Nghiên cứu tính chất và chế tạo của tổ hợp epoxy đóng rắn nguội có sử dụng xenlulo vi cấu trúc - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------NGUYỄN TUẤN ANH

Nghiên cứu tính chất và chế tạo của tổ hợp Epoxy
đóng rắn nguội có sử dụng xenlulo vi cấu trúc

Chuyên ngành : Công nghệ vật liệu polyme và compozit

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC :
CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS Vũ Minh Đức
Hà Nội, 2010


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...........................................................................................................1
PHẦN I: TỔNG QUAN ...................................................................................2
I.1. Vật liệu compozit ...................................................................................... 2
I.1.1. Khái niệm:.............................................................................................. 2
I.1.2. Phân loại compozit ................................................................................. 3
I.2. Nhựa nền Epoxy........................................................................................ 3
I.2.1. Lịch sử phát triển của nhựa epoxy ....................................................... 3
I.2.2. Phương pháp tổng hợp nhựa epoxy ...................................................... 4
I.2.2.1.Nguyên liệu đầu.................................................................................... 4
I.2.2.2.Phản ứng tạo nhựa epoxy-dian ........................................................... 5
I.2. 3. Các loại nhựa epoxy điển hình. ............................................................ 6
I.2. 4. Các đặc trưng của nhựa epoxy ............................................................. 7
I.2. 5. Lĩnh vực ứng dụng chính của nhựa epoxy. ......................................... 8

II.6.2.Phương pháp xác định độ bền uốn:.................................................... 46
II.6.3. Phương pháp xác định độ bền kéo đứt. ............................................. 47
II.6.4.Phương pháp xác định độ bền mỏi ..................................................... 48
II.6.5. Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM) ................................ 49
PHẦN III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ....................................................51
III.1. Khảo sát nguyên liệu ban đầu ............................................................ 51
III.1.1. Vi sợi xenlulo vi khuẩn (BC) ........................................................... 51
III.1.1.1 Đặc tính của BC chưa xử lý............................................................ 51
III.1.1.2. Khảo sát quá trình xử lý BC bằng phương pháp kiềm................. 54
III.1.1.3. Khảo sát ảnh hưởng của môi trường phân tán BC đến tính chất
của màng trên cơ sở của nó........................................................................... 59
III.2.Nghiên cứu quá trình chế tạo vật liệu nanocompozit trên cơ sở nhựa
epoxy gia cường bằng BC ............................................................................. 61
III.2.1.Khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng BC đến độ bền uốn của vật liệu
compozit .......................................................................................................... 61
III.2.2.Khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng BC đến độ bền kéo của vật liệu
compozit .......................................................................................................... 63
III.2.3. Khảo sát của hàm lượng BC đến độ bền mỏi của vật liệu compozit..... 64
III.2.4. Khảo sát hình thái cấu trúc của bề mặt phá hủy vật liệu vật liệu
BC/epoxy ........................................................................................................ 65
III.2.5.Tính chất cơ nhiệt của nanocompozit BC/epoxy (TMA)............... 67
KẾT LUẬN .....................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................69


MỞ ĐẦU
Nhựa epoxy là loại nhựa nhiệt rắn có những ưu điểm nổi bật như độ bền cơ
học cao, khả năng chống ăn mòn tốt, bền nhiệt, bền hóa, bám dính tốt lên nhiều loại
vật liệu và đặc biệt có độ co ngót thấp khi đóng rắn nên được sử dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Tuy nhiên, do sau khi đóng rắn mật độ liên kết

Sự phát triển của vật liệu compozit đã được khẳng định và mang tính đột biến
vào những năm 1930 khi mà Stayer và Thomat đã nghiên cứu ứng dụng thành công
sợi thuỷ tinh. Fillis và Foster dùng gia cường cho polieste không no và giải pháp
này đã được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp chế tạo máy bay, tàu chiến
phục vụ cho đại chiến thế giới lần thứ hai [1].
Năm 1950 bước đột phá quan trọng trong nghành vật liệu compozit đó là sự xuất
hiện nhựa epoxy và các sợi gia cường như polyeste, nylon…
Từ năm 1970 đến nay vật liệu compozit nền chất dẻo đã được đa vào sử dụng rộng rãi
trong các ngành công nghiệp và dân dụng, y tế, thể thao, quân sự…[5].

I.1.1. Khái niệm:
Vật liệu compozit là vật liệu được tổ hợp từ hai hay nhiều vật liệu khác nhau
nhằm mục đích tạo ra một vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn vật liệu thành phần
riêng rẽ.
Đặc tính chung: Trong trường hợp tổng quát nhất, một vật liệu compozit gồm
một hay nhiều pha gián đoạn được phân bố trong một pha liên tục. Khi vật liệu gồm
nhiều pha gián đoạn gọi đó là compozit hỗn tạp pha gián đoạn thường có cơ tính
trội hơn pha liên tục:
• Pha liên tục được gọi là nền.
• Pha gián đoạn được gọi là cốt hay vật liệu tăng cường.

2


I.1.2. Phân loại compozit
Vật liệu compozit được phân loại theo hình dạng và theo bản chất của các vật
liệu thành phần.
Phân loại theo hình dạng:
+ Vật liệu compozit cốt sợi: Khi vật liệu tăng cường (cốt) là các sợi đó là
compozit độn dạng sợi. Sợi sử dụng có thể là dưới dạng liên tục hay gián

polyglixydylete, H.Sonlack đã đưa ra công nghệ chế tạo glyxydyete từ bisphenol A
và epiclohidrin trong kiềm. Đến khi P.Kastan công bố sáng chế về tổng hợp nhựa từ
bisphenol A và epiclohydrin (1938) thì ông cũng phát hiện khả năng đóng rắn của
nhụa epoxy với anhydric phtalic. Năm 1943, P. kastan công bố điều kiện tiến hành
phản ứng giữa bisphenol A và epiclohydrin để có thể nhận được monome epoxy
hoặc polyme epoxy.
Cũng vào năm 1943, S.Green lee (Mỹ) công bố sáng chế về tổng hợp nhựa
epoxydian tơng tự như quy trình công nghệ của P. Kastan song nhựa này nhận được
khối lượng phân tử lớn hơn, và được ứng dụng nhiều trong công nghiệp[6].
I.2.2. Phương pháp tổng hợp nhựa epoxy
Dựa trên cơ sở các phản ứng sau.
-

Trùng ngưng có xúc tác (bazơ) giữa các hợp chất epoxy (điển hình là
epiclohydrin) với các chất cho proton (bisphenol A)

-

Epoxy hoá các hợp chất không no bằng tác nhân cung cấp oxy

-

Trùng hợp và đồng trùng hợp các chất epoxy không no.

Phổ biến và quan trọng hơn là phương pháp tổng hợp nhựa epoxy từ phản ứng trùng
ngưng giữa các hợp chất epoxy và các chất cho proton, trong đó nhựa epoxy dian là
sản phẩm quan trọng nhất và được sử dụng rộng rãi nhất.
Nhựa epoxy dian là sản phẩm của phản ứng giữa bisphenol A và epiclohydrin
(ECH).
I.2.2.1.Nguyên liệu đầu

(3)

OH

Cl - CH2 - CH - CH2 - Cl + NaOH

CH2 - CH - CH2 - Cl + NaCl + H2O (4)

OH

O

Ngoài ra epiclohydrin còn được tạo ra từ glyxerin qua hai giai đoạn clo hóa và đóng
vòng epoxy.

xt

CH2 - CH - CH2 + 2HCl (khí)
OH OH OH

Cl

CH2 - CH - CH2 + NaOH
Cl

CH2 - CH - CH2 + 2H2O

(5)

OH Cl

C
CH3

5

O - CH2 - CH - CH2 - Cl (7)
OH


GĐ2: Tách HCl tạo diepoxy, phản ứng xảy ra chậm. Và theo nhiệt
( ∆H = −29 kcal / mol )
CH3
Cl - CH2 - CH - CH2 - O

C

OH

C

O - CH2 - CH - CH2 - Cl + 2NaOH

CH3

OH

CH3
CH2 - CH - CH2 - O

C

mạnh theo phản ứng (7), (8), (9) tạo ra các oligome có n = 2, 3, 4…
Trong quá trình tạo thành nhựa cần luư ý quá trình
ƒ Thuỷ phân ECH do kiềm
ƒ Thuỷ phân nhóm epoxy ở cuối mạch thành nhóm hydroxyl
ƒ Trùng hợp ở vị trí nhóm epoxy dẫn đến cấu trúc không gian đôi khi làm cho
nhựa bị keo kết lại phản ứng trùng hợp này xảy ra không chỉ giữa các nhóm
epoxy với nhau mà cả giữa nhóm epoxy với nhóm hydroxyl.
Khối lượng phân tử của nhựa epoxy dao động trong khoảng 300-18000 phụ
thuộc vào tỉ lệ mol EHC và DPP, nhiệt độ, thời gian phản ứng và nồng độ NaOH sử
dụng.
Có thể tổng hợp nhựa epoxy có KLPT cao từ nhựa có KLPT thấp thông qua phản
ứng ngưng tụ với bisphenol A [3-7].
I.2. 3. Các loại nhựa epoxy điển hình.
Nhựa epoxy là các oligome, polime mà có ít nhất hai nhóm epoxy (hay glyxydyl)
trong một phân tử có thể chia thành 2 loại chính
Nhựa epoxy mạch thẳng

6


RCH

CHRCH
O

CHR
O

Nhựa epoxy mạch vòng
R

hoá các hợp chất không no.
- Nhựa epoxy vòng nhận được bằng phương pháp epoxy hoá nối đôi trong vòng phổ
biến
O
COOCH2-CH=CH2

CH - CH2
O

O

C
COOCH2-CH=CH2

Vinylhexen-3- dioxit

CH3
O

C
CH3

3,4 - epoxy hexan

3,4 - dioxit

diallylcacboxylat este

dixyclohexenyl propan


đóng rắn (kích thước phân tử giảm khi tăng nhiệt độ). Khi giảm kích thước của các
phần tử hình cầu thì độ bền điện của polime tăng. Cùng với việc giảm khoảng cách
giữa các mắt lưới khâu mạch, t0 thuỷ tinh hoá, độ bền hoá và độ chịu nhiệt tăng
nhưng khi đó thường thì độ giòn của polime lại tăng. Cũng tương tự như vậy khi
tăng hàm lượng nhân thơm trong nhựa polime. Tăng mật độ kết bó của các đoạn
mạch sẽ làm tăng độ bền cơ lý và độ bền hoá học.
- Để biến tính nhựa epoxy đôi khi thêm chất hoá dẻo hay oligome chứa rất ít
hay hoàn toàn không có các nhóm hoạt động hoá học. Những cấu tử như vậy không
tham gia vào mạng lưới cấu trúc, tích tụ trên ranh giới phân chia các phần tử hình
cầu do đó làm giảm đáng kể độ bền cơ lý, độ bền nhiệt và độ bền hoá học.
I.2. 5. Lĩnh vực ứng dụng chính của nhựa epoxy.
+ Màng phủ bảo vệ:
- Màng phủ chống ăn mòn trên cơ sở nhựa epoxy được dùng để bảo vệ cho
các thiết bị bằng thép trong các nhà máy hoá chất, lọc dầu, thực phẩm, giấy … và
nhiều kết cấu xây dưng như cầu, cống …
Các thùng chứa bằng kim loại và bể bê tông được sơn phủ bằng sơn epoxy
chống ăn mòn có thể giữ được độ tinh khiết của các chất đựng trong đó: Rượu
vang, bia, chất tẩy rửa …
Hệ sơn giàu kẽm từ epoxy - nhựa than đá được dùng nhiều trong công
nghiệp đóng tàu biển. Sơn epoxy dạng bột được sử dụng trang trí dụng cụ nhà bếp,
buồng tắm, sơn ô tô, xe đạp ….
+ Làm keo dán.
Keo dán epoxy được sử dụng trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong công
nghiệp hàng không, điện , điện tử …

8


Dùng chủ yếu gắn kim loại gỗ, sứ, bê tông …
+ Vật liệu compozit

độ bền cơ lý…

9


Phản ứng đóng rắn nhựa epoxy là phản ứng mở vòng oxyran tạo thành cầu
nối giữa các phân tử, tạo liên kết đan lưới giữa các nhóm epoxy. Các chất đóng rắn
được chia làm 3 loại chính sau:
I.2.6.1. Đóng rắn nguội
Bao gồm các amin mạch thẳng hóa rắn qua cơ chế mở vũng bằng phản ứng
cộng vào nhúm oxyran cũn R 3N mở vũng theo cơ chế anion (A+) khi có mặt xúc
tác OH• Các chất đóng rắn amin thẳng gồm:
+ Polyetylen polyamin( PEPA):
H2N-[CH2-CH2-NH-]nCH2-CH2-NH2
+ Dietylentriamin( DETA):
H2N-CH2-CH2-NH-CH2-CH2-NH2
+Trietylentetraamin( TETA):
H2N-CH2-CH2-NH-CH2-CH2-NH-CH2-CH2-NH2
+ Hexametylendiamin( HMDA):
H2N-(CH2)6-NH2
Để đạt được yêu cầu thường sử dụng lượng polyamin cỡ 8-10 phần khối lượng cho
100 phần nhựa Epoxy.
• Các adduct amin:

Để hạn chế sai số khi đong các cấu tử và giảm mức độ độc hại có thể sử dụng một
số adduct. Cho nhựa phản ứng với một lượng dư amin sẽ cho phép tạo ra adduct có
chứa nhóm chức amin hoạt động có thể sử dụng để tiếp tục đóng rắn.
Chất đóng rắn từ adduct với nhựa epoxy lỏng có khả năng đóng rắn cao và trộn
hợp tốt với nhựa.
Adduct với acrylo nitryl (ACN). Sản phẩm quan trọng là dẫn xuất của DETA

ƒ Khi sử dụng đóng rắn anhydrit phải trộn chúng với nhựa Epoxy ở nhiệt độ
nóng chảy của các anhydrit để tạo thành hỗn hợp đồng nhất. Đóng rắn thích
hợp 130-150 0C, trong 4-6 giờ, áp lực 0.5-3 kg/cm2.
Tỷ lệ thường sử dụng anhydrit/epoxy = 0.85/1 hoặc thấp hơn là 0.5/1.
Ngoài ra có thể sử dụng các axít để đóng rắn nhưng thực tế lại rất ít sử dụng vì
trong quá trình đóng rắn sinh ra hơi nước làm ảnh hưởng đến chất lượng, và tính
thẩm mỹ của sản phẩm [7].
I.2.6.3. Xúc tác đóng rắn
Là những chất xúc tác cho phản ứng xảy ra dễ dàng, thuận lợi, theo yêu cầu
với hàm lượng sử dụng có thể là 0.5-2.5% phần khối lượng so với nhựa.

11


Các xúc tác có tác dụng làm giảm nhiệt độ và thời gian đóng rắn,tăng mạng
lưới không gian trong khối epoxy. Đó là các axít và bazơ lewis.
Trùng hợp cation:
Được khởi đầu bằng axít lewis như BF 3, SnCl 4…thường dùng phổ biến là
BF3O(C 2H 5)2
Ngoài ra, nhựa epoxy cũn được sử dụng làm nhựa nền trong chế tạo vật liệu
compozit. Sản phẩm tạo thành có tính chất cơ học cao và thường được ứng dụng để
chế tạo các chi tiết máy, thiết bị y tế, hàng không, vũ trụ..[7]
I.3. Sợi gia cường
Đóng vai trò là chất chịu ứng suất tập trung vì độn (chất gia cường) thường
có tính chất cơ lí cao hơn nhựa. Người ta đánh giá chất gia cường dựa trên các
đặc điểm:
ƒ Tính gia cường cơ học
ƒ Tính kháng hoá chất, môi trường, nhiệt độ
ƒ Phân tán vào nhựa tốt.
ƒ Truyền nhiệt, giải nhiệt tốt

I.3.3.Sợi aramit.
Sợi aramit là những polimit thơm, trong đó có ít nhất có 85% nhóm amin
liên kết trực tiếp với hai nhân thơm. Loại “tech nola”: đi từ copolyme có công thức
NH

NHCO

CO

Kevlar: là một loại vật liệu siêu việt, bền hơn thép, dẻo và chịu được sự quá nhiệt
I.3.4.Sợi gốm
Nhờ phương pháp kết tủa, ngày nay người ta thu được nhiều sợi gốm khác
nhau:
Sợi B (bore), Sợi B-B4C, Sợi SiC, Sợi Bor SiC
-

Cơ tính của các loại sợi gốm rất ổn định ở nhiệt độ cao.

I.3.5.Sợi cacbon.
Xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1960 sợi cacbon (graflt) với nhiều tính
chất quý, độ bền cao, modun cao, bền nhiệt, bền hoá chất…đã trở thành vật liệu gia
cường cho các vật liệu compozit cao cấp, ứng dụng trong chế tạo máy bay, tên lửa,
tàu vũ trụ, dụng cụ thể thao.
Nguyên liệu đầu dùng để sản xuất sợi cacbon khá đa dạng, tuỳ thuộc vào nguyên
liệu được sử dụng các điều kiện nhiệt độ, môi trường, tốc độ xử lí nhiệt, độ ẩm…có
thể thu được sợi cacbon có tính chất khác nhau.
Sợi cacbon (grafit) chủ yếu được tạo thành từ 3 loại sợi: sợi polyacrylonitril (PAN),
các loại sợi xenlulo (sợi bông) và tơ nhân tạo(axetat xenlulo) và pec – cặn dầu mỏ.

13

độ bền thấp, các mặt graphit định hướng song song với hướng trục sợi sẽ tạp vật
liệu có độ bền, mođun cao.

14


Để tạo sợi cacbon có mođun cao từ sợi xenlulo, tơ nhân tạo ngoài các công
đoạn xử lí nhiệt như đối với sợ cacbon thấp người ta đã sử dụng kĩ thuật kéo căng
sợi trong suốt giai đoạn graphit hoá, sợi nhận được có đường kính nhỏ hơn, khối
lượng riêng nhỏ hơn, cấu trúc hoàn hảo hơn, mođun cao hơn.
Sợi cacbon từ sợi polyacrylonitril (PAN)
Quá trình tạo sợi cacbon từ sợi PAN.
Phần lớn sợi cacbon đang đợc sử dụng rộng rãi hiện nay có nguồn gốc từ sợi PAN,
một polime mạch thẳng có cấu trúc atatic mạch nhánh chứa nhóm hoạt động nitril
CH2

CH2

CH2

CH

CH

C

C
N

N


C

C

C

C

N

N

N

N

N

Dưới tác dụng của nhiệt độ cấu trúc sợi PAN chuyển thành cấu trúc polime có dạng
hình thang gồm các vòng 6 cạnh như trên.
Quá trình tạo sợi cacbon từ PAN bao gồm 4 giai đoạn.
ƒ Giai đoạn oxi hoá, khử nước.
Quá trình tiến hành ở 200-2500C trong không khí với một khoảng thời gian thích
hợp đủ để phản ứng tạo liên kết ngang_oxi các mạch phân tử xảy ra.
Phản ứng:
CN

CN



CH

CH

O

O

CH

CH

CH

CH

CH

CH

CN

CN

CN

CN

Trong suốt giai đoạn oxi hoá người ta đặt lên sợi một lực kéo để giữ cho mạch phân

xoay để kéo sợi. Sợi nhận đợc có sự định hướng khá cao, qua một số giai đoạn xử lí
nhiệt ở nhiệt độ cao chuyển thành sợi cacbon

Ứng dụng của sợi cácbon
Nhờ có nhiều đặc tính quý giá: moduncao, độ bền cao, khả năng chịu nhiệt rất
tốt lĩnh vực của sợi cacbon ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên do giá thành khá
cao (so với sợi thủy tinh, aramit…) sợi cacbon ít được ứng dụng để chế tạo
compozit kỹ thuật.

16


Sợi cacbon được ứng dụng chủ yếu làm cột tăng cường chế tạo compozit chất
lượng cao, đặc biệt với nhựa nền epoxy, compozit sợi cacbon có độ bền cứng,
modun rất cao được ứng dụng chủ yếu trong ngành hàng không vũ trụ.
Từ compozit sợi cacbon có thể chế tạo các chi tiết của máy bay: cánh phụ, vỏ
máy bay, cánh máy bay trực thăng, ống dẫn khí, các vách ngăn, các bộ phận ổn định
máy bay…
Trong ngành vũ trụ compozit sợi cacbon với độ bền nhiệt cao được ứng dụng
để chế tạo các chi tiết kết cấu của tên lửa, động cơ tên lửa, ống phóng tên lửa, vệ
tinh. Ngoài ra compozit sợi cacbon còn được ứng dụng trong một số ngành công
nghiệp khác như.
- Chế tạo ô tô: Chế tạo động cơ ô tô, các loại cánh cửa.
- Công nghiệp hóa chất: Chế tạo các loại bom, chi tiết máy chịu hóa chất.
- Công nghiệp đóng tàu: Chế tạo cánh quạt thủy lực cột buồm cho các loại
thuyền buồm, chân vịt tàu thủy bằng compozit sợi cacbon sẽ có khối lượng riêng
nhỏ hơn, giảm đợc chấn động.
- Ngành cơ khí: compozit sợi cacbon sử dụng chế tạo các cơ cấu máy dệt có
tốc độ cao, máy có tốc độ chuyển động quay lớn, ổ trục, bánh răng, cơ cấu truyền
động….

B) Bề mặt lệch mạng.
C) Bề mặt biến dạng xoắn và vùng xoắn.

18


Theo mô tả ở trên, một bó sợi bao gồm nhiều sợi đơn, mỗi sợi đơn có đường kính
khoảng 20 ± 10 nm và bao gồm từ 32-72 vi sợi. Mỗi vi sợi có đường kính khoảng 4
nm và có từ 30-40 mạch xenlulo hợp thành. [18]
Theo một tài liệu khác, cấu trúc vi sợi xenlulo được miêu tả như sau [14]:

Sự liên kết giữa các vi sợi có được là nhờ thành phần pectin và hemixenlulo nằm
xen kẽ với nó trong sợi đơn ( hay macrofibril ). Hai thành phần pectin và
hemixenlulo có vai trò như một chất kết dính giữa các vi sợi. Liên kết hydro giữa
các nhóm hydroxyl gần kề trong các mạch xenlulo đã tạo nên sự bền vững cho các
vi sợi [20].
Chú thích cho hai hình ở phía dưới:

19


Hình 1.1 . Ảnh chụp của xenlulo tự nhiên từ kính hiển vi điện tử truyền qua

Hình 1.2 . Ảnh chụp từ kính hiển vi điện tử truyền qua của các vi sợi sau quá trình
homogenization bằng máy Gaulin.
Như vậy, muốn thu sợi tre phải tách hết các thành phần phi xenlulo bao gồm:
lignin, hemixenlulo, pectin, sáp, để thực hiện việc này người ta tiến hành xử lý bằng
kiềm (NaOH 1N). Để tách các sợi thô thu được thành vi sợi cần phải loại bỏ liên kết
giúp gắn kết các vi sợi với nhau ( liên kết hydro và liên kết Van de Wall ), có ba
phương pháp để để tách vi sợi: phương pháp hóa học, phương pháp lên men enzym

Thưc vật cao cấp hơn

Xenlulo I ( chủ yếu là Iβ )

Vi khuẩn



Tảo



Các động vật biển



Tính ổn định
Iβ > Iα
II > I

21


Bảng 1.2. Thông số kích thước của một số loại vi sợi xenlulo [26]
Cotton

Tunicin

Valonia


sinh ra lớp màng rắn trong môi trường giàu cacbonhydrat. Ông nhận thấy rằng, lớp
màng rắn này có thể hòa tan trong phức [Cu(NH3)4]2+ mà đó là đặc trưng của coton
nên ông gọi vi khuẩn đó là Xylinum (theo Pliny- từ xylinum có nghĩa là coton).
Sau đó Van Wisselingh và Hibbert đã chứng minh cho nhận định trên và
khẳng định lớp màng đó thực ra là xenlulo.
Hibbert đã nhận được lớp màng xenlulo trong môi trường nuôi cấy chứa
đường hexoza và vi khuẩn xylium.
Vào năm 1929, bằng phương pháp phổ nhiễu xạ tia X (XRD), hai nhà bác
học Mark và Von Susich đã tiến hành so sánh phổ XRD của vi sợi xenlulo từ vi
khuẩn và của coton và nhận thấy chúng giống hệt nhau.
Ảnh chụp kính hiển vi điện tử của Franz và Schibold vào năm 1943, cho thấy
rằng lớp màng tạo ra từ vi khuẩn là mạng lưới từ những sợi và ruy băng hết sức nhỏ.
Những ruy băng có độ dày khoảng 100 A 0 , còn chiều rộng khoảng 5000 A 0 . Chúng
được sắp xếp thành những sợi có đường kính khoảng 200 A 0 .
Năm 1947 Frey Wyssling và Muhlethaler chế tạo vi sợi xenlulo từ sự lên
men của dung dịch 40g đường sucroza và một lít bia bởi vi khuẩn xylinum.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status