BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯƠNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NĂM HỌC 2016 - 2017
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG XỬ LÝ ĐỒNG VÀ CHÌ
TRONG ĐẤT BẰNG CỎ VETIVER (Vetiveria Zizanioides L)
QUY MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM
Thuộc nhóm ngành khoa học: Môi trường
Sinh viên thực hiện: Hồ Thị Quyên
Nữ
Trần Thị Hiền
Nữ
Lương Ngân Hà
Nữ
Trần Thị Mai Giang
Nữ
Dân tộc: Kinh
Lớp, khoa: ĐH4KM/Khoa Môi trường
Năm thứ: 3 /Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Công nghệ kỹ thuật môi trường
Người hướng dẫn: ThS. Lê Thu Thủy
HÀ NỘI, THÁNG 6 – NĂM 2017
(Vetiveria zizanioides L) thông qua sự phát triển chiều cao của cỏ.
- Đánh giá khả năng hấp thụ kim loại nặng của cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides
L)
3. Tính mới và sáng tạo:
Đánh giá được khả năng xử lý đất và sự chống chịu của cỏ Vetiver trong môi
trường đất bị ô nhiễm kim loại nặng. Sử dụng thực vật để xử lý môi trường luôn là giải
pháp thân thiện với môi trường đồng thời có thể giải quyết bài toán chi phí và yêu cầu
kỹ thuật. Kết hợp được với nhiều mục đích môi trường và kinh tế khác nhờ những đặc
tính ưu việt của loài cỏ Vetiver như cải tạo và chống xói mòn đất, sử dụng làm thức ăn
chăn nuôi, sản xuất hương liệu… Có thể áp dụng thực tế ở nhiều vùng, nhiều khu vực
khác nhau để góp phần cải thiện và bảo vệ môi trường.
4. Kết quả nghiên cứu:
Đánh giá hiệu quả xử lý đất ô nhiễm kim loại nặng qua mô hình trồng cỏ Vetiver
trong môi trường đất bị ô nhiễm kim loại nặng.
Đánh giá được khả năng hấp thụ kim loại nặng của cỏ Vetiver.
Đề tài đã đánh giá được khả năng chống chịu của cỏ Vetiver trong môi trường đất
ô nhiễm kim loại nặng thông qua theo dõi sự sinh trưởng và phát triển chiều cao trung
bình của cỏ.
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và
khả năng áp dụng của đề tài:
6. Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài:(ghi rõ tên tạp
chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu
có).
Ngày 20 tháng 06 năm 2017
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(Ký và ghi rõ họ tên)
Hồ Thị Quyên
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Hồ Thị Quyên
Sinh ngày:
07
tháng 06
năm 1995
Ảnh
4x
6
Nơi sinh: Tân Dân – Tĩnh Gia – Thanh Hóa
Lớp: ĐH4KM
Khóa: 2014 - 2018
Khoa: Môi Trường
Địa chỉ liên hệ: Tân Dân – Tĩnh Gia – Thanh Hóa
Điện thoại: 0963954101
Email:
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
* Năm thứ 1:
Ngành học: Công nghệ kỹ thuật môi trường
Hồ Thị Quyên
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hàm lượng kim loại trong dung dịch tưới lần 1........................................25
Bảng 2.2 Hàm lượng kim loại nặng trong dung dịch tưới lần 2...............................26
Bảng 2.3 Kí hiệu mẫu đất........................................................................................26
Bảng 2.4 Kí hiệu mẫu cỏ.........................................................................................29
Bảng 3.1 Hàm lượng chì trong đất thay đổi qua thời gian trồng cỏ.........................31
Bảng 3.2 Hiệu suất xử lý kim loại chì trong đất của cỏ Veitver...............................33
Bảng 3.3 Hàm lượng đồng trong đất thay đổi qua thời gian trồng cỏ......................34
Bảng 3.4 Hiệu suất xử lý kim loại đồng trong đất của cỏ Vetiver............................36
Bảng 3.5 Hàm lượng kim loại chì trong mẫu cỏ......................................................37
Bảng 3.6 Hàm lượng kim loại đồng trong mẫu cỏ...................................................38
Bảng 3.7 Sự phát triển chiều cao của cỏ Vetiver qua thời gian theo dõi..................40
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Hình ảnh hệ thống rễ của cỏ Vetiver.........................................................10
Hình 2.1 Hình ảnh cỏ giống đợt 1...........................................................................17
Hình 2.2 Mô hình thí nghiệm trồng cỏ đợt 1...........................................................18
Hình 2.3 Hình ảnh cỏ bị chết sau 28 ngày trồng (Đợt 1)........................................19
Hình 2.4 Hình ảnh cỏ giống đợt 2...........................................................................20
Hình 2.5 hình ảnh cỏ bị chết sau 27 ngày trồng (Đợt 2).........................................21
Hình 2.6 Bầu cỏ trước khi trồng (Đợt 3).................................................................22
Hình 2.7 Cỏ mới được trồng vào thùng (Đợt 3)......................................................23
Hình 2.8 Thùng đối chứng.......................................................................................23
Hình 2.9 Cỏ phát triển sau 10 ngày trồng...............................................................24
Hình 2.10 Cỏ phát triển sau 50 ngày trồng.............................................................25
Hình 2.11 Cỏ phát triển sau 80 ngày trồng.............................................................27
Hình 2.12 Cỏ phát triển sau 100 ngày trồng...........................................................28
Hình 3.1 Biểu đồ đánh giá khả năng xử lý kim loại chì của cỏ Vetiver...................32
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu khoa học này, chúng em xin cảm ơn sự
giúp đỡ và tạo điều kiện của nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Môi trường. Đặc
biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới giảng viên hướng dẫn ThS. Lê
Thu Thủy, dưới sự hướng dẫn tận tình, chi tiết của cô giáo, chúng em đã có thêm rất
nhiều kiến thức bổ ích trong quá trình thực hiện đề tài và có thể hoàn thành được đề tài
một cách trọn vẹn nhất.
Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong tổ Quản lý phòng
thí nghiệm – khoa Môi trường đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất tại phòng thí nghiệm
thuận lợi nhất cho chúng em trong quá trình thực hiện đề tài.
Vì kiến thức còn hạn chế và có nhiều bất cập trong quá trình thực hiện đề tài nên
không tránh khỏi những sai sót và thiếu sót. Vì vậy, chúng em rất mong sẽ nhận được
những nhận xét, đóng góp ý kiến quý báu của thầy cô để chúng em cỏ thể học hỏi
thêm được nhiều kinh nghiệm và đề tài nghiên cứu khoa học được hoàn thành hoàn
thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm sinh viên thực hiện
11
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
I.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II.2 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
• Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm khoa Môi trường – trường ĐH Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội và địa điểm trồng cỏ mô hình, ban công phòng
602/CT1, Trần Bình, Cầu Giấy, Hà Nội.
12
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2016 đến tháng 6/2017
Đối tượng nghiên cứu: Cỏ Vetiver trồng trên đất bị ô nhiễm kim loại nặng
•
•
(đồng và chì) và các kim loại năng (đồng và chì)
• Thông số phân tích: hàm lượng kim loại chì và đồng trong đất và cỏ
III.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Tìm hiểu thông tin dữ liệu thông qua tài liệu về đối tượng nghiên cứu và các vấn
đề liên quan đến nội dung đề tài.
Phương pháp lấy mẫu và bảo quản
3.2
Các mẫu đất lấy và bảo quản theo hướng dẫn quy định theo Thông tư
33/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.
Các mẫu cỏ được lấy phần lá, sau đó được cắt, giã nhỏ, nếu chưa phân tích ngay
phải bảo quản lạnh trong nhiệt độ 1 – 5℃.
3.3
Phân tích mẫu đất
Mẫu đất được phân tích theo TCVN 6496:2009 – Chất lượng đất – Xác định
crom, cacdimi, coban, đồng, chì, mangan, niken, kẽm trong dịch chiết đất bằng cường
thủy. Các phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa và không ngọn lửa.
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
• Cách tính hàm lượng kim loại nặng (đồng và chì) trong đất theo công thức
C=
(mg/kg đất khô)
Trong đó:
C: nồng độ kim loại trong dung dịch đo (mg/l)
Vđm: thể tích dung dịch mang đi đo AAS (l)
k: hệ số khô kiệt của mẫu đất
W: khối lượng mẫu đất mang đi phân tích
•
Cách tính hàm lượng kim loại nặng (đồng và chì) trong cỏ theo công thức
C=
(mg/kg cỏ khô)
Trong đó:
C: nồng độ kim loại trong dung dịch đo (mg/l)
Vđm: thể tích dung dịch mang đi đo AAS (l)
k: hệ số khô kiệt của cỏ tươi
Đá trầm tích
Siêu bazơ
(Serpentine)
Bazơ
(Basalt)
Axit
(Granite)
Đá vôi
Đá cát
kết
Đá phân
lớp
Cr
2.000 – 2.980
200
4
10 – 11
35
0,5
7 – 12
2–9
68 – 76
Cu
10 - 42
90 - 100
10 – 13
5,5 – 15
30
39 – 50
Zn
50 - 58
100
40 – 52
Hg
0,004
0,01 - 0,08
0,08
0,05 – 0,16
0,03 –
0,29
0,18 – 0,5
Pb
0,1 - 0,4
3–5
20 - 24
5,7 - 7
8 - 10
1.500 - 2000 400 – 500 620 – 1100
lâu dài việc tích lũy KLN sẽ gây ô nhiễm môi trường đất. Khi xác định nồng độ Cd
trong đất ở những nông trại chuyên tưới và bón bùn thải ở một số nước Mỹ, Anh, Hà
Lan cho kết quả tương ứng là: 1,5 – 167mg/kg; 2,6 - 8,3 mg/kg và 7,3 - 8,1mg/kg.
Hàm lượng Pb trong bùn thải biến động từ 50 – 3.000 mg/kg, phân lân từ 7 – 225
mg/kg và từ 20 – 1.250 mg/kg, phân đạm từ 2 – 27 mg/kg, phân chuồng từ 6,6 – 15
mg/kg và thuốc bảo vệ thực vật là 60 mg/kg.
• Hoạt động công nghiệp
Các chất thải chứa kim loại đặc biệt là KLN thường tập trung ở các khu vực khai
thác mỏ, các khu công nghiệp và đô thị, các làng tái chế kim loại… Hầu hết chất thải
của các ngành công nghiệp như: mạ, chế biến kim loại màu, pin, khai khoáng, xăng
dầu, nhuộm… đổ ra môi trường đều không qua xử lý hoặc xử lý không triệt để đã gây
ra hậu quả ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sống. Việc di chuyển của các kim loại
này vào đất và tích luỹ dần ở đó sẽ gây ô nhiễm môi trường đất, từ đó sẽ gây hại tới
sinh vật và con người thông qua chuỗi thức ăn.
Các nguyên tố KLN như: Cu, Pb, Zn, Cd, Cr... thường chứa trong phế thải của
ngành luyện kim màu, sản xuất ôtô. Khi nước thải chứa 13 mg Cu/l, 10 mg Pb/l, 1 mg
Zn/l đã gây sự ô nhiễm đất nghiêm trọng. Hàm lượng Cd trong đất Thụy Sỹ có thể lên
16
tới 3 mg/kg trong vòng 20 - 30 năm tới. Tính di động gây độc của các KLN còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như: sự thay đổi điện thế ôxy hoá khử, pH, số lượng muối và
các phức chất... có khả năng hoà tan những KLN đó ở trong đất.
1.1.2 Tình hình đất ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới
Ở Ấn Độ, nồng độ các chất như Pb, Cd và Hg cao bất thường, được phát hiện ở
nhiều lạch sông Thane thuộc bờ biển thành phố Bom Bay, các trạm quan trắc ngoài
khơi cũng được báo cáo có chứa Pb với hàm lượng đáng kể.
Ở Pakistan, người ta cũng đã phát hiện thấy nồng độ đáng kể các KLN trong
nước và các cặn lắng ở vùng ven bờ khu vực sông Indus.
Nghiên cứu của Kabata và Henryk (1985) cho thấy: ở Anh, hàm lượng Cd lớp đất
[I.3]
khi
nghiên cứu hàm lượng Cu, Zn, Ni (tổng số và di động) trong đất nông nghiệp của
huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cũng cho thấy: Hàm lượng tổng số của Cu dao động
từ 21,85 - 149,34 mg/kg, Zn từ 59,45 - 188,65mg/kg, Ni từ 27,38 - 55,71mg/kg. Trong
15 mẫu đất nghiên cứu đã có 2 mẫu bị ô nhiễm Cu. [II.1]
Theo Lê Đức và cs (2000)[I.4], Lê Văn Khoa và cộng sự (2000)[1.9], một số mẫu đất
ở làng nghề tái chế chì ở Chỉ Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên có hàm lượng Cu là 43,68 69,68mg/kg, Pb: 147,06 - 661,2mg/kg và Zn: 23,6 - 42,3mg/kg (thuộc loại đất có hàm
lượng Zn di động cao)
Theo tài liệu thu thập được, tác giả Phạm Quang Hà (2002) [I.10] đã nghiên cứu về
đất nông nghiệp ở làng nghề đúc nhôm, chì Văn Môn và đã có kết luận như sau: Hàm
lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp của làng nghề này khá cao, trung bình hàm
lượng Cu là 41,1mg/kg (dao động từ 20,0 - 216,7mg/kg); Pb là 39,7mg/kg (dao động
từ 20,1 - 143mg/kg); Zn là 11,3mg/kg (dao động từ 33,7 - 887,4mg/kg). Theo thông
báo của Ngân hàng thế giới, 10 tỉnh thành phố có tỉ lệ ô nhiễm kim loại nặng cao nhất
Việt Nam là: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Thái Nguyên, Phú Thọ,
Đà Nẵng, Bà Rịa - Vũng Tàu và Cần Thơ. Trong đó chọn ra 10 xã của mỗi tỉnh có tỷ lệ
ô nhiễm cao nhất với ba loại hình: ô nhiễm đất, nước và không khí. Tại Hà Nội, ô
nhiễm đất chiếm 46,9 % KLN của vùng công nghiệp trọng điểm phía Bắc. Trong khi
đó tai TP Hồ Chí Minh, ô nhiễm đất chiếm 57,2 % hoá chất, 52,5 % kim loại của tổng
lượng các chất gây ô nhiễm của toàn vùng công nghiệp trọng điểm phía Nam. Đất
nông nghiệp ở nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề từ ô nhiễm kim loại nặng do chất thải
từ các khu công nghiệp, làng nghề, phân bón hóa học tích trữ qua nhiều năm
Như vậy, tình hình ô nhiễm môi trường nói chung, ô nhiễm môi trường đất do
kim loại nặng gây nên nói riêng đang đặt lên một thách thức đối với môi trường Việt
Nam cũng như trên toàn thế giới trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước
KHTN TPHCM đã thử nghiệm với 15 loài thực vật như cỏ màn trầu, rau muống, ngũ
sắc... trên đất bị nhiễm chì. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, cây hoa ngũ sắc có khả
năng hấp thụ tức khắc chì vào rễ. Mức độ chịu chì của cây rất cao, có thể sống trong
điều kiện đất nhiễm chì ở mức 10.000 - 20.000 ppm (10 - 20 mg/lít).[III.1]
•
Cây cải xanh
Nhóm nghiên cứu Lê Đức, Nguyễn Xuân Huân và cộng sự (2005) khi nghiên
cứu về khả năng chống chịu kim loại nặng của cây cải xanh Brassica Juncea cho thấy,
nồng độ ô nhiễm Chì trong đất từ 1300 ppm trở lên mới bắt đầu có ảnh hưởng tới sinh
trưởng của cây cải xanh. [I.5]
•
Cây dương xỉ
Nghiên cứu khả năng chống chịu và tích lũy As của hai loài dương xỉ thu từ vùng
khai thác mở Thái Nguyên, Bùi Thị Kim Anh, Đặng Đình Kim và công sự cho thấy,
trong khoảng nồng độ mà cây chống chịu được, Pteris vittata tích lũy lượng As từ 307
– 6042 ppm trong thân và rễ là 131 – 3756 ppm. Loài Pitygramma calomelanos tích
19
lũy được lượng As trong thân, lá và trong rễ tương ứng là 885 – 4034 ppm và 483 –
2256 ppm [I.2]
1.3
Giới thiệu tổng quan về cỏ Vetiver
triển của cỏ. Tuy nhiên, cỏ có thể sống trong điều kiện thời tiết biến động như hạn hán
kéo dài, lũ lụt, ngập úng.
Cỏ Vetiver là loài thực vật ưa sáng nên môi trường trồng cỏ yêu cầu phải là nơi
có lượng ánh sáng tự nhiên lớn. Nếu phải sinh sống trong môi trường bóng râm, thiếu
ánh sáng thì cỏ phát triển rất chậm hoặc bị chết. Ngoài ra, đối với yếu tố độ ẩm thì cỏ
Vetiver có thể sinh sống trong các điều kiện độ ẩm khác nhau bởi khả năng chống chọi
với hạn hán cao và có thể chịu được ngập úng trong 45 ngày ngay trong luồng nước
0.6 – 0.8m. Nhưng lượng mưa thích hợp nhất đối với sự phát triển của cỏ là trung bình
khoảng 300 – 700mm.
Cỏ phát triển tốt nhất trên đất cát, tuy nhiên cỏ cũng có thể sống trên nhiều loại
đất khác như đất cát vụn, đất cát pha sét hay đất bazan. Và khả năng chống chọi với
môi trường thiếu dinh dưỡng của cỏ cũng rất cao giống như khả năng thích ứng với
các điều kiện thời tiết bất lợi.
Nhờ những đặc tính ưu việt trên mà cỏ Vetiver có khả năng sống thích nghi với
điều kiện tự nhiên ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, có thể phân bố rộng rãi ở nhiều
khu vực. Nhưng có thể thấy môi trường thích hợp nhất đối với sự sinh trưởng của có
đó là vùng đất trống, có điều kiện thoát nước tốt.
1.3.2. Các ứng dụng khác của cỏ Vetiver
Từ rễ của loài cỏ Vetiver, qua chưng cất sẽ lấy tinh dầu được dùng làm dầu thơm
và hương liệu trong xà bông thơm. Giá bán trên thị trường thế giới khá cao, khoảng
135 USD/kg tinh dầu cỏ vetiver.
21
Lá cỏ vetiver dùng làm thức ăn cho gia súc, là nguồn giá trị dinh dưỡng ngang
giữa cỏ Napier và bắp tươi sấy. Lợp mái nhà, sử dụng như nguyên liệu làm giấy, làm
dây thừng, chiếu, nón, giỏ xách ... Khi phần ngọn cỏ vetiver thuần thục đạt 52%, có
thể dùng làm thức ăn cho bò sữa, ngựa, dê và nhiều loại động vật khác do tính chất dễ
tiêu hóa. Ngoài ra, người ta còn dùng cỏ vetiver để lót ổ rơm cho gia súc.
các mỏ bôxit và đồng và một nhà máy lọc nhôm ở phía bắc Australia [II.4]
Một nhóm nghiên cứu của Đại học Chulalongkorn, Bangkok, Thái Lan đã nghiên
cứu hiệu quả xử lý Arsen khỏi đất bằng cỏ Vetiver, được gọi là công nghệ
Phytoremediation với 3 mô hình sinh thái: Nash (Surat Thani), V.nemoralis (Blansa)
và A.Camus (Prachuabkirikhan). Nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết vấn đề ô
nhiễm Arsen ở các khu làng ở tỉnh Nakhon Sri Thammarat, phía nam Thái Lan với
dấu hiệu có rất nhiều người dân bị đau ốm và mắc ung thư do nhiễm Arsen. Các thí
nghiệm được tiến hành song song với mẫu trồng đối chứng để so sánh sự phát triển
sinh trưởng của cỏ trong môi trường thí nghiệm và thực tế. Và đồng thời cũng so sánh
khả năng hấp thụ của cỏ trong các mô hình sinh thái. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
hiệu quả loại bỏ arsen của cả hai loài đều tăng lên tỉ lệ thuận với thời gian tiếp xúc.
Hiệu quả cao nhất của V. zizanioides (Linn. Nash) là 0,05% sau 90 ngày với nồng độ là
75 mg As/kg trọng lượng khô của đất, và hiệu quả cao nhất của V. nemoralis (Balansa)
A. Camus là 0,04%, sau 90 ngày với nồng độ là 125 mg As/kg trọng lượng khô của
đất. [II.5]
Ở Việt Nam, việc sử dụng công nghệ cỏ cỏ Vetiver hiện đang rất được quan tâm
đến để ổn định hệ thống đê sông Hồng rộng lớn, được xây dựng qua nhiều thế kỷ để
bảo vệ đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam khỏi lũ lụt hàng năm. Vùng đồng
bằng này hiện đang được bảo vệ bởi 5 000 km đê, 20% trong số đó bị hư hỏng hàng
năm vào mùa mưa, làm cho 1.000 km đê cần được sửa chữa mỗi năm. [II.4]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước của Thạc sũ Lương Thị Thúy Vân, Đại
học Nông lâm Thái Nguyên, nghiên cứu khả năng xử lý ô nhiễm kim loại nặng của cỏ
Vetiver ứng dụng thực tế tại khu ruộng bị ô nhiễm dưới 2 khu khái thác kim loại tại
Thái Nguyên là khu vực khai thác thiếc (xã Hà Thượng, huyện Đại Từ) và khu vực
khai thác chì – kẽm (xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ). Sau thời gian trồng thí nghiệm 3
năm tại khu vực thử nghiệm, tính chất đất ô nhiễm Pb và ô nhiễm As tại 2 khu vực trên
đã cải thiện rõ rệt. Các chỉ số pH đất, hàm lượng N, K 2O, mùn đều tăng so với ban
đầu, hàm lượng As giảm từ 1536,2 mg/kg xuống 1412.5 mg/kg, hàm lượng Pb giảm từ
1137.17 mg/kg xuống 1054.26 mg/kg. [I.8]
23
hấp thụ chì bởi thực vật phụ thuộc vào hàm lượng chì trong đất, loại cây, tình trạng
phát triển của cây và 1 số yếu tố khác. Ví dụ, cây lúa mạch rất nhạy cảm với Pb. Chì
đã được chứng minh là ức chế sự nảy mầm của hạt bằng cách ức chế sự phát triển
chung và sự kéo dài của gốc. Tuy nhiên tác động ức chế sự nảy mầm của Pb không
nghiêm trọng như các kim loại khác. Trong một nghiên cứu sự ảnh hưởng của Cr, Cd,
Hg, Pb và As đối với sự nảy mầm của hạt mù tạt (Sinapis alba), Fargasova1 chỉ ra rằng
sau 72 giờ kim loại độc hại nhất cho sự nảy mầm là As 5+, trong khi ít độc hại nhất là
Pb2+.
Theo Koeppe (1993), trong điều kiện cây phát triển mạnh, chì được hấp thụ
mạnh và một phần kết tủa trên thành tế bào rễ ở một dạng không tan, không kết tinh, ở
24
cây bắp giống như dạng phosphate chì. Ngoài ra, còn có sự vận chuyển lên chồi cây,
mặc dù lượng này khá nhỏ, chỉ khoảng 3,5 tới 22,7% lượng chì hấp thụ sau 7 ngày.
Điều này có thể giải thích nguyên nhân nồng độ Pb trong rễ cao hơn và có thể giải
thích nồng độ chì là thấp trên hạt mù tạt. Quá trình vận chuyển Pb trong thực vật sau
khi hấp thụ có thể làm giảm sự phân chia tế bào, ngay cả ở nồng độ rất thấp. Koeppe
và Miller cho rằng Pb ức chế vận chuyển electron trong ty thể ngô, đặc biệt khi có
phosphate. [II.3]
•
Độc tính của chì đối với động vật
Động vật còn non được chứng minh là dễ bị ngộ độc Pb hơn động vật trưởng
thành. Ví dụ, chuột ở giai đoạn tăng trưởng tích tụ thêm Pb trong xương của chúng so
với những con chuột trưởng thành, và những con chuột một tuần tuổi hấp thụ Pb qua
đường ruột của chúng dễ dàng hơn chuột trưởng thành. Trong các hệ thống thủy sinh,
pH nước là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới độc tính của Pb. Khi trứng và ấu