nhà nớc.
Chất lợng nhân lực của Kiểm toán Nhà nớc là mức độ đáp ứng nhu cầu
về quy mô, cơ cấu nhân lực Kiểm toán Nhà nớc tuyển dụng và bổ nhiệm vào
các chức danh, các ngạch công chức so với yêu cầu thực tế để thực hiện chức
năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định. Chất lợng nhân lực của Kiểm toán
Nhà nớc phải bao gồm cả việc đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên
môn và đáp ứng các yêu cầu về đạo đức công vụ theo quy định đối với cán bộ,
công chức trong bộ máy nhà nớc. Khác với các doanh nghiệp, chất lợng yếu
tố đầu ra là sản phẩm hàng hoá chịu sự ảnh hởng quyết định bởi 3 yếu tố đầu
vào là nhân lực, vốn và công nghệ, đối với hoạt động kiểm toán nhà nớc yếu
tố đầu vào chủ yếu là nhân lực, các yếu tố vật chất khác chỉ mang tính hỗ trợ
hoạt động chuyên môn. Vì vậy, nhân tố quyết định chất lợng hoạt động, chất
lợng sản phẩm đầu ra của Kiểm toán Nhà nớc không phải là các yếu tố vật